1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm lâm sàng và điện sinh lý của hội chứng ống cổ tay

5 75 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 405,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu với mục tiêu nhằm khảo sát đặc điểm lâm sàng và điện sinh lý của hội chứng ống cổ tay. Nghiên cứu tiến hành trên 67 bệnh nhân được chẩn đoán xác định hội chứng ống cổ tay được đưa vào nghiên cứu. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ ĐIỆN SINH LÝ   CỦA HỘI CHỨNG ỐNG CỔ TAY 

Phan Xuân Nam*, Nguyễn Thị Phương Nga* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: khảo sát đặc điểm lâm sàng và điện sinh lý của hội chứng ống cổ tay. 

Phương pháp nghiên cứu: cắt ngang mô tả. 67 bệnh nhân được chẩn đoán xác định hội chứng ống cổ tay 

được đưa vào nghiên cứu. 

Kết quả: Hội chứng ống cổ tay thường gặp ở tuổi trung niên, nữ mắc bệnh nhiều hơn nam, và thường bị cả 

hai bàn tay. Các triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là rối loạn cảm giác bao gồm tê (100%), tê ban đêm  (94,0%), tê khi chạy xe (76,1%), đau bàn tay (70,1%). Hiệu số thời gian tiềm cảm giác của dây giữa so với dây  trụ (dương tính 95,7%) và hiệu số thời gian tiềm vận động ngoại biên của dây giữa so với dây trụ (dương tính  94,0%) là các thông số điện sinh lý nhạy cảm nhất. 

Kết luận: Dị cảm da theo vùng phân bố của thần kinh giữa là các triệu chứng nhạy cảm nhất giúp nghĩ đến 

hội chứng ống cổ tay. Việc khảo sát đầy đủ các thông số của chẩn đoán điện của thần kinh giữa và thần kinh trụ 

là cần thiết để có được chẩn đoán sớm. 

Từ khóa: hội chứng ống cổ tay, điện sinh lý 

ABSTRACT 

CLINICAL AND ELECTROPHYSIOLOGIC FEATURES OF CARPAL TUNNEL SYNDROME 

Phan Xuan Nam, Nguyen Thi Phuong Nga 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3‐ 2013: 80 ‐ 84 

Objective: The aim of this study was to evaluate clinical and electrophysiologic features of carpal tunnel 

syndrome (CTS). 

Methods: 67 patients with a diagnosis of CTS were included in the study. All patients underwent clinical 

interview, physical examination and electrodiagnostic examination  to  determine  clinical  and  electrophysiologic 

features of CTS. 

Results: CTS was a condition of middle‐aged individuals, affects females more often than males. Both hands 

were usually involved (74.6% patients). The most common symptoms were sensory disorders in the distribution 

of median nerve distal to wrist such as paraesthesia (100%), noctural paraesthesia (94.0%), driving paraesthesia  (76.1%), burning pain (70.1%). Two most sensitive electrodiagnostic parameters were the difference between the  median and ulnar sensory  latencies  (95.7%)  and  the  difference  between  the  median  and  ulnar  motor  latencies  (94.0%). 

Conclusion: CTS should be suspected in any patient with paraesthesia in the distribution of median nerve 

distal  to  wrist.  Nerve  conduction  studies  should  include  sufficient  measurements  of  median  and  ulnar  conductions to get early diagnosis. 

Key words: carpal tunnel syndrome, electrophysiologic features 

* Bệnh viện Thống Nhất TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: BSCKII Nguyễn Thị Phương Nga, ĐT: 0908190633, Email: drngatk70@yahoo.com  

Trang 2

Hội  chứng  ống  cổ  tay  (Carpal  tunnel 

syndrome)  là  một  trong  những  bệnh  lý  thần 

kinh  do  chèn  ép  thường  gặp  nhất  ở  chi  trên, 

chiếm  90%  các  bệnh  thần  kinh  do  chèn  ép. 

Nguyên nhân là do dây thần kinh giữa bị chèn 

ép trong đường hầm (ống) cổ tay. Triệu chứng 

kinh điển gồm đau về đêm kèm tê vùng phân 

bố  của  thần  kinh  giữa  ở  bàn  tay.  Tiêu  chuẩn 

vàng để chẩn đoán là các khảo sát dẫn truyền 

thần kinh(2). 

Sự phát triển của kỹ thuật chẩn đoán điện 

sinh  lý  thần  kinh  cơ  (điện  cơ)  làm  cho  việc 

chẩn đoán dễ dàng và chính xác. Tuy nhiên, có 

rất ít nghiên cứu trong nước về hội chứng này 

về  đặc  điểm  lâm  sàng,  điện  sinh  lý.  Do  đó 

chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm các 

mục tiêu sau: 

1. Đặc điểm lâm sàng của hội chứng OCT. 

2. Đặc điểm điện sinh lý của hội chứng OCT. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu 

Tiêu chuẩn chọn bệnh 

Các bệnh nhân được chẩn đoán xác định hội 

chứng ống cổ tay dựa vào lâm sàng và dấu hiệu 

điện sinh lý bất thường phù hợp. 

Tiêu chuẩn loại trừ 

Những bàn tay không khảo sát được đầy đủ 

các thông số cần thiết. 

Có tổn thương dây thần kinh giữa ngoài khu 

vực ống cổ tay. 

Có biểu hiện tổn thương dây thần kinh trụ. 

Có  tiền  căn  phẫu  thuật  điều  trị  hội  chứng 

ống cổ tay. 

Phương pháp nghiên cứu 

Thiết kế nghiên cứu 

Cắt ngang mô tả 

Mẫu 

Các  bệnh  nhân  được  chẩn  đoán  hội  chứng 

ống cổ tay tại phòng điện cơ khoa Nội thần kinh 

BV  Thống  Nhất  từ  tháng  3/2012  đến  tháng  9/2012. Tổng cộng 67 trường hợp. 

Thu thập dữ liệu 

Hội chứng ống cổ tay được chẩn đoán khi 

có ít nhất 1 triệu chứng lâm sàng kết hợp với 1  triệu  chứng  điện  sinh  lý  bất  thường  theo  tiêu  chuẩn của Hội điện cơ Hoa kỳ 1997 (American  Association  of  Electrodiagnostic  Medicine). 

Các  thông  số  dẫn  truyền  thần  kinh  giữa  bất  thường khi vượt quá ngưỡng 95% giá trị bình  thường theo thống kê của tác giả Nguyễn Hữu  Công 1997(10). 

Các biến số khác: tuổi, giới, triệu chứng lâm  sàng, đặc điểm điện sinh lý, mức độ nặng (tiêu  chuẩn của Hội điện cơ Hoa kỳ 1997)(9). 

Xử lý và phân tích dữ liệu 

Dữ liệu được xử lý và phân tích bằng phần  mềm  SPSS  11.5.  Mức  p  có  ý  nghĩa  là  <  0,05. 

Khoảng  tin  cậy  95%  được  xem  là  có  ý  nghĩa  thống kê khi không chứa 1. 

KẾT QUẢ 

Mẫu nghiên cứu gồm 67 bệnh nhân. Một số  bệnh nhân có biểu hiện bệnh lý ở cả hai tay nên  được khảo sát cả hai tay. Tổng cộng có 124 bàn  tay  được  khảo  sát,  trong  đó  có  64  bàn  tay  phải 

và 60 bàn tay trái. Số bàn tay mắc hội chứng ống 

cổ tay là 117 bàn tay. 

Tuổi  trung  bình  là  52.2  ±  12,2,  thấp  nhất  là 

23, cao nhất là 79. 

Nữ mắc bệnh nhiều hơn nam. Nữ chiếm tỷ 

lệ  79.1%  (53/67  bệnh  nhân),  nam  giới  20.9% 

(14/67 bệnh nhân). Tỉ lệ nữ/nam là 3.8/1. 

Các  triệu  chứng  lâm  sàng  thường  gặp  nhất 

là  rối  loạn  cảm  giác  bao  gồm  tê  (100%),  tê  ban  đêm (94,0%), tê khi chạy xe (76,1%), đau bàn tay  (70,1%) (bảng 1). 

Bảng 1. Đặc điểm lâm sàng của hội chứng ống cổ tay  

Triệu chứng lâm sàng Tỷ lệ (n = 67) Tỉ lệ %

Tê ban đêm 63 94,0

Tê khi chạy xe 51 76,1 Đau bàn tay 47 70,1 Đau cổ tay 03 4,5

Trang 3

Triệu chứng lâm sàng Tỷ lệ (n = 67) Tỉ lệ %

Teo cơ mô cái 04 6,0

Dấu Tinel (+) 12 17,9

Dấu Phalen (+) 12 17,9

Tỷ lệ bất thường điện sinh lý theo thứ tự là 

bất thường hiệu số thời gian tiềm cảm giác giữa‐

trụ  (95,7%),  bất  thường  hiệu  số  thời  gian  tiềm 

vận  động  giữa  2  dây  giữa‐trụ  (94,0%),  bất 

thường  thời  gian  tiềm  vận  động  ngoại  vi  dây 

giữa  (80,3%)  và  bất  thường  thời  gian  tiềm  cảm 

giác dây giữa (79,5%) (bảng 2). 

Trong 67 bệnh nhân, 74,6% bị hội chứng ống 

cổ  tay  hai  bên,  25,4%  bị  một  bên.  Trong  25,4% 

bệnh  nhân  bị  một  bên  thì  tỷ  lệ  bệnh  nhân  mắc 

bệnh  tay  phải  cao  hơn  tay  trái  (17,9%  so  với 

7,5%) (bảng 3). 

Trong  117  bàn  tay  mắc  bệnh  thì  tỷ  lệ  tổn 

thương  tay  phải  cao  hơn  tay  trái  (lần  lượt  là 

53,0%  và  47,0%)  (bảng  4)  và  tỷ  lệ  bàn  tay  mắc 

bệnh mức độ nặng khá cao (48,8%) (bảng 5). 

Bảng 2. Các bất thường điện sinh lý của hội chứng 

ống cổ tay  

Các bất thường điện sinh lý (n = 117) suất Tần Tỉ lệ %

Bất thường thời gian tiềm vận động

ngoại vi dây giữa (≥ 4,1 ms)* 94 80,3

Bất thường thời gian tiềm cảm giác dây

giữa (≥ 3,2 ms) g 93 79,5

Bất thường hiệu số thời gian tiềm vận

động giữa-trụ (≥ 1,20) 110 94,0

Bất thường hiệu số thời gian tiềm cảm

giác giữa-trụ (≥ 0,79) 115 95,7

Giảm biên độ hoặc mất sóng vận động

dây giữa 29 24,8

Giảm biên độ hoặc mất sóng cảm giác

dây giữa 86 73,5

Các trường hợp mất sóng vận động dây giữa 

được tính là bất thường 

Các trường hợp mất sóng cảm giác dây giữa 

được tính là bất thường 

Bảng 3. Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh một bên và hai 

bên  

Bệnh nhân

(n = 67) Tay phải Tay trái Hai bên

Tổng cộng

Tần suất 12 5 50 67

Tỷ lệ % 17,9 7,5 74,6 100

Bảng 4. Tỷ lệ bàn tay mắc bệnh  

Bàn tay (n = 117) Tay phải Tay trái Tổng cộng

Tần suất 62 55 117

Tỷ lệ % 53,0 47,0 100

Bảng 5. Mức độ tổn thương  

Mức độ (n = 117) Nhẹ

Trung bình Nặng

Tổng cộng

Tần suất 30 30 57 117

Tỷ lệ % 25,6 25,6 48,8 100

BÀN LUẬN 

Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  tuổi  mắc  bệnh  trung  bình  là  52.2  ±  12,2,  thấp  nhất  là  23,  cao nhất là 79. Tuổi trung bình trong nghiên cứu  của Phan Hồng Minh (2008) là 46(8); Nguyễn Lê  Trung Hiếu (2002)  là  47,4(6);  Võ  Thị  Hiền  Hạnh  (1997)  là  44(10);  Stevens  J.  C.  là  51  ở  nữ  và  50  ở  nam. Như vậy, hội chứng ống cổ tay thường gặp 

ở tuổi trung niên. 

Nữ  mắc  bệnh  nhiều  hơn  nam  (nữ  79.1%,  nam 20.9%). Kết quả này phù hợp với ghi nhận  của  hầu  hết  các  nghiên  cứu  trước  đây  của de  Krom M. C. và cs (1992), Atroshi I. và cs (1999),  Stevens J. C (1988)(7,), Phan Hồng Minh (2008)(8);  Nguyễn Lê Trung Hiếu (2002)(6). 

Các  triệu  chứng  lâm  sàng  thường  gặp  nhất 

là rối loạn cảm giác, trong đó 2 triệu chứng có độ  nhạy  cao  nhất  là  tê  (100%)  và  tê  ban  đêm  (94,0%). Triệu chứng tê trong hội chứng ống cổ  tay được định nghĩa là dị cảm (tê, đau rát, cảm  giác  như  kim  châm)  ở  vùng  da  thuộc  chi  phối  của dây thần kinh giữa gồm ngón 1, 2, 3 và nửa  ngón 4 của bàn tay. Các triệu chứng cảm giác là  các  triệu  chứng  nhạy  cảm  nhất  giúp  nghĩ  đến  hội  chứng  ống  cổ  tay.  Triệu  chứng  tê  có  tỷ  lệ  95,7%  theo  Kendall  W.  và  cs  (1988);  92,5%  theo  Nora  D.  B.  (2004)(2,8).  Dị  cảm  bàn  tay  là  triệu  chứng sớm và thường gặp nhất (tỷ lệ 72.7% ở độ 

1, gần 100% ở độ 2 và 3) theo Nguyễn Lê Trung  Hiếu (2002)(6). Thức dậy ban đêm vì tê và đau là  cũng  một  trong  những  dấu  hiệu  hay  gặp  nhất,  chiếm  tỷ  lệ  94,0%  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  51%‐  77%  theo  Katz  J.  N.  và  cs  (2002)(4).  Aroori S. và cs (2008) nhận thấy dị cảm về đêm 

Trang 4

có  độ  nhạy  cao  nhất  trong  các  triệu  chứng  lâm 

sàng (51% ‐ 91%)(2). Tê khi tỳ đè (ví dụ như khi 

chạy  xe  máy)  cũng  thường  gặp,  chiếm  76,1% 

trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  55,56%  trong 

nghiên cứu của Phan Hồng Minh (2008)(8). 

Yếu  cơ  và  teo  cơ  ô  mô  cái  ít  gặp  và  là  biểu 

hiện  muộn  khi  tổn  thương  dây  thần  kinh  giữa 

nhiều và lâu dài(2). Tỷ lệ yếu cơ và teo cơ mô cái 

của chúng tôi lần lượt là 1,5% và 6,0%; của Phan 

Hồng Minh là 3,70% và 1,85%(8). Nguyên nhân là 

do  sự  chèn  ép  ảnh  hưởng  trước  tiên  lên  bao 

myelin  sau  một  thời  gian  mới  ảnh  hưởng  đến 

sợi trục gây teo cơ. 

Chúng tôi chỉ đề cập hai nghiệm pháp kinh 

điển hỗ trợ chẩn đoán là Tinel và Phalen với tỷ 

lệ dương tính đều là 17.9%. Tỷ lệ dương tính của 

nghiệm  pháp  Tinel  và  Phalen  theo  Nguyễn  Lê 

Trung Hiếu (2002) lần lượt là 55,7% và 36,1%. Tỷ 

lệ  dương  tính  của  nghiệm  pháp  Tinel  theo 

Nguyễn  Hữu  Công  (1997)  là  34,8%(6,8,10).  Dấu 

Tinel  và  Phalen  có  nhiều  yếu  tố  ảnh  hưởng,  có 

độ  nhạy  thấp  và  rất  thay  đổi  theo  các  nghiên 

cứu. Theo một tổng quan gần đây, dấu Tinel có 

độ nhạy 8% ‐ 100%, dấu Phalen có độ nhạy 10% 

‐  73%(6).  Các  nghiệm  pháp  này  cũng  có  độ  đặc 

hiệu không cao (55% ‐ 88% đối với nghiệm pháp 

Phalen  và  55%  ‐  87%  đối  với  nghiệm  pháp 

Tinel(3)).  Do  đó  các  nghiệm  pháp  này  âm  tính 

không loại trừ chẩn đoán, và dương tính không 

quyết định chẩn đoán. 

Trong 117 bàn tay mắc hội chứng ống cổ tay, 

tỷ lệ bất thường điện sinh lý theo thứ tự là hiệu 

số thời gian tiềm cảm giác giữa‐trụ (95,7%), hiệu 

số thời gian tiềm vận động giữa 2 dây giữa‐trụ 

(94,0%),  thời  gian  tiềm  vận  động  ngoại  vi  dây 

giữa (80,3%) và thời gian tiềm cảm giác dây giữa 

(79,5%). 

Các tác giả đều nhận thấy các thông số cảm 

giác của thần kinh giữa bị ảnh hưởng sớm hơn 

nhiều so với các thông số vận động(2). Người ta 

cho  rằng  thời  gian  tiềm  cảm  giác  là  thông  số 

nhạy  cảm  nhất  trong  chẩn  đoán  bệnh  lý  này. 

Theo tác giả Nguyễn Hữu Công (1997) thì hiệu 

số giữa thời gian tiềm cảm giác của dây giữa (bị 

tổn  thương)  với  của  dây  trụ  (không  bị  tổn  thương)  là  một  thông  số  còn  nhạy  cảm  hơn(10).  Thật vậy, chúng tôi nhận thấy hiệu số thời gian  tiềm cảm giác giữa – trụ có tỷ lệ dương tính cao  nhất  (95,7%)  so  với  các  thông  số  khác.  Kết  quả  này phù hợp nhận định của các tác giả Nguyễn  Hữu Công 1997 (tỷ lệ này là 98,9%) (10) Murthy J.  M., 2007 (tỷ lệ này là 100%)(5); Nguyễn Lê Trung  Hiếu,  2002  (độ  nhạy  của  thông  số  này  là  93,34%)(6).  Phan  Hồng  Minh  (2008)  báo  cáo  thông  số  này  thường  gặp  hàng  thứ  hai  sau  bất  thường  thời  gian  tiềm  cảm  giác  dây  giữa  (62,96%  và  68,52%)(8).  Thông  số  nhạy  cảm  thứ  nhì là hiệu số thời gian tiềm vận động giữa – trụ  (tỷ lệ dương tính 94,0%). Kết quả của chúng tôi  tương đồng với kết quả của tác giả Nguyễn Hữu  Công  (tỷ  lệ  này  là  95,5%)  và  Nguyễn  Lê  Trung  Hiếu  (độ  nhạy  của  thông  số  này  là  91,80%)(6,10).  Như vậy, các tác giả thống nhất rằng mặc dù hội  chứng ống cổ tay chỉ gây tổn thương thần kinh  giữa nhưng nếu chỉ khảo sát dây giữa mà không  khảo  sát  thêm  dây  trụ  thì  sẽ  bỏ  sót  một  số  trường hợp bệnh lý(10). 

Theo  các  tác  giả,  dẫn  truyền  vận  động  thường  chỉ  bị  ảnh  hưởng  trong  những  trường  hợp  khá  nặng(2).  Chúng  tôi  nhận  thấy  tỷ  lệ  bất  thường của thời gian tiềm vận động và thời gian  tiềm cảm giác của dây giữa tương đương nhau  (80,3%  và  79,5%).  Nguyễn  Hữu  Công  (1997)  cũng  nhận  thấy  hai  thông  số  này  có  độ  nhạy  tương đương nhau (80% và 79%) và đứng hàng  thứ  3  và  4  sau  hiệu  số  thời  gian  tiềm  cảm  giác  giữa  –  trụ  và  hiệu  số  thời  gian  tiềm  vận  động  giữa – trụ(10). Theo Aminoff M. J. (1998), một số  người  có  đáp  ứng  cảm  giác  bình  thường  trong  khi  thời  gian  tiềm  vận  động  ngoại  vi  bị  ảnh  hưởng rõ(1). Chúng tôi nhận thấy có trường hợp  các  thông  số  cảm  giác  bình  thường  trong  khi  một số thông số vận động bất thường. 

Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  phần  lớn  bệnh  nhân  (74,6%)  bị  hội  chứng  ống  cổ  tay  hai  bên. Tỷ lệ mắc  2  tay  theo  Stevens  J.  C  (1988)  là  58%,  Phan  Hồng  Minh  (2008)  là  48,15%;  theo 

Trang 5

L. và cs (1998) là 87%(8,6,10). 

Chúng tôi nhận thấy trong 117 bàn tay mắc 

bệnh  thì  tỷ  lệ  tổn  thương  tay  phải  cao  hơn  tay 

trái  (lần  lượt  là  53,0%  và  47,0%).  Nguyễn  Lê 

Trung  Hiếu  (2002)  cũng  ghi  nhận  tỷ  lệ  tổn 

thương  bàn  tay  phải  cao  hơn  bàn  tay  trái  có  ý 

nghĩa  thống  kê (6);  Nguyễn  Hữu  Công  (1997) 

thấy  trong  tổng  số  89  bàn  tay  mắc  bệnh  có  51 

bàn tay phải và 38 bàn tay trái(10). Người ta cho 

rằng tay phải thường là tay thuận nên chịu đựng 

sức nặng, tác động rung và hoạt động gấp duỗi 

cổ tay nhiều hơn, vốn là các yếu tố nguy cơ của 

bệnh, nên dễ mắc bệnh hơn. 

Chúng tôi nhận thấy tỷ lệ bàn tay mắc bệnh 

mức  độ  nặng  khá  cao  (48,8%).  Ở  mức  độ  này, 

trên lâm sàng thường có teo cơ mô cái và giảm 

cảm giác vùng phân bố của thần kinh giữa. Bàn 

tay có mức độ tổn thương nặng có chỉ định phẫu 

thuật trong khi  có  thể  điều  trị  nội  khoa  với  các 

mức độ tổn thương nhẹ hơn. Điều này có thể do 

bệnh mới được đề cập trong khoảng 15 năm gần 

đây từ khi phát triển kỹ thuật điện cơ giúp chẩn 

đoán  xác  định;  từ  đó  dẫn  đến  nhận  thức  của 

người  dân  chưa  cao  về  bệnh;  một  tỷ  lệ  không 

nhỏ các bác sĩ không nghĩ đến bệnh này để cho 

chỉ định khảo sát điện cơ trước một bệnh nhân 

than phiền tê bàn tay. 

KẾT LUẬN 

Chúng  tôi  đã  khảo  sát  124  bàn  tay  của  67 

bệnh  nhân  mắc  hội  chứng  ống  cổ  tay  và  rút  ra 

một số kết luận sau: 

1.  Hội  chứng  ống  cổ  tay  thường  gặp  ở  tuổi 

trung  niên,  nữ  mắc  bệnh  nhiều  hơn  nam,  và 

thường bị cả hai bàn tay. 

2.  Các  triệu  chứng  lâm  sàng  thường  gặp  nhất và sớm nhất là rối loạn cảm giác bao gồm 

tê, tê ban đêm, tê khi chạy xe, đau bàn tay. 

3. Hiệu số thời gian tiềm cảm giác của dây  giữa so với dây trụ là thông số nhạy cảm nhất  (tỷ  lệ  dương  tính  95,7%),  và  hiệu  số  thời  gian  tiềm vận động ngoại biên của dây giữa so với  dây  trụ  là  thông  số  nhạy  cảm  thừ  nhì  (tỷ  lệ  dương tính 94,0%). 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Aminoff  MJ  (1998).  Median  Neurophathies.  In 

Electromyography  in  Clinical  Practice,  3rd   editon,  Churchill  Livingston, USA, p399‐418. 

2 Aroori  S,  Spence  RAJ  et  al  (2008).  Carpal  tunnel  syndrome. 

Ulster Med J; 77 (1) 6‐17 

3 Bland JDP (2007). Carpal tunnel syndrome. BMJ ;335:343‐6 

4 Katz JN, Simmon BP (2002). Carpal tunnel syndrome. NEJM; 

346:1807‐ 1812. 

5 Murthy  JM,  Meena  AK  (1999).  Carpal  tunnel  syndrome  ‐  electrodiagnostic  aspects  of  fifty  seven  symptomatic  hands. 

Neurol India. 1999 Dec;47(4):272‐5 

6 Nguyễn  Lê  Trung  Hiếu  (2002).  Khảo  sát  điện  sinh  lý  thần 

kinh cơ và lâm sàng trong hội chứng ống cổ tay. Y học thành 

phố Hồ Chí Minh; Tập 7, Phụ bản Số 1:95‐101 

7 Palmer  KT  (2011).  Carpal  tunnel  syndrome:  The  role  of 

occupational factors. Best Pract Res Clin Rheumatol. February ; 

25(1): 15–29. 

8 Phan Hồng Minh (2008). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và 

điện  sinh  lý  của  hội  chứng  ống  cổ  tay.  Tài liệu khoa học, sinh 

hoạt khoa học kỹ thuật lần 2, Hội Thần kinh khu vực Hà Nội:16‐21 

9 Stevens  JC  (1997).  AAEM  Minimonograph  #26:  The 

electrodiagnosis  of  carpal  tunnel  syndrome.  Muscle & Nerve, 

p1877‐1486. 

10 Võ Thị Hiền Hạnh, Nguyễn Hữu Công (1997). Hội chứng ống 

cổ  tay:  Một  số  tiêu  chuẩn  chẩn  đoán  điện.  Tài liệu khoa học, 

sinh hoạt khoa học kỹ thuật lần 2, Hội Thần kinh khu vực thành phố 

Hồ Chí Minh:16‐21 

 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 23:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w