1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá hiệu quả, sự hài lòng của gây tê tủy sống và gây mê toàn diện sử dụng mặt nạ thanh quản trong phẫu thuật vô sinh nam

8 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 372,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu có mục tiêu nhằm xác định hiệu quả thông khí, tính ổn định huyết động và sự hài lòng của bệnh nhân gây mê toàn diện sử dụng mặt nạ thanh quản so với phương pháp gây tê tủy sống trong gây mê phẫu thuật vô sinh nam.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ, SỰ HÀI LÒNG CỦA GÂY TÊ TỦY SỐNG

VÀ GÂY MÊ TOÀN DIỆN SỬ DỤNG MẶT NẠ THANH QUẢN

TRONG PHẪU THUẬT VÔ SINH NAM

Trần Đỗ Anh Vũ*, Trần Thị Ngọc Phượng**, Nguyễn Thị Túy Phượng*, Nguyễn Văn Chinh*,

Nguyễn Văn Chừng*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Trong các trường hợp phẫu thuật điều trị vô sinh nam, đa số các bệnh nhân có tâm lý ngượng

ngùng, phần lớn yêu cầu được gây mê Phương pháp vô cảm thông dụng hiện nay là gây tê tủy sống, có nhiều bất lợi về mặt tâm lý người bệnh khi nằm trên bàn mổ để phẫu thuật trên vùng nhạy cảm

Với những ưu điểm về ổn định huyết động khi đặt và rút MNTQ, giảm được những biến chứng sau mổ cũng như đặt MNTQ không cần dãn cơ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu sử dụng mặt nạ thanh quản trong điều

trị vô sinh nam bệnh nhân phẫu thuật vùng bìu

Mục tiêu: Xác định hiệu quả thông khí, tính ổn định huyết động và sự hài lòng của bệnh nhân gây mê toàn

diện sử dụng mặt nạ thanh quản so với phương pháp gây tê tủy sống trong gây mê phẫu thuật vô sinh nam

Phương pháp nghiên cứu: Tiền cứu, so sánh - kiểm chứng lâm sàng 72 bệnh nhân bị vô sinh nam có ASA

1, 2, 3 được mổ chương trình để điều trị tình trạng vô sinh nam, chia thành hai nhóm: gây mê toàn diện sử dụng mặt nạ thanh quản (MNTQ) và gây tê tủy sống một cách ngẫu nhiên, chọn cỡ MNTQ số 3 hoặc 4; gây tê tủy sống với Bupivacaine heavy 0,5% 10 - 12 mg Thu thập các số liệu: mạch, huyết áp tâm thu (HATT), huyết áp tâm trương (HATTr), áp lực đường thở, SpO 2 và ETCO 2 , biến chứng trong và sau gây mê, gây tê

Kết quả: Các thông số về thông khí và huyết động trong gây mê giữa MNTQ và gây tê tủy sống: SpO 2 99,06 ± 0,71 % và 99,02 ± 0,39 %, (riêng nhóm MNTQ: ETCO 2 35,45 ± 1,52 mmHg, áp lực đường thở 15,53 ± 2,13 cmH 2 O); mạch và huyết áp ổn định trong cả 2 nhóm

Kết luận: Gây mê toàn diện với mặt nạ thanh quản, gây tê tủy sống với Bupivacaine; cả hai phương pháp

vô cảm đều hiệu quả và an toàn trong gây mê - phẫu thuật điều trị vô sinh nam, gây mê toàn diện ít ảnh hưởng huyết động, giảm được sự lo âu sợ hãi khi phẫu thuật và đa số bệnh nhân rất hài lòng với phương pháp vô cảm này, gây tê tủy sống thích hợp cho những trường hợp cần sự tỉnh táo trong khi phẫu thuật

Từ khóa: mặt nạ thanh quản, gây tê tủy sống, phẫu thuật vô sinh nam

ABSTRACT

THE EFFECT, SATISFACTION OF SPINAL ANESTHESIA AND GENERAL ANESTHESIA WITH

LARYNGEAL MASK AIRWAY FOR SURGERY OF MALE INFERTILITY

Tran Do Anh Vu, Tran Thi Ngoc Phuong, Nguyen Thi Tuy Phuong, Nguyen Van Chinh, Nguyen Van Chung * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 383 - 390

Background: In the case of surgical treatment of male infertility , the majority of patients with psychological embarrassment, most require general anesthesia Method of anesthesia is now commonly used spinal anesthesia ,

there are many disadvantages in terms of psychological patient lying on the operating table for surgery on

* Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh ** Bệnh viện Bình Dân, Tp HCM

Tác giả liên lạc: ThS.BS Trần Đỗ Anh Vũ ĐT: 0903 181 976 Email: trandoanhvu@gmail.com

Trang 2

sensitive areas With the advantages of hemodynamic stability when placing and withdrawal LMA , reduce postoperative complications as well as put LMA without muscle relaxants , we undertook research laryngeal mask use in the treatment of male infertility patients surgery of the scrotum

Objective: The purpose of our study to determine the effect of ventilation and the hemodynamic stability

when using laryngeal mask airway versus spinal anesthesia for surgery of male infertility

Methods: Prospective - comparative clinical study 72 patients, ASA physical status 1, 2 or 3, scheduled to

undergo for surgery of male infertility, were enrolled They were randomly divided into two groups: LMA (general anesthesia with laryngeal mask airway (LMA), used size N o 3 or N o 4) and spinal anesthesia (spinal anesthesia used Bupivacaine heavy 0.5% 10 – 12 mg) Data collection comprised of pulses, systolic blood pressure, diastolic blood pressure, airway pressure, SpO 2 and ETCO 2 , complications of the anesthesia

Results: The parameters about ventilation and hemodynamic responses during anaesthesia between LMA

and spinal anesthesia included SpO 2 were 99.06 ± 0.71% and 99.02 ± 0.39%, (group LMA: ETCO 2 were 35.45 ± 1.52 mmHg, airway pressure were 15.53 ± 2.13 cmH 2 O); pulses and blood pressure were stabilised between the two groups

Conclusion: The laryngeal mask airway is effective and safe for surgery of male infertility

Keywords: laryngeal mask airway, spinal anesthesia, surgery of male infertility

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong các trường hợp phẫu thuật điều trị vô

sinh nam, đa số các bệnh nhân có tâm lý ngượng

ngùng, phần lớn yêu cầu được gây mê Phương

pháp vô cảm thông dụng hiện nay là gây tê tủy

sống, có nhiều bất lợi về mặt tâm lý người bệnh

khi nằm trên bàn mổ để phẫu thuật trên vùng

nhạy cảm

Sử dụng mặt nạ thanh quản (MNTQ, LMA)

thay ống nội khí quản (NKQ) để gây mê là một

giải pháp giúp chúng tôi tránh được nhiều tai

biến do đặt ống NKQ khi phải tiến hành gây mê

cho bệnh nhân

Trong các trường hợp gây mê phẫu thuật

ngắn, nhiều khảo sát thừa nhận MNTQ có nhiều

ưu điểm hơn so với NKQ(7,8,10,13)

Sử dụng MNTQ trong gây mê giúp giảm

được nhu cầu thuốc mê, ít tác dụng phụ hơn

ống NKQ trong giai đoạn tỉnh mê, giảm nhu

cầu sử dụng giảm đau sau mổ, bệnh nhân hồi

phục sớm hơn

Với những ưu điểm về ổn định huyết động khi

đặt và rút MNTQ, giảm được những biến chứng

sau mổ cũng như đặt MNTQ không cần dãn cơ,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu sử dụng mặt nạ

thanh quản trong điều trị vô sinh nam bệnh nhân

phẫu thuật vùng bìu

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định tính an toàn của MNTQ trong gây

mê - phẫu thuật điều trị vô sinh nam

Xác định tính hiệu quả của MNTQ trong thông khí qua: áp lực thông khí, SpO2, ETCO2 Đánh giá mức độ hài lòng của bệnh nhân trong gây mê – phẫu thuật điều trị vô sinh nam

ĐỐ I TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Tất cả các bệnh nhân vô sinh nam được mổ chương trình để điều trị những bất thường về bệnh lý học gây ra vô sinh ở nam giới

Bệnh nhân có phân loại ASA 1, 2, 3

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân không đồng ý sử dụng mặt nạ thanh quản; gây tê dưới màng nhện

Bệnh nhân có chống chỉ định sử dụng mặt nạ thanh quản; gây tê dưới màng nhện

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu: tiền cứu, so sánh, kiểm chứng

Cỡ mẫu: 72 bệnh nhân chia thành hai nhóm

Trang 3

Nhóm I: 36 bệnh nhân được gây mê toàn diện

với mặt nạ thanh quản cổ điển hoặc Proseal

Nhóm II: 36 bệnh nhân được gây tê tủy sống

với thuốc tê Bupivacaine Heavy

Địa điểm và thời gian nghiên cứu: thu thập số

liệu tại khoa Phẫu thuật Gây mê Hồi sức bệnh

viện Bình Dân TP Hồ Chí Minh từ tháng 01/2009

đến tháng 7/2011

Phương pháp tiến hành

Chuẩn bị dụng cụ, trang thiết bị, thuốc gây

mê hồi sức trước cuộc mổ như một cuộc gây mê,

gây tê tủy sống thường quy, và MNTQ cổ điển

hoặc MNTQ Proseal số 3, 4

Tiền mê: Midazolam 2 mg + Fentanyl 1- 2

mcg/kg tiêm tĩnh mạch

Chia thành hai nhóm:

Nhóm gây mê toàn diện với MNTQ

Khởi mê: Propofol 1,5-2,5 mg/kg, cho nhóm

gây mê với MNTQ

Tiến hành đặt mặt nạ thanh quản

Duy trì mê: oxy và Isofurane (hoặc

Sevoflurane), Fentanyl và dãn cơ nếu cần

Nhóm gây tê tủy sống với thuốc tê

Bupivacaine tăng trọng

Gây tê tủy sống với vị thế người bệnh nằm

nghiêng, kim chọc dò số 25G (hoặc 27G), thuốc

Bupivacaine heavy 0,5% 10 – 12 mg

Thu thập các thông số: mạch, huyết áp trước

và sau khi đặt cũng như lúc rút mặt nạ thanh

quản hoặc gây tê tủy sống; SpO2, ETCO2, thời

gian đặt và rút MNTQ, thời gian thực hiện gây tê

tủy sống (tính từ lúc bắt đầu chọc dò tủy sống),

thể tích bơm bóng hơi mặt nạ thanh quản, thời

gian phẫu thuật, các tai biến, biến chứng trong và

sau phẫu thuật 24 giờ

Xử lý thống kê: sử dụng phần mềm SPSS 18.0

for Windows

KẾT QUẢ

Nghiên cứu 72 bệnh nhân được phẫu thuật

điều trị vô sinh nam dưới gây mê toàn diện với

MNTQ và gây tê tủy sống (GTTS) từ tháng

01/2009 đến tháng 7/2011 tại khoa Gây mê Hồi sức bệnh viện Bình Dân thành phố Hồ Chí Minh

đã thu được kết quả sau:

Đặc điểm chung bệnh nhân

Bảng 1: Tuổi, chiều cao, cân nặng và BMI của 2

nhóm

MNTQ (n=36) (TB ± ĐLC)

TTS (n=36) (TB ± ĐLC)

P

Tuổi (năm) 34,18 ± 7,78

(24 – 54)

31,96 ± 5,28 (24 – 44)

NS

Chiều cao (cm) 163,14 ± 5,06 162,60 ± 6,27 NS

Cân nặng (kg) 56,17 ± 8,96 57,42 ± 9,36 NS

BMI (kg/m2) 21,55 ± 3,21 21,92 ± 3,18 NS NS: không có ý nghĩa thống kê

Bảng 2: ASA và Mallampati

Nhóm ASA (%) Mallampati (%)

MNTQ 27 (75,0) 9 (25,0) 18 (50,0) 15 (41,6) 3 (8,4) TTS 20 (55,56) 16 (44,44) 20 (55,56) 14 (38,89) 2 (5,55)

Thuốc dùng trong gây mê – phẫu thuật

Tất cả các bệnh nhân đều được tiền mê với Midazolam 2mg, Fentanyl 100 mcg

Propofol trong nhóm gây mê toàn diện với MNTQ: 2,05 ± 0,30 mg/kg Không có trường hợp nào sử dụng dãn cơ trong phẫu thuật

Nhóm gây tê tủy sống sử dụng Bupivacaine

heavy 0,5%: 11,02 ± 0,51 mg

Bảng 3: thời gian vô cảm và phẫu thuật

MNTQ (n=36) TTS (n=36) P

TGGM (phút) 54,99 ± 16,45 55,04 ± 17,42 NS

TGPT (phút) 45,58 ± 16,42 45,98 ± 16,72 NS

Bảng 4: Thời gian thực hiện đặt MNTQ, gây tê tủy

sống

MNTQ (n=36) TTS (n=36)

TG thực hiện (giây) 46,58 ± 12,25 98,35 ± 10,93

Trong nhóm MNTQ, có 2/36 trường hợp phải

đặt lại do chọn sai cỡ MNTQ

Có 2/36 trường hợp thất bại hoàn toàn trong nhóm gây tê tủy sống phải chuyển phương pháp

vô cảm sang gây mê toàn diện với MNTQ 4/36 trường hợp thất bại một phần do bệnh nhân cảm thấy lo sợ trong quá trình phẫu thuật,

Trang 4

không hợp tác được với cuộc mổ mặc dù vẫn đủ

mức giảm đau phẫu thuật, chúng tôi phải hỗ trợ

thêm thuốc an thần và gây mê tĩnh mạch nhẹ với

propofol cho bệnh nhân

Các chỉ số theo dõi về hô hấp

Áp lực thông khí của nhóm MNTQ: 15,53 ±

2,13 cmH2O

Bảng 5: So sánh SpO 2 và ETCO 2 giữa 2 nhóm

MNTQ (n=36) TTS (n=36) P

SpO 2 (%) 99,06 ± 0,71 99,02 ± 0,39 NS

ETCO 2 (mmHg) 35,45 ± 1,52 (28 – 44)

Các chỉ số theo dõi về tuần hoàn

Bảng 6: So sánh HATT và HATTr giữa hai nhóm

MNTQ (n=36) (mmHg)

GTTS (n=36) (mmHg)

P

HATT trước đặt MNTQ

(hoặc TTS) 1 phút

115,44 ± 20,65

117,55 ± 27,64

NS

HATT sau đặt (TTS) 1

phút

119,86 ± 21,29

115,79 ± 25,3

NS

HATT sau đặt (TTS) 5

phút

116,98 ± 23,48

112,8 ± 22,02

NS

HATT sau đặt (TTS) 15

phút

120,54 ± 19,58

105 ± 12,52 < 0,05

HATT trước rút 1 phút 134,88 ±

25,19 HATT sau rút 1 phút 133,23 ±

23,56 HATT sau rút 15 phút 130,22 ±

23,45 HATTr trước đặt (TTS) 1

phút

58,08 ± 14,71 57,00 ±

16,54

NS

HATTr sau đặt (TTS) 1

phút

60,02 ± 13,72 58,00 ±

15,23

NS

HATTr sau đặt (TTS) 5

phút

56,47 ± 14,25 54,00 ±

14,44

NS

HATTr sau đặt (TTS) 15

phút

60,47 ± 14,55 50,00 ±

15,33

< 0,05 HATTr trước rút 1 phút 69,73 ± 15,26

HATTr sau rút 1 phút 68,05 ± 14,36

HATTr sau rút 15 phút 65,92 ± 14,67

Những thay đổi về huyết áp giữa các thời

điểm là không đáng kể

Các tai biến và biến chứng

Bảng 7: Tai biến, biến chứng của 2 nhóm

Các tai biến, biến chứng MNTQ (n=36) TTS (n=36)

Tổn thương niêm mạc dính

máu MNTQ

2 (5,55%)

Các tai biến, biến chứng MNTQ (n=36) TTS (n=36)

Kích thích vùng vẫy lúc rút 2 (5,55%)

Thời gian hậu phẫu: trong cả 2 nhóm, diễn tiến sau mổ đều ổn định Những trường hợp đau lưng và nhức đầu chỉ ở mức độ nhẹ Tất cả các bệnh nhân đều được cho xuất viện ở ngày hậu phẫu thứ nhất

Khảo sát mức độ hài lòng của bệnh nhân

Bảng 8: Đánh giá mức độ hài lòng của 2 nhóm

Mức độ hài lòng MNTQ

(n=36)

TTS (n=36)

Đa số bệnh nhân ở nhóm gây mê toàn diện sử dụng MNTQ ở mức độ rất hài lòng và hài lòng, mức độ không hài lòng chiếm tỉ lệ rất thấp 1/36 trường hợp

Nhóm gây tê tủy sống ở mức độ hài lòng là chủ yếu

BÀN LUẬN Đặc điểm chung của bệnh nhân

Tuổi trung bình nhóm MNTQ: 34,18 ± 7,78 tuổi, nhóm gây tê tủy sống: 31,96 ± 5,28 tuổi Chiều cao trung bình nhóm MNTQ: 163,14 ± 5,06 cm, nhóm gây tê tủy sống: 162,60 ± 6,27 Cân nặng trung bình nhóm MNTQ: 56,17 ± 8,96 kg, nhóm gây tê tủy sống: 57,42 ± 9,36 kg

BMI có liên quan đến việc lựa chọn cỡ MNTQ, cũng như đánh giá mức độ khó khăn khi thực hiện gây tê tủy sống, trong nghiên cứu của chúng tôi BMI nhóm MNTQ là 21,55 ± 3,21 kg/m2, nhóm gây tê tủy sống là 21,92 ± 3,18 kg/m2, tương đồng giữa 2 nhóm và đều nằm

Trang 5

trong giới hạn bình thường

Sử dụng thuốc gây mê

Việc kết hợp thuốc tiền mê Midazolam, thuốc

giảm đau Fentanyl và đặc biệt là thuốc mê tĩnh

mạch Propofol giúp cho việc đặt MNTQ được dễ

dàng Propofol có khả năng làm dãn cơ hàm và

ức chế các phản xạ vùng hầu họng do đó có thể

đặt MNTQ mà không cần dùng đến thuốc dãn

cơ Phẫu thuật vùng bẹn, bìu trong điều trị vô

sinh nam cũng không đòi hỏi nhiều dãn cơ

quanh vùng mổ, nên trong nhóm nghiên cứu

MNTQ chúng tôi cũng không cần sử dụng dãn

cơ trong trường hợp nào

Thời gian đặt MNTQ và gây tê tủy sống

Thời gian đặt MNTQ trong nghiên cứu 46,58

± 12,25 giây, điều này phù hợp với nghiên cứu

của Keller C, Malby(7,8) So với nhóm gây tê tủy

sống thì thời gian thực hiện đặt MNTQ nhanh

hơn có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) Do đặc điểm

dễ thực hiện, thao tác nhanh, MNTQ cũng là ưu

tiên hàng đầu của chúng tôi trong lúc phải

chuyển phương pháp vô cảm khi thất bại với gây

tê tủy sống Thời gian đặt và thời gian rút của

MNTQ tương đối nhanh rất có ý nghĩa đối với

bệnh nhân tăng huyết áp hoặc có bệnh tim mạch

như nhồi máu cơ tim cũ, thiểu năng vành vì thời

gian đặt và rút nhanh kèm theo kỹ thuật đặt ít

xâm lấn nên ít gây rối loạn huyết động và ít gây

tăng nhu cầu oxy cho cơ tim do đó giảm được

những biến chứng tim mạch chu phẫu

Kỹ thuật đặt mặt nạ thanh quản

Chọn kích cỡ mặt nạ thanh quản

Chọn kích cỡ mặt nạ thanh quản một vấn

đề quan trọng vì cỡ mặt nạ thanh quản đúng sẽ

dễ đặt, độ kín mặt nạ tốt, ít chèn ép lên mao

mạch vùng hầu họng, giảm biến chứng sau mổ

và thông khí với mặt nạ thanh quản an toàn,

hiệu quả(1,2,3).

Trong nhóm nghiên cứu chúng tôi kết hợp

giữa giới, cân nặng và đánh giá cấu trúc vùng

hầu họng để chọn mặt nạ thanh quản phù hợp, đa

số bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi

dùng MNTQ số 4, chỉ có 5/36 trường hợp dùng

MNTQ số 3 Tất cả các bệnh nhân trong nhóm đặt MNTQ đều được sử dụng MNTQ cổ điển

Tỷ lệ đặt thành công MNTQ: tùy thuộc vào

các yếu tố:

Cấu trúc giải phẫu vùng hầu họng bình thường

Chọn cỡ MNTQ phù hợp

Kỹ thuật đặt thành thạo và chọn thời điểm mê thích hợp

Trong nghiên cứu ở nhóm đặt MNTQ, chỉ có 2/36 trường hợp chúng tôi phải đặt lại do chọn sai cỡ MNTQ, tỷ lệ thành công chung là 100% Nghiên cứu sử dụng MNTQ trong phẫu thuật trong ngày của Đỗ Thanh Huy và Nguyễn Văn Chừng(4,10) có tỷ lệ thành công chung là 100%

Thông khí: Thông khí được đánh giá là

hiệu quả sau khi đặt mặt nạ thanh quản: SpO2

≥ 95%, áp lực thông khí ≤ 35 cmH2O, ETCO2 duy trì 35 - 45 mmHg, lồng ngực dãn nở cân xứng, không nghe rò khí qua miệng, không

bơm hơi vào dạ dày

Áp lực thông khí: Trong nghiên cứu của

chúng tôi áp lực thông khí của nhóm đặt MNTQ 15,53 ± 2,13 cmH2O, tương tự nghiên cứu của Brimacombe và Maltby(7,9) (18 ± 5 cmH2O và 20 ± 5 cmH2O)

SpO 2 (độ bão hòa oxy qua mạch nảy):

Nghiên cứu của chúng tôi, SpO2 của nhóm MNTQ: 99,06 ± 0,71%, so với nhóm TTS: 99,02 ± 0,39 %, SpO2 luôn luôn dao động từ 98% - 100%

Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê; kết quả của chúng tôi tương đương với nghiên cứu của Roger Maltby và cs(8); Ocker H(11)

ETCO2: Biến đổi ETCO2 trong nghiên cứu của chúng tôi nằm trong giới hạn cho phép 35,45

± 1,52 mmHg (28 – 44 mmHg)

Điều này cho thấy cả 2 phương pháp vô cảm đều đảm bảo an toàn thông khí cho bệnh nhân

Huyết động: Trong cả 2 nhóm, những thay

đổi về huyết động học trong tất cả các giai đoạn của quá trình phẫu thuật và sau phẫu thuật hầu như không đáng kể Trong khoảng 15 phút đầu sau khi gây tê, HA có giảm hơn ở nhóm GTTS,

Trang 6

có ý nghĩa về mặt thống kê so với nhóm MNTQ,

tuy nhiên mức giảm HA này chưa có ý nghĩa về

mặt lâm sàng Theo y văn ảnh hưởng lên huyết

động của mặt nạ thanh quản không đáng kể và

thay đổi ít hơn đặt NKQ(9,14); đặc biệt là khi so

sánh với gây tê tủy sống Wolfgang Oczenski(12)

nhận thấy ảnh hưởng lên huyết động của nhóm

NKQ ở giai đoạn trước và sau đặt cao gấp 2 lần

nhóm đặt mặt nạ thanh quản Montarazi(9) thấy

HA, mạch của nhóm MNTQ ở giai đoạn trước và

sau đặt 1 phút và 5 phút không có khác biệt Sự

tăng huyết áp nhiều ở nhóm đặt NKQ được cho

là khi kích thích đường hô hấp trên trong quá

trình đặt NKQ gây nên đáp ứng của hệ thần kinh

giao cảm – tuyến thượng thận thông qua các ổ

thụ cảm thể ở vùng thanh quản, khí quản gây ra

tăng huyết áp, tăng mạch, tăng nồng độ

catecholamine huyết thanh Khi phân tích đáp

ứng của huyết động trong từng thời kỳ đặt,

Singh(15) thấy lúc đưa đèn soi thanh quản vào thì

tác động lên HA nhiều hơn lúc đưa ống NKQ

vào Đó cũng là những lý do chúng tôi chọn lựa

MNTQ thay vì sử dụng NKQ khi chọn phương

pháp vô cảm là gây mê toàn diện cho phẫu thuật

điều trị vô sinh nam

Tai biến, biến chứng

Biến chứng trào ngược và hít sặc dịch vị

Biến chứng trào ngược và hít sặc là một biến

chứng rất quan trọng, có thể đe dọa tính mạng

người bệnh, biến chứng này có thể xảy ra khi

thông khí với mặt nạ thanh quản Tuy nhiên

theo các nghiên cứu trước đây thì tỷ lệ này thấp(5)

Có nhiều yếu tố gây ra như: chọn bệnh nhân

không tuân thủ chỉ định và chống chỉ định của

MNTQ, tư thế bệnh nhân trong phẫu thuật: nằm

đầu thấp, nằm nghiêng, nằm sấp

Trong nghiên cứu của chúng tôi không có

trường hợp nào trào ngược và hít sặc, vì tất cả các

bệnh nhân đều được phẫu thuật chương trình, và

không có các yếu tố nguy cơ trào ngược khác

Co thắt thanh quản, tổn thương niêm mạc dính

máu MNTQ

Trong nghiên cứu này, chúng tôi không gặp

trường hợp nào bị co thắt thanh quản khi đặt

MNTQ Maltby, Neilson(7) gặp ở nhóm MNTQ

cổ điển là 1/49 (2,04%) Maltby(8) gặp trong nhóm MNTQ - Proseal là 2/50 (4%)

Trong nhóm MNTQ có 2/36 (5,55%) trường hợp tổn thương niêm mạc hầu họng, gây chảy máu dính MNTQ 2 trường hợp này xảy ra trên bệnh nhân đặt mặt nạ thanh quản lại lần thứ 2 Tuy nhiên sự tổn thương này không ảnh hưởng đến quá trình thông khí và tổn thương này chỉ gây chảy máu ít, tự cầm, không cần phải xử trí Trong nghiên cứu của Brimacombe và Kihara(6)

tỷ lệ tổn thương niêm mạc từ 3 - 28% (trung bình

là 10,2%) Điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi

Kích thích vùng vẫy lúc rút

Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân kích thích vùng vẫy lúc rút mặt nạ thanh quản chiếm tỷ lệ 2/36 (5,55%) trường hợp, rất ít nếu như

so sánh với những trường hợp gây mê toàn diện

có sử dụng ống NKQ Kích thích vùng vẫy là yếu

tố gây tăng huyết áp lúc rút, rất có hại ở những bệnh nhân có bệnh tim mạch kèm theo

Ho sau gây mê và phẫu thuật

Khi so sánh giữa MNTQ cổ điển và NKQ, Maltby(7) thấy tỷ lệ ho giữa các nhóm MNTQ là 8/49 (16,32%), nhóm NKQ là 38/48 (79,16%) Như vậy tỷ lệ ho bao giờ cũng gặp nhiều ở những bệnh nhân có đặt NKQ bởi vì nó kích thích trực tiếp lên các thụ thể tại chỗ của đường hô hấp Trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 4/36 (11,1%) trường hợp bị ho sau rút MNTQ

Đ au họng và khàn tiếng

Biến chứng gây đau họng của MNTQ trong nghiên cứu của chúng tôi là 5/36 (13,8%) trường hợp Đa số bệnh nhân đau họng mức độ vừa và nhẹ, hết đau sau 24 giờ Theo nghiên cứu của Radu.A.D(13), tỷ lệ đau họng trong nhóm NKQ cao hơn nhóm MNTQ một cách có

ý nghĩa 6 giờ sau mổ (74% so với 27%, P = 0,0003) và 24 giờ sau mổ (27% so với 0%, P =

0,004), tỷ lệ khàn tiếng ở nhóm NKQ cũng cao hơn nhóm MNTQ vào thời điểm 6 giờ sau mổ (40% so với 15%) nhưng không quá 24 giờ

Trang 7

Trong nghiên cứu của chúng tôi nhóm đặt

MNTQ không có trường hợp nào khàn tiếng

Khảo sát mức độ hài lòng của bệnh nhân

Phương pháp vô cảm thông dụng hiện nay

để tiến hành phẫu thuật trên bệnh nhân vô

sinh nam là gây tê tủy sống Ngoài những

phiền nạn và tai biến của bản thân phương

pháp gây tê tủy sống vẫn thường gặp như đau

lưng, nhức đầu, bí tiểu… (tương ứng 16,67%,

9,26%, 14,81% , trong nghiên cứu này), vẫn

chấp nhận được vì hầu hết các rối loạn đều

thoáng qua, không làm kéo dài thời gian nằm

viện cũng như chăm sóc đặc biệt Tuy nhiên,

một vấn đề chúng ta thường ít quan tâm là tâm

lý bệnh nhân vô sinh nam trên bàn mổ, đôi lúc

để lại hậu quả tâm lý rất lớn Đó cũng là lý do

chúng tôi chọn phương pháp gây mê để thay

cho phương pháp gây tê tủy sống như hiện

nay

Điều khác biệt cơ bản đối với gây mê và gây

tê là vấn đề tri giác: gây tê chỉ làm giảm hay mất

cảm giác, trong khi phẫu thuật bệnh nhân vẫn

còn tỉnh táo, nghe thấy, cảm nhận được những

vấn đề xảy ra chung quanh đối với họ và để lại ấn

tượng vô cùng sâu đậm ăn sâu vào tiềm thức,

không thể nào quên được một cách dễ dàng Trái

lại gây mê, vô cảm toàn thể, ngoài làm giảm hay

mất cảm giác, phương pháp này còn làm mất ý

thức, bệnh nhân không còn biết đến những vấn

đề xảy ra chung quanh họ, ngay cả cảm giác đau

đớn nếu chẳng may còn sót lại, bệnh nhân cũng

không còn nhớ lại được gì cả bởi vì ngày nay, với

những thuốc an thần nhóm Benzodizepine, đặc

biệt thuốc Midazolam có tác dụng giúp bệnh

nhân không nhớ được những gì xảy ra trong lúc

gây mê – phẫu thuật Vấn đề này đặc biệt quan

trọng, bởi vì bệnh lý gây ra vô sinh ở người nam

là vấn đề rất nhạy cảm, thêm vào đó trong lúc

phẫu thuật thường bàn luận, những điều này

càng làm tổn thương cho bệnh nhân

Vì những lý do đã được đề cập trên, chúng tôi

nhận thấy gây mê toàn thể với mặt nạ thanh

quản là phương pháp vô cảm thích hợp nhất cho

phẫu thuật điều trị vô sinh nam

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 72 trường hợp được phẫu thuật điều trị vô sinh nam với phương pháp vô cảm: gây mê toàn diện với mặt nạ thanh quản hay gây tê tủy sống với Bupivacaine tăng trọng, chúng tôi rút ra một số kết luận:

Phương pháp gây mê toàn diện với thông khí bằng mặt nạ thanh quản là một phương pháp đơn giản, an toàn, ít ảnh hưởng huyết động khi đặt và rút

Kiểm soát tốt thông khí trong gây mê và phẫu thuật, duy trì tốt SpO2 và ETCO2

MNTQ duy trì áp lực thông khí nằm trong giới hạn cho phép, không có trường hợp nào xảy

ra trào ngược và hít sặc dịch vị

Sử dụng mặt nạ thanh quản trong gây mê - phẫu thuật để điều trị vô sinh nam đặc biệt thích hợp vì người bệnh hoàn toàn không biết, không nhớ gì trong lúc mổ, mà thường những người trong phòng mổ hay bàn luận về bệnh lý của họ, một vấn đề rất nhạy cảm thường để lại ấn tượng thường làm thương tổn về tâm tư, tình cảm của người bệnh

Qua khảo sát đa số bệnh nhân rất hài lòng với phương pháp gây mê toàn diện sử dụng mặt

nạ thanh quản trong gây mê – phẫu thuật để điều trị vô sinh nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Brain A.I.J, Verghese C, Strube P J (2000) The LMA ProSeal – a laryngeal mask with an oesophageal vent B J Anaesth, 84:

650-654

2 Brain AIJ, Verghese C (2002) Mode d’emploi LMA-ProSeal The laryngeal mask company limited: 1 - 29

3 Brimacombe J and Keller C (1999) Laryngeal mask airway size selection in males and in females: ease of insertion, orophryngeal leak pressure, pharyngeal mucosal pressure and anatomical position British Journal of Anesthesia; 82: 703 - 707

4 Đỗ Thanh Huy, Nguyễn Văn Chừng (2010) Nghiên cứu sử dụng mặt nạ thanh quản Proseal với thuốc mê tĩnh mạch Propofol khởi

mê trong gây mê phẫu thuật trong ngày Tạp chí Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh, tập 14 (1): 217 - 222

5 Han Th, Brimacombe J and al (2001) The laryngeal mask airway

is effective and probably safe in selected healthy parturients for elective cesarean section: A prospective study of 1067 cases Canada Journal of Anesthesia; 48 (11): 1117 - 1121

6 Kihara, Brimacombe J, et al (2003) Sex-Based Proseal Laryngeal Mask Airway size selection: A randomised crossover study of health, anesthetised, paralysed male and female adult patients Anesth Analg, 97: 340 - 343

Trang 8

7 Maltby R.J and al (2003) LMA-classic and LMA-ProSeal are

effective alternatives to endotracheal intubation for

gynenecologic laparoscopy Canadian Journal of Anesthesia;

50(1): 71-77

8 Maltby R.J, Beriault M.T (2002) The laryngeal mask

airway-Proseal is an effective alternative to tracheal intubation for

laparoscopic cholecystectomy Canadian Journal of Anesthesia;

49 (8): 857 - 862

9 Montazari K, Naghibi Kh and Hashemi Sj (2004) Comparison of

hemodynamic changes after Insertion of Laryngeal Mask

Airway, Facemask and endotracheal intubation Acta Medica

Iranica; 42 (6): 437 - 440

10 Nguyễn Văn Chừng, Lê Hữu Bình, Trần Đỗ Anh Vũ, Nguyễn

Văn Chinh (2010) Nghiên cứu sử dụng mặt nạ thanh quản

Proseal trong gây mê phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa Tạp chí Y

Học Thành Phố Hồ Chí Minh, tập 14 (1): 290 - 297

11 Ocker H, Wenzel V and al (2002) A comparison of laryngeal

tube with the laryngeal mask airway during routine surgical

procedures Anesth Analg; 95: 1094 - 1097

Hemodynamic and Catecholamine stress responses to insertion

of the Combitube, Laryngeal Mask Airway or Tracheal Intubation Anesth Analg; 88: 1389 - 1394

13 Radu A.D, Miled F, Marret E, Vigneau A, Bonnet F (2008) Pharyngo-laryngeal discomfort after breast surgery: Comparison between orotracheal intubation and laryngeal mask The Breast,

17 (6): 407 - 411

14 Shiji T, Taro M, Masayuki M, Hidenori T (2002) Hemodynamic responses to tracheal intubation with laryngoscopy versus lightwand intubating device in adults with normal airway Anesth Analg; 95: 480 - 484

15 Singh S and Smith J.E (2003) Cardiovascular changes after the three stages of nasotracheal intubation B J Anaesthesia; 91 (5):

667 - 671

Ngày đăng: 21/01/2020, 22:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w