1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài giảng Lịch sử phát triển chuyên ngành Gây mê hồi sức - BS. CK2 Nguyễn Ngọc Anh

51 174 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng Lịch sử phát triển chuyên ngành Gây mê hồi sức - BS. CK2 Nguyễn Ngọc Anh hướng đến trình bày các vấn đề cơ bản về nguồn gốc và sự phát triển chuyên ngành Gây mê hồi sức; sự hình thành tổ chức ngành Gây mê hồi sức;... Cùng tìm hiểu để nắm bắt nội dung thông tin tài liệu.

Trang 1

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN 

CHUYÊN NGÀNH GÂY MÊ HỒI  SỨC

BsCK2 Nguyễn Ngọc Anh Bệnh viện ND 115

Trang 2

I/­Nguồn gốc và sự phát triển chuyên  ngành

-Thời kỳ văn minh cổ đại:cây thuocá phiện,lá

cây coca,rễ cây Mandrake,rượu,trích máu…

-Người ai cập cổ đại:kết hợp cây thuốc phiện

và cây hyoscyamus để gây mê

-Phương thức giảm đau gần giống như gây tê

vùng:chèn TK,làm lạnh vùng mổ,gây tê tại

chổ bằng đắp lá coca…

Trang 4

I/­Nguồn gốc và sự phát triển chuyên  ngành

Trang 5

+1868 Edmun Andrew dùng N20 + 20% oxy.

-Sau đó một số thuốc khác được tìm ra như:ethyl

chloride,ethylene,divinylether,cyclopropane…Nhưng chỉ có ether là được sử dụng cho đến 1960

-Nhóm Halogèné:

+Halothane(1951/1956),Methoxyflurane(1958/60,Enflurane(1963/1973),Isoflurane(1965/1981),Sévoflurane(1995)

-Sự phát triển củachuyên ngành GMHS

Trang 7

+Alfred Einhorn tìm ra 1904,Heinrich Baun đưa vào sử dụng 1905,sau đó thêm adrénalin để kéo

Trang 8

I/­Nguồn gốc và sự phát triển chuyên  ngành

(1932),Lidocaine(1947),Chloroprocaine(1955),Mepivacaine(1957),Prilocaine(1960)Bupivacaine(1963)Etidocanine(1972),Ropivacaine(1990)

Trang 10

ngành

Gây mê hồi sức:

1.3/­Thuốc mê tĩnh mạch:

-Alexander Wood sử dụng 1885

-Barbiturate:(Barbital) Fisher và Von Mering tổng hợp(chưa sử dụng rộng rãi)

Trang 11

+Stevens tổng hợp 1962.

+Corsen và Domino đưa vào sử dụng 1965,và

1970 được sử dụng rộng rãi

-Eùtomidate(1972).

­Propofol(1990)

Trang 13

ngành

Gây mê hồi sức:

1.4/­Thuốc giảm đau trung ương:

-Morphine:Sertuner phát hiện 1805

-Meperidine(dolargan) tổng hợp 1939

-Khái niệm “GM cân bằng”

-1969 Lowenstein:sử dụng Morphine liều cao trong GM

-Các Morphine tổng hợp khác lần lượt

ra

đời:Fentanyl,Sufentanil,Alfentanil,Remifentanil

-Thập niên 70-80:neuroleptanalgesia

Trang 14

ngành

Gây mê hồi sức:

1.5/Thuốc dãn cơ:

-Khi dãn cơ chưa có:dùng thuốc mê liều cao

-1942:Harold Griffith và Enid Johhnson b/cáo sử dụng chất Curare

-1949:Bover tổng hợp Succinylcholine và đưa vào sử dụng 1951

-Các thuốc dãn cơ khác lần lượt ra đời:Gallamine,decamethonium,metocurin,alcuronium,pancuronium,vecuronium

-Mivacum,Rocuronium(1990)-Cuối thế kỷ 19:đặt NKQ chọn lọc,1920 Sir Ivan Magill và Stanley phổ biến KT GM tòan thân có đặt NKQ

Trang 15

ngành

Gây mê hồi sức:

1.6/­Chuyên ngành GMHS phát triển cùng  các chuyên ngành khác:

-Thoát ra khỏi phòng mổ:X quang can thiệp,chẩn đóan hình ảnh,thăm dò chức năng,Hs trước mổ…

-Di sâu vào các chuyên khoa:FTTK,tim mạch,ghép cơ quan

Trang 18

2.2 Mô tả COPACOPA số 8, 9, 10, 11 : :

Cựa COPA Raccord

ĐK : 15mm.

Vale luer

Bóng chèn

Cái

ngáng

Trang 20

         2.4­Combitube

2 tailles  adultes

37 F et 41 F

100 ml

5 à 15 ml

Trang 23

-Joseph T.Clover:theo dõi mạch,nâng

hàm khi tắc đường thở,chọc màng giáp nhẫn để cấp cứu Bn bị tắc đường thở

-Sir Frederick Hewitt:dụng cụ khai thông

đường miệng,textbook of anesthesia

Trang 24

-Các Bs GMHS đầu tiên của Mỹ:

+Guedel:mô tả các dấu hiệu trong Gmtòan thân,sửû bóng chèn của ống NKQ,cách thông khí nhân tạo sau này

Ralph Waters gọi là controlled respiration

Trang 25

II/-Sự hình thành tổ chức ngành

GMHS

2.3/­Sự phát triển để được công nhận một  chuyên khoa chính thức.

-1933 Ralph Waters:Gs GM đầu tiên của đại học Wisconsin.

-1937 Nghiệp đòan của những người GM Mỹ được công nhận.

-Ở Anh:Sir Robert Macintosh được phong là GsGM của đại học Oxford(1937) và khoa GM của

đại học Hòang gia Anh được thành lập.

Trang 26

TỔ CHỨC KHOA GÂY MÊ  HỒI SỨC

BsCK2 Nguyễn Ngọc Anh Bệnh viện ND 115

Trang 27

-Tổ chức một chiều.

-Hoạt động trong tổng thể của một khoa,không nên tách rời

-Biên chế đủ nhân sự và trang thiết bị

-Tuân thủ nguyên tắc vô trùng

-Nguồn điện riêng

Trang 29

+Nếu có thể thì nên có 01 phòng vệ sinh.

-Biên chế: 1-2 điều dưỡng

Trang 30

-Trang bị:máy GM,máy hút,monitorring theo dõi Bn,hệ thống khí mê,tủ đựng

dụng cụ và thuốc GMHS,bàn mổ,bóng

giúp thở,máy thở di chuyển…

Trang 31

2.3­Khu vực mổ:

2.3.1­Phòng mổ cấp cứu(mổ nhiểm)

-Tách riêng với PM chương trình

-Số lựợng:1-3 phòng(tùy theo số lượng chuyên khoa và số lượng cấp cứu hàng ngày)

-Biên chế và trang bị :giống như

PM chương trình

2.3.2­Phòng mổ chương trình:

-Một chiều:hành lang dơ và hành lang sạch

-Aùp lực dương:đối lưu không khí

-Số lượng:theo số lượng chuyên

Trang 32

thùng rác …

+Các phương tiện khác phục vụ cho cuộc mổ tùy theo chuyên khoa:máy đốt,kính hiển vi,C-arm,máy mổ nội soi…

+Vệ sinh:sau mỗi ca mổ,định kỳ khử khuẩn

+Biên chế:01Bs,01ĐDGM,02ĐD dụng cụ

Trang 33

3.1/­Mở đầu :

        ­Tất cả những Bn sau mổ thường là trong tình

trạng cần phải được chăm sóc vì:

       +Dưới ảnh hưởng của gây mê,họ không thể tự hồi phục hoàn toàn các chức năng sống,nhất là vấn đề hô hấp – tim mạch

 + Do ảnh hưởng của phẩu thuật, những Bn này ít

nhiều bị rối loạn về sinh lý, hô hấp, tuần hoàn và nhiệt độ

       +Tùy theo tình trạng sức khoẻ của Bn trước

mổ, những ảnh hưởng do gây mê, phẫu thuật tạo

nên nhiều hay ít mà vấn đề chăm sóc theo dõi Bn sau mổ cần phải được đặt ra nhiều hay ít

Trang 34

3.1/­Mở đầu :

        ­Như vậy hầu như tất cả Bn sau mổ đều cần

phải được theo dõi và việc theo dõi này tốt nhất là được thực hiện ở một nơi mà có đầy đủ phương

tiện kĩ thuật cũng như lực lượng nhân viên có trình độ chuyên môn tốt và nơi đó người ta gọi là

phòng hồi tỉnh

        ­Sau mổ giai đoạn tỉnh mê là giai đoạn hay xảy

ra những biến chứng nguy hiểm về hô hấp và tim

mạch và chính những biến chứng này là nguyên

nhân quan trọng chi phối tỉ lệ tử vong sau mổ

       +Suy hô hấp thứ phát sau mổ do tác dụng của thuốc mê(Morphine) hoặc dãn cơ là một biến chứng thường gặp(86%) và nó gây chết người hoặc để lại

Trang 35

3.1/­Mở đầu :

      +Phân tích nguyên nhân gây chết người trong 6 ngày đầu sau mổ thì ngưởi ta thấy 70% là do vấn đề hô hấp

         ­Từ kết quả trên Hội GMHS Pháp khuyên

rằng: Tất cả Bn mổ được gây mê tòan thân,gây tê vùng và ngay cả gây tê tại chổ đều phải được theo dõi ở phòng hồi tỉnh nhằm để an tòan cho Bn cũng như để giảm những biến chứng sớm sau mổ

Trang 36

3.2/­Nguyên tắc nhận bệnh và chức năng của  phòng hồi tỉnh      

3.2.1/­Nguyên tắc:

       ­ Tất cả những Bn mổ dươi gây mê tòan thân,gây tê vùng hay gây tê tại chổ trước khi trở về khoa đều phải qua phòng hồi tỉnh để theo dõi.

       ­ Phòng hồi tỉnh được hoạt động dưới sự chỉ huy về chuyên môn của Bs GMHS.

        ­Tất cả những Bn được theo dõi ở phòng hồi tỉnh

phải được ghi vào hồ sơ, bảng theo dõi và đây là vấn đề pháp lý.

-Bn chỉ rời khỏi phòng hồi tỉnh khi đựoc sự cho phép của Bs GMHS,có nghĩa là Bn được phục hồi về hô hấp, tim mạch, ý thức gần như bình thường

        ­Nếu Bn không đạt được những tiêu chuẩn để rời

khỏi phòng hồi tỉnh,thì cần phải xem xét để chuyển qua

Trang 37

3 2.2/­ Chức năng

  * Biên chế:

+ 1 nhân viên/ 3 Bệnh nhân

+ Nếu có thể thì nên có một điều dưỡng GM

ở đây để khi cần đặt NKQ thì có thể tiến hành dễ dàng Mặt khác họ cũng có trình độ hiểu biết về

GM nên dễ dàng theo dõi Bn

+ Một Bs (tốt nhất là Bs GMHS) phụ trách

chung

+ Nếu những bệnh viện nhận Bn cả ban đêm thì phải biên chế một kíp trực có đủ khả năng theo dõi Bn

Trang 38

3.2.2/­ Chức năng Hoạt động:

+ Bn phải được theo dõi về các chức năng sinh tồn : hô hấp, tim mạch, nhiệt độ vv

+ Các thông số này được ghi vào bảng theo dõi,thời gian theo dõi tùy theo tính chất của cuộc phẩu thuật và GM(10 phút,15 phút, 30 phút/một

lần)

+ Khi Bn đủ tiêu chuẩn rời khỏi phòng hồi tỉnh thì Bs GMHS là người quyết định

Trang 39

Vận chuyển bệnh nhân được dễ dàng.

BS GMHS và PTV có thể can thiệp kịp thời khi có những biến chứng sau phẫu thuật

        ­ Nếu có thể thì phòng hồi tỉnh được đặt gần phòng xét nghiệm, ngân hàng máu, phòng X-quang

-Phòng ốc phải rộng rãi, thoáng mát, cần phải có một phòng cách ly để nhận những bệnh nhân nhiễm trùng Diện tích của phòng hồi tỉnh

Trang 40

+ Chỗ để đổ chất thải.

       ­ Phòng hồi tỉnh cần phải có điện thoại để

liên lạc dễ dàng với các nơi khác nhất là phòng mổ và phòng xét nghiệm Và nếu có thể thì có nguồn điện riêng để tránh trường hợp mất điện

Trang 41

3.3.2 Trang bị:

Vì chức năng của phòng hồi tỉnh là nơi trung chuyển bệnh nhân giữa phòng mổ-các trại hoặc phòng hậu phẫu cho nên cần được trang bị :

         ­Giường có thể đẩy được, có thành chắn, có thể

nâng đầu cao hoặc thấp.

         ­Mỗi đầu giường bệnh nhân đều có:

+Nguồn Oxy, khí nén để khi cần có thể sử dụng máy thở.

Trang 42

3.4/ Những thông số của bệnh nhân cần  được theo dõi ở phòng hồi tỉnh:

3 4.1 /­Theo dõi về ý thức:

        Cần phải theo dõi BN từ lúc mới từ phòng

mổ ra để nhằm phát hiện:

Tác dụng ứ đọng của thuốc mê, thuốc dãn cơ

Tình trạng shock, suy hô hấp, thiếu Oxy dẫn đến rối loạn ý thức

Nếu BN chưa tỉnh thì theo dõi diễn biến tỉnh của

BN

        Việc theo dõi này phải tiến hành thường

xuyên, liên tục đều đặn

Trang 43

3.4.2 /­Theo dõi về hô hấp:

Có 2 trường hợp được đặt ra:

- BN được thở máy : cần được theo dõi máy thở và BN Máy thở: theo dõi hoạt động và các thông số của máy thở : áp lực đường thở, Vt, f, FiO2 …

- BN tự thở: chủ yếu là theo dõi lâm sàng

Trang 44

phải xem xét đến việc dùng thuốc hoá giải.

Trang 45

        ­ Đánh giá đau và điều trị

         ­Tình trạng nước ra ,nước vào

Nếu cần thiết thì theo dõi lượng nước tiểu giờ

Trang 46

4.6/­ Phiếu theo dõi:

Tất cả những thông số trên của Bn đều phải được ghi vào trong một phiếu theo dõi, phiếu

này bao gồm các mục sau :

         ­Họ và tên Bn, loại phẩu thuật, loại GM

        ­ Các thông số đo được: M, HA, nhịp thở, SpO2 Ghi rõ khoảng cách theo dõi(10, 15, 30

phút)

         ­Lượng dịch vào, dịch ra

         ­Các thuốc được dùng, liều, giờ

dùng…

Khi Bn rời khỏi phòng hồi tỉnh

Trang 47

V/­ Kết Luận

        ­Phòng hồi tỉnh là nơi chịu trách nhiệm theo

dõi Bn sau mổ, thường nó chỉ hoạt động trong ngày, khi Bn hồi phục các chức năng sống thì chuyển về khoa

       ­Thường hai cơ quan được theo dõi chủ yếu ở

giai đoạn này là tim mạch và hô hấp Công việc

này được thực hiện bởi những điều dưỡng được

huấn luyện kỹ

        ­Phòng hồi tỉnh cần phải được trang bị đầy đủ các phương tiện để theo dõi Bn

Trang 48

         +Nếu Bn tự thở qua ống NKQ hay không có ống NKQ; Theo dõi:M, HA, SpO­2, nhịp thở.

         +Nếu Bn có ống NKQ và thở máy: theo dõi

M.HA,SpO2,Vt,f.FiO2…

2/­ Đối với những Bn mổ kéo dài, mất máu nhiều thì  theo dõi:

         +Chuyển hóa: Nhiệt độ, nếu có thể thì theo dõi nhiệt độ thực quản.

          +Hô hấp : SpO2, FiO2

         +Tim mạch: M, HA, lắp ECG theo dõi liên tục, đôi khi phải theo dõi CVP.

Trang 49

có thể thì mỗi BN/phòng.

-Có khu cách ly cho Bn bi nhiểm khuẩn.

-Có hệ thống theo dõi trung tâm.

-Khu vực để xử lý dụng

Trang 50

4.2­Hồi sức trước mổ

-Một phần của phòng hồi sức ngoại.

-1-2 giường/100 cas cấp cứu.

-Nhân lực và trang thiết bị thường sử dụng của HS ngoại.

-Có đường riêng để tiếp nhận

Bn từ bên ngoài chuyển đến.

-Có đường đi riêng cho Bn tử vong.

-Có phòng để tiếp thân nhân BN,phòng thay quần áo cho thân

nhân Bn

Trang 51

-Biên chế:5-6 giường.

-1-2 Bs và 4 điều dưỡng -Giảm đau :

Ngày đăng: 21/01/2020, 22:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm