1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hội chứng thực bào máu thứ phát sau nhiễm trùng huyết trên bệnh có khối tụ máu trong cơ psoas trái

5 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 247,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nghiên cứu này báo cáo về một trường hợp được chẩn đoán là “Hội chứng thực bào máu thứ phát sau nhiễm trùng huyết trên bệnh nhân có khối tụ máu trong cơ psoas trái”. Bệnh nhân sốt kéo dài, nhập viện trong tình trạng nhiễm trùng huyết nặng, có một khối ở vùng cơ psoas trái nghi ngờ áp xe, mảng xuất huyết dưới da rải rác, vàng da, gan to. Mời các bạn tham khảo bài viết để nắm rõ tình hình về ca bệnh này.

Trang 1

HỘI CHỨNG THỰC BÀO MÁU THỨ PHÁT SAU NHIỄM TRÙNG HUYẾT

TRÊN BỆNH CÓ KHỐI TỤ MÁU TRONG CƠ PSOAS TRÁI

Trần Quang Bính*, Nguyễn Ngọc Sang**, Phùng Mạnh Thắng**

TÓM TẮT

Trong nghiên cứu này chúng tôi báo cáo một trường hợp được chẩn đoán là “hội chứng thực bào máu thứ phát sau nhiễm trùng huyết trên bệnh nhân có khối tụ máu trong cơ psoas trái” Bệnh nhân sốt kéo dài, nhập viện trong tình trạng nhiễm trùng huyết nặng, có một khối ở vùng cơ psoas trái nghi ngờ áp xe, mảng xuất huyết dưới da rải rác, vàng da, gan to Bệnh nhân được làm TEA để cầm máu do chảy máu trong khối cơ psoas trái sau chẩn đoán bằng DSA Diễn tiến bệnh và kết quả các xét nghiệm cận lâm sàng phù hợp với hội chứng thực bào máu Bệnh nhân thỏa 7/9 tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng thực bào máu theo tiêu chuẩn chẩn đoán HLH (up todate 2011) và được điều trị với kháng sinh phổ rộng kết hợp với dexamethasone và cyclosporin theo phác đồ HLH – 2004 Kết quả lâm sàng cải thiện, đáp ứng tốt với trị liệu, bệnh nhân xuất viện sau 9 ngày điều trị Việc chẩn đoán xác định sớm dựa trên các dấu hiệu lâm sàng và kết quả cận lâm sàng cùng với điều trị kịp thời bằng các thuốc ức chế miễn dịch có ý nghĩa cải thiện tiên lượng bệnh ở những trường hợp bệnh nặng, diễn tiến nhanh, tổn thương đa tạng, không đáp ứng điều trị thông thường

Từ khóa: Hội chứng thực bào máu, HLH: Haemophagocytic Histiocytosis, DSA: Digital substraction

angiography, TAE: Trans catheter arterial embolization

ABSTRACT

SECONDARY HAEMOPHAGOCYTIC SYNDROME AFTER SEPTICEMIA ON PATIENT WITH

HEMATOMA IN LEFT PSOAS MUSCLE

Tran Quang Binh, Nguyen Ngoc Sang, Phung Manh Thang

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 2 - 2012: 80 - 84

In this study, we report a 37 year-old man who was diagnosed with secondary hemophagocytosis after septicemia on patient with hematoma in left psoas muscle This patient had prolonged fever, admitted to Cho Ray hospital with a suspected abcess mass in his left psoas muscle, severe sepsis, subcutaneous haemorrhage, jaundice and hepatomegaly Patient was done TAE at the emergency department for stop bleeding due to haemorrhage into the left psoas muscle after diagnosis by DSA The process of disease as well as the results of laboratory findings suggest haemophagocytic syndrome Patient had seven of nine diagnostic criteria of HLH (up-to-date 2011) and was treated with intravenous large spectrum antibiotics in combination with dexamethasone and cyclosporine according to treatment guideline of HLH-2004 Clinical status improved and responded well with treatment, patient was discharged after 9 days of hospitalisation Taking the advantage of initial clinical features and diagnosis laboratory test, the immunochemotherapy based on guideline that should be given as soon as possible can improve the outcome of severe cases related to multiorgan dysfunction, unadaptive with ordinary treatment.

Keywords: Haemophagocytic syndrome, HLH: Haemophagocytic - lymphohistiocytosis, DSA: Digital

substraction angiography, TAE: Trans catheter arterial embolization

* Khoa Bệnh Nhiệt Đới BV Chợ Rẫy

Tác giả liên lạc: TS.BS Trần Quang Bính ĐT: 0903841479 Email: binhtq@hcm.vnn.vn

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội chứng thực bào máu là một rối loạn

hiếm gặp với tỉ lệ mắc mới khoảng 1-2 trường

hợp/1 triệu dân(6) Tỉ lệ tử vong từ 15-60%

Nguyên nhân do: khiếm khuyết gene, nhiễm sắc

thể 10 (gene perforin), nhiễm sắc thể 9(7) hay khởi

phát sau nhiễm virut, vi trùng, hay bệnh lý ác

tính Trong bệnh cảnh nhiễm trùng nặng, nó có

thể xuất hiện rất đột ngột và việc điều trị thành

công đòi hỏi phải chẩn đoán sớm, đây cũng là

một thách thức cho các bác sĩ lâm sàng Biểu

hiện bệnh gồm: sốt kéo dài, gan to, lách to, chấm

xuất huyết, nổi ban, nổi hạch ngoại biên, tăng

triglyceride máu, tăng ferritin máu, giảm 2 hay 3

dòng tế bào máu(7)…Trong báo cáo này, chúng

tôi giới thiệu một bệnh nhân nam nhiễm trùng

huyết nặng có khối máu tụ trong cơ psoas trái,

đáp ứng kém với điều trị kháng sinh đơn thuần

Phát hiện và chẩn đoán sớm tình trạng thực bào

máu cùng với việc điều trị kịp thời thích hợp

giúp cải thiện tiên lượng cho

bệnh nhân

TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG

Bệnh nhân nam, 37 tuổi, là công nhân viên

Cư trú tại phường 10, Gò Vấp, TP HCM Nhập

viện ngày 13/10/2011 vì lý do sốt kéo dài

Tiền căn bản thân và gia đình: không có gì

đặc biệt, ngoại trừ bệnh nhân thỉnh thoảng thấy

nổi u, cục dưới da, tự hết không đi khám và

điều trị ở cơ sở y tế nào

Bệnh sử: Bệnh 4 tháng sốt cơn kèm lạnh run,

liên tục, da xanh, ăn uống kém, đã được điều trị

tại các bệnh viện Nhân Dân Gia Định, bệnh viện

Bệnh Nhiệt Đới, với chẩn đoán viêm họng cấp,

viêm phế quản cấp, bệnh có giảm sốt nhưng sau

đó tái lại

Cách nhập viện 5 ngày, bệnh nhân tiêu chảy,

sốt cao liên tục, đau hông lưng (T), đi lại khó

khăn, mệt mỏi, ăn uống kém, nhập bệnh viện

Hồng Đức và điều trị tại đây từ ngày 9/10 đến

13/10/2011 trong tình trạng: tỉnh, sốt cao liên tục,

vàng da, gan to, đau hông lưng (T) Mảng xuất

huyết dưới da rải rác 2 chân Kết quả các xét

nghiệm tại bệnh viện Hồng Đức: HBsAg (-), anti HCV (-), HIV test nhanh (-), chụp CT bụng: gan, lách to nhẹ, khối tổn thương vùng cơ thắt lưng (T) được theo dõi áp – xe tiến triển, tràn dịch màng phổi 2 bên; Tủy đồ (bệnh viện Huyết học Truyền máu): hình ảnh nhiễm trùng, theo dõi hội chứng thực bào máu Chẩn đoán của bệnh viện Hồng Đức: Nhiễm trùng huyết từ áp xe cơ thắt lưng chậu (T), rối loạn đông máu, theo dõi viêm đa cơ tự miễn Bệnh nhân được điều trị truyền tĩnh mạch (TTM) với dịch truyền, albumin, vancomycin 2g/ngày x 4 ngày, imipenem 2g/ngày x 4 ngày, levofloxacin 0,5g/ngày x4 ngày Sau đó được chuyển đền bệnh viện Chợ Rẫy (BVCR) ngày 13/10/2011vì vượt quá khả năng điều trị

Diễn tiến tại khoa Cấp cứu BVCR

- 13/10/2011 (13:40) Nhập viện khoa cấp cứu

BVCR trong tình trạng, tiếp xúc được, sinh hiệu: mạch (M) 112 l/ph, huyết áp (HA) 110/70mmHg, nhịp thở 22 l/ph, nhiệt độ (To) 39oC, da xanh, niêm nhạt, vàng da, vàng mắt, ấn đau ½ bụng (T), gan to mấp mé bờ sườn (P) Mảng xuất huyết dưới da rải rác 2 chân

Xét nghiệm cận lâm sàng tại cấp cứu: Siêu âm: có một khối ở thành bụng vùng hông (T) nghi khối áp xe, ít dịch tự do trong ổ bụng XQ phổi: thâm nhiễm 1/3 giữa phổi (T) Công thức máu: hồng cầu (HC) 2.55T/L; Hematocrite (Hct) 21%; Bạch cầu (BC) 5.10 G/L (N: 79,4%; L:9,2%); Tiểu cầu (TC) 154G/L; Prothrombin time: 13,6s; INR: 1,16; Fibrinogen:1,67 g/L; TCK: 26,5s Chẩn đoán ban đầu tại khoa cấp cứu là

“Theo dõi áp xe cơ Psoas (T), viêm đa cơ, rối loạn đông máu” Xử trí: truyền 02 đơn vị hồng cầu lắng (350ml/đơn vị), kháng sinh Imipenem 1g (TTM), Peflaxin 0,4g 1 lọ (TTM) Chỉ định chụp DSA mạch máu vùng thắt lưng – chậu (T) lúc 16:30 - 13/10/2011 với kết quả của DSA: xuất huyết trong cơ Psoas (T), được làm thuyên tắc động mạch thắt lưng (T) qua catheter (Transcatheter Arterial Embolization – TAE) Sau đó bệnh nhân được chuyển đến khoa Bệnh Nhiệt Đới điều trị với chẩn đoán “Nhiễm trùng

Trang 3

huyết chưa rõ tiêu điểm – Rối loạn đông máu –

Tụ máu vùng cơ psoas (T)”

Diễn tiến tại khoa Bệnh Nhiệt Đới

– 13/10/2011 (20:50) Bệnh nhân tỉnh, sốt

39o C, thở nhanh 24 l/p Khó thở phải nằm đầu

cao, thở oxy qua sonde mũi 3 lít/phút Da

vàng, mắt vàng, niêm nhạt, phù toàn thân

Bụng mềm, ấn đau chủ yếu ½ bụng (T), gan

mấp mé hạ sườn (P)

Kết quả các xét nghiệm thục hiện tại khoa

Bệnh Nhiệt Đới: Procalcitonin (PCT): 2,54ng/ml;

CRP: 117.2 mg/L; ALT: 193U/L; AST: 367U/L;

BilTP: 1.84mg%; TT: 1.12mg%; GT: 0.72 mg%

Triglyceride: 499mg%; Ferritin > 30000 ng/ml;

NH3: 556 µg%; ANA (-); anti dsDNA (-); Soi

phân: nấm men (+); BC: 2,93G/L (N: 74%); Hct:

21,7 %; TC: 120G/L; BUN: 14mg%; Serum

creatinin: 0,81mg%; Na+: 130meq/l; K+: 3.0meq/l

Tổng phân tích nước tiểu: 50 hồng cầu/µl

Chẩn đoán xác định: hội chứng thực bào

máu thứ phát sau nhiễm trùng huyết từ áp xe cơ

Psoas (T) – Nhiễm nấm đường tiêu hóa.- Xuất

huyết trong khối cơ Psoas bên T đã được làm

TAE Điều trị: truyền dịch Natri clorur 0.9%

500ml, kháng sinh TTM vancomycin 2g/ngày,

imipenem 2g/ngày, fluconazole 0,15g (liều uống

1viên x2/ngày), neupogen 300µg tiêm dưới da

Chuyển phòng cách ly để hạn chế tình trạng

nhiễm trùng bội nhiễm

- 14/10/2011 (14:00): Bệnh nhân tỉnh, tiếp

xúc được, còn mệt nhiều sốt 39oC, Thở oxy

qua sonde mũi 4 lít/phút, phổi giảm âm phế

bào 2 đáy

- 15/10/2011 (8:30): Bệnh nhân tỉnh, đừ, To:

38oC, M: 87lần/phút, HA: 110/70mmHg Da niêm

nhạt Đau vùng hông lưng trái

Xét nghiệm: Hct: 18.7 % BC: 7.29 G/L TC: 96

G/L

Điều trị như trên và truyền máu 02 đơn vị

hồng cầu lắng Bệnh nhân bắt đầu được trị liệu

hội chứng thực bào máu theo phác đồ HLH –

2004 gồm dexamethasone 10mg/m2 da, chia 3

lần/ngày; cyclosporin (Neoral) 6mg/kg chia 2 lần/ngày Theo dõi công thức máu mỗi ngày

16/10/2011 đến 17/10/2011; Bệnh nhân tỉnh,

giảm sốt, ăn uống khá, sinh hiệu ổn, giảm đau hông lưng (T), giảm phù

Xét nghiệm: ALT: 114; AST: 114 U/L; BUN: 4; Cre: 0.74 mg%; K+: 2.6 mmol/L NH3:126 ug %; HCT: 29.3 %; BC: 10.05 G/L; TC: 159 G/L

Bệnh nhân được tiếp tục điều trị kháng sinh

và phác đồ HLH – 2004 như trên và được ngưng thuốc neupogen sau khi lượng bạch cầu trở về giá trị bình thường

18/10/2011 đến 20/10/2011: Bệnh nhân tỉnh,

sinh hiệu ổn, hết sốt, khối tụ máutrong cơ psoas (T) giảm nhiều, hết đau bụng vùng hông lưng (T), giảm phù nhiều

Xét nghiệm: PCR CMV(-) Nồng độ đáy vancomycin: 20.44 ug/ml Tủy đồ: thiếu máu đẳng sắc do nguyên nhân ngoại biên Nồng độ cyclosporin: Trước uống: (C0)176 ng/ml; Sau uống 2 giờ (C2): 1451 ng/ml Cấy máu (-)

Ngừng kháng sinh vancomycin và imipenem sau 8 ngày trị liệu Bệnh nhân xuất viện, tiếp tục điều trị ngoại trú với dexamethasone và cyclosporin Tái khám mỗi tuần để điều chỉnh liều thuốc, đánh giá kết quả điều trị và theo dõi diễn tiến lâm sàng của khối

tụ máu của cơ psoas (T)

BÀN LUẬN

Hội chứng thực bào máu là một rối loạn hiếm gặp với tỉ lệ mắc mới khoảng 1-2 trường hợp/1 triệu dân(6) Bệnh được mô tả đầu tiên năm 1952 như một rối loạn miễn dịch có tính di truyền ở trẻ em Sau đó người ta ghi nhận hội chứng thực bào máu có thể thứ phát sau các bệnh nhiễm khuẩn (vi khuẩn hoặc virus), ung thư, bệnh tự miễn… Nhiễm trùng thường là yếu

tố khởi phát (Trigger) cho bệnh cảnh hội chứng thực bào máu Biểu hiện lâm sàng của hội chứng thực bào máu đa dạng, triệu chứng thường trùng lắp với các bệnh lý khác nên việc chẩn đoán sớm là bước quan trọng ban đầu giúp trị liệu thành công và đây cũng là một thách thức

Trang 4

cho các bác sĩ lâm sàng vì tính chất ít gặp của

bệnh Bệnh nhân của chúng tôi trong báo cáo

này là một trường hợp sốt kéo dài 4 tháng trên

một bệnh nhân nam 37 tuổi, đã điều trị tại nhiều

bệnh viện trong thành phố, nhập viện trong tình

trạng sốt, đau bụng và đau vùng hông lưng trái,

mảng xuất huyết dưới da rải rác 2 chân, vàng

da, gan to Hình ảnh CT bụng cho thấy bệnh

nhân có một khối tụ dịch lớn vùng cơ psoas trái

chưa loại trừ xuất huyết đang tiến triển kèm

theo tình trạng nhiễm trùng huyết nặng, rối loạn

đông máu Bệnh nhân được hội chẩn với các

chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh và ngoại lồng

ngực – mạch máu, được xử trí ban đầu tại khoa

cấp cứu bằng chụp DSA và làm TAE thuyên tắc

mạch để khống chế việc chảy máu Hội chứng

thực bào máu có đặc trưng là tổn thương viêm

nhiều cơ quan, một tiến trình tái hoạt hóa kết

quả từ sự hoạt hóa quá mức và kéo dài của các

tế bào trình diện kháng nguyên (đại thực bào, tổ

chức bào) và các tế bào T CD8, sự tăng sản quá

mức và di chuyển lạc chỗ của các tế bào T(2)

Chẩn đoán hội chứng thực bào máu thứ phát

sau nhiễm trùng huyết trên bệnh nhân có khối

máu tụ trong cơ psoas bên (T) được thực hiện tại

khoa Bệnh Nhiệt Đới dựa trên tiêu chuẩn chẩn

đoán của HLH – 04 Tiêu chuẩn chẩn đoán của

hội chứng thực bào máu (Up to date 2011) gồm

9 tiêu chuẩn: (1) sốt > 7 ngày và nhiệt độ >38,5

oC; (2) lách to; (3) giảm ít nhất 2 dòng tế bào

máu; (4) tăng triglyceride hoặc giảm fibrinogen;

(5) có hình ảnh thực bào máu; (6) viêm gan; (7)

không có hoặc có ít tế bào NK hoạt động; (8)

tăng nồng độ ferritine máu > 500ng/mL; (9) CD

25 (SIL-2Repto) > 2400(7;4) Chẩn đoán xác định

hội chứng thực bào máu chỉ cần 5 trên 9 tiêu

chuẩn là đủ Bệnh nhân của chúng tôi trong báo

cáo này có 7 trên 9 tiêu chuẩn gồm: sốt kéo dài,

vàng da, vàng mắt, mảng xuất huyết da rãi rác,

gan – lách to, giảm 3 dòng tế bào máu, tăng

triglyceride và giảm fibrinogen máu, tăng

ferritine máu, đặc biệt kết quả tuỷ đồ làm tại

bệnh viện huyết học truyền máu có hình ảnh gợi

ý hiện tượng thực bào máu

Chẩn đoán hội chứng thực bào máu ở giai đoạn sớm thường khó khăn và là một thách thức cho các bác sĩ lâm sàng vì bệnh hiếm gặp và triệu chứng thường trùng lắp với các bệnh lý khác Đa số các trường hợp được phát hiện ở giai đoạn muộn khi bệnh tiến triển nặng với biến chứng suy đa phủ tạng không hồi phục và

tỉ lệ tử vong cao (4) Chẩn đoán hội chứng thực bào máu thứ phát sau nhiễm trùng huyết được đặt ra trên bệnh nhân là hợp lý vì có các dấu hiệu lâm sàng gợi ý như: Sốt kéo dài, da xanh, niêm nhạt,vàng da, vàng mắt, gan to, mảng xuất huyết da rải rác, giảm 3 dòng tế bào máu, tuỷ đồ thực hiện tại bệnh viện Huyết Học Truyền Máu

có hình ảnh gợi ý hiện tượng thực bào máu (4) Bệnh nhân có 7/9 tiêu chuẩn chẩn đoán theo HLH –2004(7;4;3)

Khó khăn trong điều trị hội chứng thực bào máu tỉ lệ thuận với thời gian chẩn đoán và phụ thuộc vào việc tìm ra tác nhân gây khởi phát (4;5) Điều trị hội chứng thực bào máu nguyên phát

có tính gia đình với hóa trị liệu và các thuốc ức chế miễn dịch chỉ kiểm soát bệnh tạm thời, và chỉ có thể điều trị khỏi với ghép tủy xương(1) Việc điều trị hội chứng thực bào máu thứ phát sau nhiễm trùng chủ yếu là hóa trị liệu miễn dịch (immunochemotherapy) và phác đồ HLH-2004 là phác đồ dùng phổ biến hiện nay, phối hợp 3 loại thuốc dexamethasone, cyclosporine, etoposide Đợt trị liệu trong 8 tuần với dexamethasone (10mg/m2 da/ ngày trong 2 tuần đầu, giảm dần liều từ tuần thứ 3 cho đến tuần thứ 8) và cyclosporine (liều 6mg/kg chia 2 lần trong ngày – đạt nồng độ 200µg/L – liều tối đa 1800 mg), etoposide điều trị trong 4 tuần (150mg/m2 TTM 2 lần /tuần trong 2 tuần đầu, liều 150mg/m2 TTM 1 lần/tuần trong 2 tuần kế tiếp) Đợt điều trị với các thuốc ức chế miễn dịch tương đối dài, thuốc có nhiều tác dụng phụ nên cần theo dõi chặt chẽ các biến chứng có thể xảy ra trong quá trình trị liệu để có thể xử trí kịp thời Trong báo cáo này bệnh nhân của chúng tôi ngoài việc điều trị kháng sinh phổ rộng,

Trang 5

thuốc kích thích bạch cầu hạt (Neupogen),

còn được điều trị với các thuốc theo phác đồ

HLH – 2004(7;5) với dexamethasone và

cyclosporin, chưa điều trị lên thang với

etoposide do tình trạng lâm sàng khá nặng đã

cải thiện sau điều trị Diễn tiến lâm sàng đáp

ứng tốt sau 3 ngày điều trị với dexamethasone

và cyclosporine, bệnh nhân hết sốt, giảm vàng

da, giảm đau hông lưng trái, các tế bào máu

dần trở về số lượng bình thường Bệnh nhân

xuất viện sau 9 ngày điều trị với chẩn đoán:

Hội chứng thực bào máu thứ phát sau nhiễm

trùng huyết trên bệnh nhân có khối tụ máu

trong cơ psoas (T) Chẩn đoán và điều trị sớm

đem lại hiệu quả cải thiện tiên lượng bệnh

Tuy nhiên việc sử dụng corticoid liều cao

cùng các thuốc ức chế miễn dịch cũng mang

lại nhiều tác dụng phụ nguy hiểm như: nhiễm

trùng, xuất huyết, rối loạn chức năng tim

mạch có thể gây tử vong cho người bệnh(4)

Do đó việc theo dõi thường xuyên, định kỳ

các dấu hiệu lâm sàng, cận lâm sàng trong

quá trình điều trị và theo dõi sự tái phát của

bệnh là rất cần thiết và quan trọng

KẾT LUẬN

Hội chứng thực bào máu thứ phát sau

nhiễm trùng huyết là một bệnh ít gặp, chẩn

đoán khó khăn do thể lâm sàng đa dạng và các

triệu chứng dễ trùng lấp với các bệnh lý khác

Bệnh có thể diễn tiến nhanh đến tổn thương đa

tạng và có tỉ lệ tử vong cao Việc chẩn đoán sớm

và điều trị kịp thời với các thuốc ức chế miễn dịch góp phần cải thiện tỉ lệ tử vong Hiện nay Trường hợp hội chứng thực bào máu thứ phát sau nhiễm trùng huyết trên bệnh nhân có tụ máu trong cơ psoas được điều trị thành công trong báo cáo này có góp phần của việc chẩn đoán sớm và sử dụng kịp thời các thuốc ức chế miễn dịch theo phác đồ HLH -2004 Tuy vậy các thuốc ức chế miễn dịch điều trị kéo dài có nhiều tác dụng phụ nguy hiểm nên cần được theo dõi chặt chẽ định kỳ đồng thời với việc theo dõi sự tái phát của bệnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Allen M, De Fusco C, Legrand F, Clementi R, Conter V, Danesino C, Janka G, Aricò M (2001) Familial hemophagocytic lymphohistiocytosis: how late can the onset be? Haematologica 86:499–503

2 Filipovich AH (2009) Hemophagocytic lymphohistiocytosis (HLH) and related disorders Hematology p.127-131

3 Janka GE (2007) Familial and acquired hemophagocytic lymphohistiocytosis Eur J Pediatr 166:95–109 doi: 10.1007/s00431-006-0258-1

4 Jordan MB, Allen CE, Weitzman S, Filipovich AH and McClain

KL (2011) How we treat hemophagocytic lymphohistyocytosis Blood journal – Prepublished online August 9, 2011

5 McClain K, Webb D, Winiarski J, Janka G (2007) HLH-2004: Diagnostic and therapeutic guidelines for hemophagocytic lymphohistiocytosis Pediatr Blood Cancer 48:124–131 doi: 10.1002/pbc.21039

6 McClain KL (2006), Diseases of Childhood, Section V-Neoplastic

- Chapter 314-Histiocytic Proliferative Diseases

7 McClain KL, (2011), Hemophagocytic lymphohistiocytosis, UpToDate

Ngày đăng: 21/01/2020, 22:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w