1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phẫu thuật nội soi mở thông sàn não thất ba kết hợp đốt đám rối mạch mạc não thất bên trong điều trị đầu nước tắc cống não bẩm sinh ở trẻ em

5 113 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 310,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đề tài này với mục tiêu nhằm nghiên cứu hiệu quả điều trị của phẫu thuật nội soi mở thông sàn não thất ba kèm đốt đám rối mạch mạc não thất bên ở trẻ đầu nước tắc cống não bẩm sinh. Nghiên cứu can thiệp các trường hợp trẻ đầu nước tắc cống não bẩm sinh nhập viện và điều trị tại khoa Ngoại Thần Kinh, bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 01/05/2013 đến 30/06/2014.

Trang 1

ĐỐT ĐÁM RỐI MẠCH MẠC NÃO THẤT BÊN   TRONG ĐIỀU TRỊ ĐẦU NƯỚC TẮC CỐNG NÃO BẨM SINH Ở TRẺ EM 

Nguyễn Duy Khải*, Đặng Đỗ Thanh Cần* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Nghiên cứu hiệu quả điều trị của phẫu thuật nội soi mở thông sàn não thất ba kèm đốt đám rối 

mạch mạc não thất bên ở trẻ đầu nước tắc cống não bẩm sinh. 

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả tiến cứu can thiệp các trường hợp trẻ đầu nước tắc cống não bẩm sinh 

nhập viện và điều trị tại khoa Ngoại Thần Kinh, bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 01/05/2013 đến 30/06/2014. 

Kết  quả:  Qua  nghiên  cứu  27  trường hợp đầu nước tắc  cống não bẩm  sinh được  phẫu  thuật nội  soi  mở 

thông sàn não thất ba kèm đốt đám rối mạch mạc não thất bên, tỉ lệ thành công là 81,5% với thời gian theo dõi  trung bình là 8.1 ± 0,6 tháng. Tỉ lệ thành công ở trẻ nhỏ hơn 1 tuổi là 81,8%, ở trẻ lớn hơn 1 tuổi là 80%. Phẫu  thuật không có ca tử vong hay di chứng thần kinh, biến chứng nhẹ thoáng qua xuất hiện ở 29,6% bệnh nhân.  

Kết luận: Điều trị bệnh đầu nước tắc cống não bẩm sinh bằng phương pháp phẫu thuật nội soi mở thông 

sàn não thất ba kèm đốt đám rối mạch mạc não thất bên có tỷ lệ thành công cao. Đốt đám rối mạch mạc não thất 

bên cải thiện hiệu quả của nội soi mở thông sàn não thất ba ở trẻ tắc cống não bẩm sinh nhỏ hơn 1 tuổi. 

Từ khóa: tắc cống não bẩm sinh, phẫu thuật nội soi mở thông sàn não thất ba kèm đốt đám rối mạch mạc 

não thất bên. 

ABSTRACT 

ENDOSCOPIC THIRD VENTRICULOSTOMY COMBINED WITH CHOROID PLEXUS  

CAUTERIZATION IN THE TREATMENT OF CONGENITAL AQUEDUCTAL STENOSIS 

Nguyen Duy Khai, Dang Do Thanh Can  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 139 – 143 

Objectives:  Study  the  outcome  of  endoscopic  third  ventriculostomy  combined  with  choroid  plexus 

cauterization in the treatment of congenital aqueductal stenosis. 

Methods: All cases of congenital aqueductal stenosis at Children’s hospital 2 from May 1 st  2013 to June 

30 th  2014. 

Results: Twenty‐seven patients met the study criteria and endoscopic third ventriculostomy combined with 

choroid plexus cauterization was performed. Treatment was successful in 81.5% of the patients, the mean follow‐

up was 8,1 ± 0,6 tháng. The success rate of patients younger than 1 year is 81,8%, of older than 1 year is 80%.  The mild complications of procedure is 29,6% of patients. 

Conclusions:  Congenital  aqueductal  stenosis  is  the  good  candidate  for  endoscopic  third  ventriculostomy 

combined  with  choroid  plexus  cauterization.  Choroid  plexus  cauterization  improves  the  outcome  in  patients  younger than 1 year. 

Key words: congenital aqueductal stenosis, endoscopic third ventriculostomy combined with choroid plexus 

cauterization. 

* Khoa Ngoại Thần Kinh, Bệnh viện Nhi Đồng 2  

Tác giả liên lạc: BS.Nguyễn Duy Khải;   ĐT: 0919121426,   Email: kdng14@gmail.com 

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Đầu nước (não úng thủy) là tình trạng bệnh 

lý  nguy  hiểm,  đe  dọa  tính  mạng  và  làm  giảm 

chất lượng cuộc sống của bệnh nhân (BN). Đây 

là  bệnh  ngoại  thần  kinh  nhi  thường  gặp  nhất, 

ước tính khoảng 40 – 50% các lượt khám và điều 

trị hàng năm tại các trung tâm Ngoại Thần Kinh 

Nhi(1).  Đầu  nước  (ĐN)  hiện  nay  được  điều  trị 

chủ  yếu  bằng  hệ  thống  ống  dẫn  (shunt)  có  van 

kiểm soát áp lực một chiều. Tuy nhiên, thất bại 

của shunt năm đầu lên đến 30 – 40% và 1% số trẻ 

ĐN đã đặt shunt tử vong mỗi năm tiếp theo(1).  

Để hạn chế biến chứng shunt, phẫu thuật nội 

soi  mở  thông  sàn  não  thất  ba  (PTNSMTSNTB) 

đang  được  nghiên  cứu  nhiều  để  điều  trị  ĐN 

thay  thế  shunt(1,11).  PTNSMTSNTB  thành  công 

hơn 75% với trẻ đầu nước tắc cống não bẩm sinh 

(ĐNTCNBS), nhưng kém hiệu quả ở trẻ nhỏ hơn 

1  tuổi (1,4,11).  Warf  đề  nghị  PTNSMTSNTB  kèm 

đốt  đám  rối  mạch  mạc  não  thất  bên 

(ĐĐRMMNTB) để làm tăng hiệu quả điều trị ở 

trẻ nhỏ hơn 1 tuổi(13).  

 Hiện nay, chưa có báo cáo về hiệu quả của 

PTNSMTSNTB kèm ĐĐRMMNTB trong điều trị 

ĐNTCNBS tại Việt Nam. Vì vậy, chúng tôi tiến 

hành nghiên cứu này trong nỗ lực chung nhằm 

hạn chế phụ thuộc shunt ở bệnh ĐN trẻ em. 

Mục tiêu nghiên cứu 

 Nghiên cứu hiệu quả điều trị của phẫu thuật 

nội soi mở thông sàn não thất ba kèm đốt đám 

rối  mạch  mạc  não  thất  bên  ở  trẻ  đầu  nước  tắc 

cống não bẩm sinh. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu 

Tất  cả  bệnh  nhân  ĐNTCNBS  nhập  viện  và 

điều  trị  tại  khoa  Ngoại  Thần  Kinh,  bệnh  viện 

Nhi Đồng 2 TP. Hồ Chí Minh từ 01/05/2013 đến 

30/06/2014. 

Đầu nước do TCNBS gặp ở nhiều lứa tuổi, 

đa phần ở trẻ đầu nước tắc cống não nhỏ hơn 1 

tuổi,  nam  gặp  nhiều  hơn  nữ.  Biểu  hiện  lâm 

sàng thay đổi theo tuổi. Ở trẻ dưới 1 tuổi, triệu 

chứng thường diễn tiến nhanh hơn trẻ lớn với  vòng  đầu  to  nhanh  và  chậm  phát  triển  tâm  thần  vận  động.  40%  trẻ  >  1  tuổi  có  biểu  hiện  tăng  áp  lực  nội  sọ  cấp  tính.  Cộng  hưởng  từ  (CHT)  cần  thiết  để  hỗ  trợ  chẩn  đoán  và  điều  trị.  Trên  CHT  có  thể  khảo  sát  tốt  nhất  tình  trạng cống não ở mặt phẳng dọc giữa và có thể  đánh  giá  các  cấu  trúc  giải  phẫu  liên  quan  có  thể tiên lượng cho phẫu thuật. 

Phương pháp nghiên cứu 

Thiết kế nghiên cứu 

Nghiên cứu mô tả can thiệp tiến cứu 

Phương pháp và kỹ thuật mổ 

Bệnh  nhân  nằm  ngửa,  mê  nội  khí  quản,  tư  thế đầu cao 30o. Rạch da vùng trán, khoan sọ 1 lỗ 

và mở màng cứng. Đưa trocar và scope vào sừng  trán não thất cùng bên để vào não thất ba. Dùng  Lactate Ringer để bơm vào hệ thống não thất. Vị  trí mở thông là trọng tâm của tam giác giới hạn  bởi mỏm phễu tuyến yên và 2 thể núm vú. Dùng  kềm sinh thiết mở 1 lỗ trên sàn não thất ba, nong  rộng bằng bóng Fogarty, phải mở thông cả màng  Liliequist.  Nếu  sàn  não  thất  đong  đưa  là  có  sự  thông  thương  của  dịch  não  tủy.  Nếu  có  chảy  máu, bơm rửa bằng Lactate Ringer ngay tại vị trí  chảy máu hay dùng bóng Fogarty ép vào (mép 

lỗ mở). Rút nhẹ scope và ống Bugby với nguồn  điện  đơn  cực  có  cường  độ  thấp  nhất  để  ĐĐRMMNTB từ lỗ gian não thất đến sừng thái  dương  của  não  thất  bên.  Sau  khi  đốt  xong,  rút  scope,  đặt  miếng  Gelfoam  ở  vị  trí  vào  trên  vỏ  não, cầm máu bên ngoài đường vào và đóng vết 

mổ. Thực hiện tương tự ở bên còn lại. 

Đánh giá kết quả điều trị 

Đánh giá BN trong thời gian nằm hậu phẫu;  sau mổ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm và mỗi  năm  tiếp  theo.  Phẫu  thuật  thành  công:  bệnh  nhân cải thiện các triệu chứng của ĐN mà không  cần  can  thiệp  thêm  về  phẫu  thuật.  Phẫu  thuật  thất bại: các triệu chứng ĐN không cải thiện hay  diễn biến nặng hơn và phải cần can thiệp thêm 

Trang 3

ĐN; hoặc bệnh nhân tử vong do phẫu thuật. 

KẾT QUẢ 

Điều trị phẫu thuật 

Sàn não thất mỏng, quan sát được các cấu 

trúc mạch máu và thần kinh bên dưới ở 21 BN 

(78%),  dày  ở  6  BN  (22%).  Vị  trí  mở  lỗ  thông: 

trung  tâm  sàn  não  thất  trong  24  BN  (88,9%), 

lệch  sang  bên  và  ra  trước  ở  3  BN  (11,1%). 

Màng Liliequist quan sát được ở 20 BN (74%), 

không  quan  sát  được  ở  7  BN  (26%).  Sàn  não 

thất  đong  đưa  sau  khi  mở  thông  ở  100%  BN. 

Đốt  đám  rối  mạch  mạc  não  thất  bên:  không 

hoàn  toàn  (<  90%)  ở  24  BN  (88,9%)  và  hoàn 

toàn (≥ 90%) ở 3 BN (11,1%). 

Thời gian phẫu thuật trung bình là 83 ± 5.1 

phút,  ngắn  nhất  là  60  phút  và  dài  nhất  là  120 

phút. 

Biến  chứng  trong  lúc  phẫu  thuật:  4  BN 

(14,8%) bao gồm: chảy máu ít (14,8%) và 2 BN 

(7,4%)  chảy máu  vừa.  Xuất  huyết  trong  mổ  là 

chảy máu ít (các tia máu từ mép sàn não thất), 

vừa (chảy máu thành vòi rỉ rả từ các tĩnh mạch 

trên đường đi) và nhiều (cần phải truyền máu 

trong mổ). 

Biến  chứng  sau  phẫu  thuật:  xuất  huyết  não 

thất  gặp  ở  2  trường  hợp  chảy  máu  lượng  vừa 

(7,4%), sốt 3 BN (11,1%) tập trung ở các trường 

hợp chảy máu trong mổ và thời gian mổ lâu, vã 

mồ hôi sau mổ ở 2 BN thực hiện phẫu thuật lâu 

nhất (7,4%), chảy dịch não tủy qua vết mổ 5 BN 

(18,5%),  tụ  máu  dưới  màng  cứng  mạn  tính  ở  1 

BN  (3,7%). Các  biến  chứng sau  mổ  gặp  ở 8  BN 

(29,6%). 

Thời gian nằm hậu phẫu trung bình là 8 ± 2,1 

ngày, ngắn nhất 4 ngày, dài nhất là 20 ngày. 

Kết quả điều trị phẫu thuật 

27  BN  được  phẫu  thuật,  22  BN  thành  công 

(81,5%). Thời gian theo dõi trung bình là 8,1 ± 0,6 

tháng, ngắn nhất là 2 tháng, dài nhất là 15 tháng. 

Trong 5 BN cần đặt shunt có 4 bệnh nhân < 1 

tuổi  và  1  bệnh  nhân  >  1  tuổi  (18  tháng).  Tỉ  lệ 

thành công ở nhóm < 1 tuổi là 81,8% và nhóm > 1  tuổi là 80%. 

Trong các BN thất bại, 4 BN đặt shunt ở các  ngày  hậu  phẫu  thứ  3,  5,  8,  11  vì  dò  dịch  não  tủy  không  đáp  ứng  sau  khi  khâu  lại  vết  thương và các triệu chứng ĐN không cải thiện. 

1  BN  đặt  shunt  sau  mổ  1  tháng  vì  các  triệu 

chứng ĐN tái phát. 

BÀN LUẬN  Phẫu thuật 

Đặc tính sàn não thất 

Sàn  não  thất  mỏng  (21  BN)  có  1  BN  chảy  máu  ít  (4,8%)  trong  lúc  mổ,  trong  khi  sàn  não  thất dày (6 BN) có 3 BN chảy máu ít (50%) và 2 

BN chảy máu vừa (33,3%). Sự khác biệt về biến  chứng  chảy  máu  ở  nhóm  sàn  não  thất  dày  và  mỏng là có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Kết quả  tương tự với(12). 

Vị trí mở lỗ thông trên sàn não thất 

Mở  lỗ  thông  ở  trung  tâm  sàn  não  thất  (24  BN) có 3 BN chảy máu ít (12,5%) trong lúc mổ,  trong khi mở lỗ thông lệch trung tâm (3 BN) có 1 

BN chảy máu ít (33,3%) và 2 BN chảy máu vừa  (66,7%).  Sự  khác  biệt  về  biến  chứng  chảy  máu  trong  mở  lỗ  thông  ở trung tâm sàn não  thất  và  lệch sang bên có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Kết  quả này tương đồng với Schoroeder HWS(11). 

Màng Liliequist 

Quan  sát  được  ở  20  bệnh  nhân  (74%).  Theo  Froelich và cộng sự(5), đây là cấu trúc rất thay đổi  theo từng bệnh nhân và làm giảm hiệu quả của  phẫu  thuật.  Thường  màng  này  có  2  lớp:  lớp  trung  não  và  lớp  gian  não.  Nếu  mở  lỗ  thông  ngay  giữa  sàn  não  thất  sẽ  gặp  lớp  gian  não  hướng  vuông  góc  với  động  mạch  thân  nền.  Trong  trường  hợp  mở  lỗ  thông  ra trước  hơn sẽ  gặp  lớp  trung  não,  lớp  này  thông  với  bể  giao  thoa. Nếu mở trên lớp trung não không đủ rộng 

sẽ làm hạn chế sự thông thương giữa não thất ba 

và bể trước cầu não, phẫu thuật sẽ dễ thất bại.  

Trang 4

Đốt đám rối mạch mạc não thất bên 

5 BN thất bại đều ĐĐRMMNTB không hoàn 

toàn. Thao bằng ống soi cứng làm khó tiếp cận 

hết đám rối mạch mạc, đặc biệt là khu vực sừng 

thái dương của não thất bên. Kết quả phẫu thuật 

ở nhóm ĐĐRMMNTB hoàn toàn và không hoàn 

toàn có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê (p < 

0,05). Điều này tương đồng với Kulkarni(8). 

Thời gian phẫu thuật 

Từ  60  đến  120  phút,  trung  bình  là  83  ±  5,1 

phút, tương đồng với Kulkarni(7). 

Các biến chứng của phẫu thuật 

Không có xuất huyết nặng hay tử vong (0%). 

Các biến chứng nhẹ thoáng qua gồm: xuất huyết 

não  thất  7,4%,  sốt  11,1%,  chảy  dịch  não  tủy 

18,5%,  vã  mồ  hôi  7,4%,  tụ  máu  mạn  tính  3,7%. 

Như  vậy,  mẫu  nghiên  cứu  không  có  các  biến 

chứng nặng gây tử vong hay di chứng thần kinh 

vĩnh  viễn,  các  biến  chứng  nhẹ  thoáng  qua  xuất 

hiện ở 8 bệnh nhân (29,6%). Kết quả này tương 

đồng với(2,7,10). 

Kết quả phẫu thuật 

Bảng 1: Kết quả điều trị so với các nghiên cứu khác  

công

chung

< 1 tuổi, đốt (+)

< 1 tuổi, đốt (-)

> 1 tuổi, đốt (+)

> 1 tuổi, đốt (-)

Mẫu nghiên

cứu

81,5 81,8 80

Khi so sánh kết quả của mẫu nghiên cứu với 

tỉ  lệ  dự  đoán theo  công thức  của  Kulkarni thấy 

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Mẫu 

nghiên cứu của chúng tôi chỉ khác biệt so với dự 

đoán  là  có  thêm  ĐĐRMMNTB.  Như  vậy, 

ĐĐRMMNTB  đã  làm  tăng  tỉ  lệ  thành  công  của 

mẫu nghiên cứu. 

Các  ca  thất  bại  của  chúng  tôi  xảy  ra  trong 

vòng 1 tháng. Thất bại sớm thường là do cơ chế 

hấp thu dịch não tủy kém, muộn là do tắc lại lỗ 

mở trên sàn não thất(4,5). 

Trước đây, PTNSMTSNTB đơn thuần cho tỉ 

lệ thành công thấp ở nhóm trẻ < 1 tuổi(1,4,11).  Theo  Nishiyama(9)  khả  năng  hấp  thu  của  khoang  dưới  nhện  cải  thiện  sau  mổ  vài  tháng.  Gallo  và  cộng  sự(6)  cho  rằng  2  tháng  đầu  đời  là  mốc thời gian quan trọng để các hạt màng nhện  trưởng  thành  và  khoang  dưới  nhện  phát  triển  đáng  kể  khả  năng  hấp  thu.  Theo  Fritsch(4)  có  2  nguyên nhân chính làm PTNSMTSNTB hay thất  bại  ở  nhóm  trẻ  <  1  tuổi:  tăng  áp  lực  nội  sọ  hay  làm  rộng  các  khớp  sọ  dễ  hơn  là  tạo  áp  lực  ép  dịch  não  tủy  qua  lỗ  thông  sàn  não  thất  và  tình  trạng rối loạn hấp thu DNT ở các trẻ có tiền sử  viêm  màng  não  hay  xuất  huyết.  Kulkarni(8)  cho  rằng  tuổi  là  yếu  tố  quan  trọng  nhất  quyết  định  hiệu quả của phẫu thuật. 

Khi  so  sánh  kết  quả  ở  trẻ  <  1  tuổi  của  mẫu  nghiên cứu với tỉ lệ dự đoán theo công thức của  Kulkarni thấy sự  khác  biệt  có  ý nghĩa thống  kê  (p < 0,01), trong khi không có sự khác biệt mang 

ý nghĩa thống kê với kết quả của Warf (p < 0,05).  Như  vậy,  ĐĐRMMNTB  cải  thiện  hiệu  quả  của  PTNSMTSNTB ở nhóm trẻ < 1 tuổi.  

Không có sự khác biệt mang ý nghĩa thông 

kê  giữa  mẫu  nghiên  cứu  với  dự  đoán  theo  Kulkarni và Phạm Anh Tuấn (p < 0,05) ở nhóm  trẻ > 1 tuổi. Như vậy, ĐĐRMMNTB không cải  thiện kết quả ở bệnh nhân > 1 tuổi. 

KẾT LUẬN 

Đầu nước tắc cống não bẩm sinh được điều  trị  bằng  phẫu  thuật  nội  soi  mở  thông  sàn  não  thất ba kèm đốt đám rối mạch mạc não thất bên 

có tỉ lệ thành công khá cao là 81,5%. Phẫu thuật 

có tính an toàn, không có bệnh nhân tử vong hay 

di  chứng  nặng  về  thần  kinh.  Biến  chứng  nhẹ  thoáng qua chiếm tỉ lệ 29,6%. Đốt đám rối mạch  mạc  não  thất  bên  cải  thiện  rõ  rệt  hiệu  quả  của  phẫu  thuật  nội  soi  mở  thông  sàn  não  thất  ba  ở  trẻ tắc cống não bẩm sinh < 1 tuổi. 

Trang 5

1 Anderson  CER,  Walker  LM  (2008).  Neuroendoscopy.  In: 

Albright  AL,  Pollack  IF,  Aldelson  PH  (eds).  Principles  and 

practice  of  pediatric  neurosurgery,  Vol.  1,  2 nd   edition,  pp  131‐

144. Thieme Medical Publishers, Inc, New York.  

2 Bouras  T  et  al  (2011).  Complications  of  endoscopic  third 

ventriculostomy. J Neurosurg Pediatrics, 7: 643‐649.  

3 Cinalli G, Spennato P, Aliberti F, Cianciulli E (2010). Aqueductal 

stenosis.  In:  Mallucci  C,  Sgouros  S  (eds).  Cerebrospinal  fluid 

disorders, 1 st  edition, pp 154‐188. Informa Healthcare USA, Inc, 

New York.  

4 Fritsch MJ et al (2002). Endoscopic intraventricular surgery for 

treatment of hydrocephalus and loculated CSF space in children 

less than one year of age. Pediatr Neurosurg, 36:183‐188.  

of  Liliequist’s  membrane:  a  complex  and  variable  structure  of 

the basal cisterns. Neurosurgery, 63 ONS Suppl: 1–9.  

6 Gallo  P  et  al,  2010.  Endoscopic  third  ventriculostomy  in 

obstructive infantile hydrocephalus: remarks about the so‐called 

‘unsuccessful cases’.  Pediatr Neurosurg, 46: 435–441.   

7 Kulkarni AV et al (2014). Endoscopic third ventriculostomy and 

choroid  plexus  cauterization  in  infans  with  hydrocephalus:  a 

retrospective Hydrocephalus Clinical Research Network Study. 

J Neurosurg Pediatrics, 13:31‐71.  

8 Kulkarni AV (2010). Predicting success of ETV in children with 

hydrocephalus.  In:  Mallucci  C,  Sgouros  S  (eds). Cerebrospinal 

fluid disorders, 1 st  edition, pp 526‐527. Informa Healthcare USA, 

Inc, New York.  

9 Nishiyama  K  et  al,  1998.  Changes  in  cerebrospinal  fluid  hydrodynamics  following  third  ventriculostomy  for  shunt‐

1027–1031.   

10 Phạm Anh Tuấn (2008). Điều trị đầu nước tắc nghẽn bằng phẫu 

thuật nội soi mở thông sàn não thất III. Luận văn tốt nghiệp thạc 

sỹ y học, tr 1‐69. Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam.  

11 Schoroeder HWS et al (2002). Complications of endoscopic third  ventriculostomy. J Neurosurg, 96:1032–1040.  

12 Sufianov  AA  et al  (2010).  Endoscopic  third  ventriculostomy in  patients  younger  than  2  years:  outcome  analysis  of  41 

hydrocephalus cases. J Neurosurg Pediatrics, 5: 392–401.  

13 Warf  B  et  al  (2012).  Long‐term  outcome  for  endoscopic  third  ventriculostomy  alone  or  in  combination  with  choroid  plexus  cauterization  for  congenital  aqueductal  stenosis  in  African  infants. J Neurosurg Pediatrics, 10: 108–111.  

  Ngày nhận bài báo       12/10/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   27/10/2014  Ngày bài báo được đăng:    5/12/2014   

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 22:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w