Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định tổn thương mô bệnh học của polyp túi mật và đưa ra phân loại mô học của polyp túi mật. Nghiên cứu mối liên quan giữa polyp cholesterol và Cholesterol máu, Triglyceride, LDL, HDL, chỉ số BMI, tuổi > 50 ở bệnh nhân nữ.
Trang 1THƯƠNG TỔN MÔ BỆNH HỌC CỦA POLYP TÚI MẬT
VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ
Nguyễn Đình Tuyến*, Trần Thiện Trung**
TÓM TẮT
Mục tiêu: Xác định tổn thương mô bệnh học của polyp túi mật và đưa ra phân loại mô học của polyp túi
mật Nghiên cứu mối liên quan giữa polyp cholesterol và Cholesterol máu, Triglyceride, LDL, HDL, chỉ số BMI, tuổi > 50 ở bệnh nhân nữ
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiền cứu 109 bệnh nhân có chỉ định cắt túi mật nội
soi do polyp từ tháng 8 năm 2009 đến tháng 2 năm 2011 tại Bệnh viện đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
Dữ liệu thu thập dựa vào các biến số: tuổi, giới, cholesterol máu, Triglyceride, LDH, LDL, chỉ số BMI, kết quả sau mổ và chẩn đoán mô bệnh học
Kết quả: Trong 109 bệnh nhân được mổ cắt túi mật nội soi, tổn thương mô bệnh học gồm: 56,9% polyp
cholesterol, 16,5% polyp tăng sản, 5,5% là polyp viêm, polyp tuyến và ung thư biểu mô tuyến chiếm 5,5% Polyp tuyến biểu hiện nghịch sản 50% (3/6) Tất cả các trường hợp ung thư biểu mô tuyến và polyp nghịch sản được tái khám sau 1 tháng và 3 tháng đều sinh hoạt bình thường, ăn kém, không sụt cân, siêu âm bụng bình thường và chưa có bệnh nhân nào có biểu hiện di căn xa Không có trường hợp nào tử vong Cholesterol máu trung bình là 197,9 ± 4,6; triglyceride 144 ± 7,7; HDL: 5,07 ± 3,5; LDL: 113,2 ± 4,1; chỉ số BMI: 2,08 ± 0,04
Kết luận: Phân loại mô học hay gặp của các tổn thương dạng polyp trong nghiên cứu này là: polyp
cholesterol, polyp viêm, polyp tăng sản, polyp tuyến, ung thư biểu mô tuyến Trong 6 trường hợp ung thư biểu
mô tuyến có 1 biệt hóa nhẹ, 3 biệt hóa vừa, và 2 biệt hóa kém Trong 6 trường hợp polyp tuyến có 1 nghịch sản nhẹ, 1 nghịch sản vừa, 1 nghịch sản nặng Polyp cholesterol không có liên quan đến cholesterol, triglyceride, HDL, LDL, giới tính và chỉ số khối BMI
Từ khóa: Mô bệnh học polyp túi mật; Các yếu tố nguy cơ
ABSTRACT
HISTOPATHOLOGIC LESIONS OF GALLBLADDER POLYPS AND RISK FACTORS
Nguyen Dinh Tuyen, Tran Thien Trung * Y hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 – No 2 – 2011: 82 - 88
Object: The present study was designed to reliability of histopathologic lesions and classification of PLGs
The corelation between polyp cholesterol with blood cholesterol, triglyceride, LDH, LDL, BMI, female, age >50
Patients and method: 109 patients in Ho Chi Minh city of University medical center from August 2009 to
February 2011 were reviewed by laparoscopic cholestectomy Data were collected regarding the patient’s gender, age, blood cholesterol, Triglyceride, LDH, LDL, Body Mass Index, the result of postoperation and histopathological diagnosis
Result: 109 patients were reviewed by laparoscopic cholestectomy, histopathologycal lesions composes:
56.9% cholesterol polyp, 16.5% hyperplasia polyp, 5.5% inflammatory polyp; 5.5% adenomatous polyp; 5.5% adenocarcinoma All patients of adenomatous polyp with dysplasia and adenocarcinoma were reexammined after one month and three months They had no weightless, anorexia, normal in abdominal ultrasonography and none
* Khoa ngoại BVĐK Quảng Ngãi ** Bộ môn Ngoại, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Đình Tuyến ĐT: 0914011412 Email: bstuyen_qn@yahoo.com
Trang 2of them has distant moving symtems All patients were still alive The average of blood cholesterol was 197.9 ± 4.6; triglyceride 144 ± 7.7; HDL: 5.07 ± 3.5; LDL: 113.2 ± 4.1; BMI : 2.08 ± 0.04
Conclusion: Classification of histopathologic lesions of gallbladder polyp in this study was cholestorol polyp,
inflammatory polyp, hyperplastic polyp, adenomatous polyp, adenocarcinoma polyp In six cases adenocarcinoma polyp composes: one welled diffirentiation, three average diffirentiation and two poored diffirentiation In six cases
of adenomatous polyp includings: one welled dysplasia, one average dysplasia and one poored dysplasia There was no relationship between cholesterol polyp with blood cholesterol, triglyceride, HDL, LDL, female sex, age > 50 and Body Mass Index
Keywords: Histopathologic lesions of PLGs; Risk factors
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tổn thương polyp túi mật chiếm khoảng 5%
trong dân số và thay đổi từ 1,3 đến 6,9% cho cả 2
giới trong cắt túi mật Bản chất của tổn thương
có thể là u hoặc dạng u (giả u) Trong tổn
thương u thì polyp tuyến chiếm chủ yếu khoảng
5%, trong tổn thương dạng u thì polyp
cholesterol gặp nhiều nhất chiếm tỉ lệ từ
50-90%(1,4,19) Theo phân loại kinh điển vào năm 1970
về mô học của Christensen(5), chia polyp ra làm
u lành và giả u U lành gồm: u có nguồn gốc từ
biểu mô như u dạng tuyến (tuyến ống, tuyến
nhánh, tuyến ống nhánh), u có nguồn gốc
không phải biểu mô (u sợi, u mỡ, u cơ trơn, u
mạch ) Giả u như u tăng sản dạng tuyến và
dạng u cơ tuyến, u lạc chỗ (niêm mạc dạ dày,
gan, tụy, niêm mạc ruột), polyp viêm, polyp
cholesterol và các dạng hỗn hợp như nhiễm ký
sinh trùng, viêm u hạt dạng mỡ vàng…
Khả năng ác tính của polyp túi mật rất khó
tiên lượng và chẩn đoán Chỉ định phẫu thuật
cắt túi mật thường dựa vào siêu âm bụng và lâm
sàng Vì vậy, hiểu biết về các tổn thương mô
bệnh học của polyp túi mật giúp chọn lựa
phương pháp điều trị thích hợp và tiên lượng
của bệnh nhân
Trong nguyên nhân hình thành polyp
cholesterol, các yếu tố có liên quan đến
cholesterol máu, triglyceride, LHL, LDH, BMI,
tuổi > 50, giới tính hay không? là nội dung
chúng tôi muốn đề cập trong bài viết này
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong thời gian từ tháng 8/2009 đến tháng
2/2011, tại Bệnh viện đại học Y Dược thành phố
Hồ Chí Minh có 109 bệnh nhân polyp túi mật được chỉ định phẫu thuật cắt túi mật nội soi Các biến số thu thập gồm: tuổi ≥ 50, giới nữ, polyp cholesterol, cholesterol, triglyceride, LDH, LDL, béo phì (BMI > 30) Tất cả các mẫu bệnh phẩm được gửi làm giải phẫu bệnh
Nghiên cứu tiền cứu cắt ngang, kiểm định bằng test chi bình phương nếu mẫu lớn, kiểm định chính xác fisher nếu mẫu nhỏ, phân tích tương quan hồi qui logistic Giá trị p < 0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê và R < 0,3 được xem là không có mối tương quan hoặc tương quan rất yếu
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm bệnh nhân và các thương tổn mô bệnh học của polyp túi mật
109 bệnh nhân cắt túi mật nội soi gồm 39 nam, 70 nữ Tuổi trung bình 43,75 ± 1,1 (17- 87)
Bảng 1: Kết quả tổn thương mô bệnh học của polyp
túi mật
Polyp Số bệnh nhân
(n=109)
Tỉ lệ (%)
Nhận xét: 11/109 chẩn đoán trước mổ là
polyp nhưng kết quả mô bệnh học sau mổ là tổ chức viêm 6/106 polyp tuyến có 1 nghịch sản nhẹ, 1 nghịch sản vừa, và 1 nghịch sản nặng Tất
cả hiện nay vẫn ổn định
Bảng 2: Mức độ biệt hóa của ung thư biểu mô tuyến
Mức độ biệt hóa Số bệnh nhân (n=6) Tỉ lệ (%)
Trang 3Biệt hóa tốt 1 16,7
Nhận xét: 2/6 trường hợp biệt hóa kém
Những trường hợp trên vẫn còn sống chưa có
trường hợp nào có biểu hiện di căn xa
Các yếu tố nguy cơ của polyp cholesterol
Bảng 3: Mối liên quan giữa polyp cholesterol và các
yếu tố nguy cơ
Các yếu tố Polyp cholesterol p R
BMI (> 30) 15 0.53 0,01
Cholesterol 179,91 ± 4,62 0,58 0,167
Triglyceride 144 ± 7,7 0,35 0,03
HDL 5, 07 ± 3,5 0.5 0,152
LDL 113,18 ± 4,1 0.27 0,09
Nhận xét: R < 0,3 nên các yếu tố trên không
có mối iên quan đến polyp cholesterol
BÀN LUẬN
Mô bệnh học polyp túi mật
Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới(14),
u túi mật và đường mật ngoài gan bao gồm:
(1) U có nguồn gốc từ biểu mô: u lành tính
và u ác; (2) U nội tiết: u carcinoid, u hỗn hợp
giữa carci nôm tuyến và carcinoid,…;(3) U có
nguồn gốc không phải biểu mô; (4) U hỗn hợp;
(5) U không phân loại; (6) U thứ phát; và (7)
Những tổn thương dạng u
Như vậy theo phân loại u túi mật của tổ chức y tế
thế giới, trên 109 bệnh nhân của chúng tôi chỉ gặp
loại U có nguồn gốc từ biểu mô gồm polyp
tuyến, carcinôm tuyến; và những tổn thương
dạng u: polyp cholesterol, polyp tăng sản, polyp
viêm
Polyp tuyến
Polyp tuyến có các dạng tuyến ống, tuyến
nhánh, tuyến ống nhánh Polyp tuyến chiếm
khoảng 0,15% trong cắt túi mật, thường đơn độc
và có cuống, vị trí nằm ở thân, đáy hoặc cổ túi
mật Thường gặp ở nữ nhiều hơn nam, tỉ lệ nữ/
nam là 2,4/1 Polyp tuyến thường kết hợp với sỏi
túi mật và viêm túi mật mạn chiếm 80-100%
trường hợp Sỏi túi mật làm tổn thương lớp
niêm mạc túi mật có thể được coi là yếu tố nguy
cơ phát triển thành tiền ung thư Trong polyp tuyến phần lớn là tuyến ống, tuyến nhánh rất ít gặp chỉ khoảng 0,08% và thường là lành tính(8,13) Theo Petrovic(13), polyp tuyến nhánh gặp ở
nữ, tuổi từ 17- 73 và hầu như không có triệu chứng Polyp được chẩn đoán bằng siêu âm hoặc sau khi cắt túi mật, kích thước thay đổi từ 2- 4,5 cm, đơn độc có cuống hoặc không có cuống Khả năng ác tính của polyp tuyến nhánh
có thể xảy ra ở nhiều vị trí của đường tiêu hóa Theo Farinon và cs(6), trên 2154 bệnh nhân cắt túi mật có 0,4% (9/2154) polyp tuyến Tác giả chia polyp tuyến gồm: tuyến ống, tuyến nhánh và loại tuyến hỗn hợp giữa 2 loại trên Trong đó, polyp tuyến ống gặp nhiều nhất 6/9 trường hợp Muto và cs(9) gặp 1,4% (3/207) polyp tuyến trong tất cả các polyp túi mật Koga và cs(7) tìm thấy 2,5% (1/40) polyp tuyến
Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới(14), polyp tuyến là loại u dạng tuyến lành tính bao gồm những tế bào tương tự với biểu mô của đường mật gồm loại tuyến nhú và không phải tuyến nhú
Polyp tuyến ống- nhánh túi mật giống như polyp tuyến của đại tràng và tùy theo đặc tính của polyp, người ta phân ra thành các loại: tuyến môn vị dạ dày, tuyến ruột, tuyến đường mật Tuyến ống phát triển từ lớp niêm mạc giống hình bậc thang có màu tím và tuyến nhánh xuất hiện với hình sùi như hoa cải(13) Polyp tuyến chuyển sản được coi là tiền ung thư Một số tác giả khác(2,6,12,15) cũng nhận thấy polyp tuyến có kích thước lớn thì khả năng ung thư nhiều hơn Theo Trivedi(19), tất
cả polyp tuyến tiến triển thành ung thư đều
có đường kính > 12cm
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 5,5% (6/109) trường hợp polyp tuyến, chủ yếu là polyp tuyến ống, trong số này u tuyến ống nhánh nghịch sản nhẹ-1; u nghich sản vừa-1,
và nghịch sản nặng là 1; 1/6 trường hợp có sỏi kết hợp
Polyp cholesterol
Trang 4Polyp cholesterol chiếm 50-90% của tất cả
các dạng polyp, thường gặp ở nữ (75%), tuổi
40-50, màu vàng có cuống và thường là đa polyp
Polyp cholesterol được biết như u nhú túi mật
nhưng không phải là polyp thật do lắng đọng cholesterol ester trong lớp cận niêm Bào tương
có nhiều hạt lipid và được phủ bởi bọt bào
Hình1 Polyp cholesterol Nguồn: Takii Y, 1994(18)
Theo Myers RP(11), trong bệnh polyp túi mật
thì polyp cholesterol chiếm 2/3 các trường hợp,
đường kính trung bình < 5 mm và không bao
giờ có kết hợp với sỏi cholesterol
Takii(18) báo cáo năm 1994 về một trường hợp
hiếm gặp, bệnh nhân vàng da tắc mật, đoạn cuối
ống mật chủ có polyp cholesterol l4 mm gây tắc
nghẽn, và hai polyp trong đường mật Tác giả
cho rằng polyp này có cuống nhỏ, mỏng và dễ
dàng gây nghẹt ở đoạn cuối ống mật chủ
Trong nghiên cứu của chúng tôi, polyp
cholesterol chiếm tỉ lệ 56,9% (62/109), có cuống
mảnhvà chủ yếu là đa polyp Không có trường hợp nào gây vàng da tắc mật
Polyp tăng sản
Trong nghiên cứu của chúng tôi, polyp tăng sản gặp 16,5% (18/109) trường hợp Polyp tăng sản thường gặp ở nữ, xuất độ nữ/nam là 13:1 Polyp tăng sản dạng tuyến là giả polyp lành tính, chưa thấy khả năng ác tính Tổn thương của polyp tăng sản gồm có các ống và hốc tuyến
có hình thái rõ ràng được lót bằng biểu mô trụ đơn, bào tương sáng, nhân tròn nhỏ, mô đệm phù nề thâm nhập viêm
Hình 2 Polyp tăng sản, BN Nguyễn thị T, 50 T, số HS: A10-0043992
chiếm tỉ lệ 5,5% (6/109) trường hợp Polyp viêm
Trang 5chiếm 1,7-15% của tất cả các tổn thương polyp
lành tính, thường kết hợp với viêm túi mật mạn
Kích thước khoảng 3-15 mm, màu nâu xám đỏ,
đơn độc không có cuống Niêm mạc túi mật
tăng sản dạng polyp, bề mặt phủ bằng biểu mô
trụ đơn, bên dưới có nhiều mô bào, lympho bào,
bạch cầu đa nhân trung tính và lớp lipid được
phủ bởi đại thực bào trong mô dạng hạt(10)
Hình 3 Polyp viêm BN Ngô thị B., số HS:
A09-012536
Polyp tuyến ác tính (carcinôm tuyến)
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 5,5%
(6/109) trường hợp ung thư biểu mô tuyến,
trong đó có 1/6 biệt hóa tốt, 3/6 trường hợp
biệt hóa vừa và 2/6 biệt hóa kém Vị trí ung
thư gặp ở đáy túi mật 3/6 trường hợp và 3/6 ở
thân túi mật Ung thư túi mật gồm: carcinom
biệt hóa tốt-40%, biệt hóa kém-30%, carcinom
tuyến dạng nhú 10% và carcinom tế bào gai
hoặc tuyến gai Ung thư biệt hóa kém thường
dễ di căn và xâm nhập các tạng lân cận, ung
thư dạng tế bào gai ít di căn hơn Theo
Trivedi(19), trong ung thư túi mật, 80% là ung
thư biểu mô tuyến và vị trí hay gặp nhất ở
đáy túi mật-60%, ở thân-30%, và ở cổ là 10%
Carcinôm túi mật có hai dạng là dạng xâm
nhập và dạng chồi sùi: (1) Dạng xâm nhập
thường gặp nhất với hình thái tổn thương là
chỗ cứng, chỗ dày lên, ranh giới không rõ
ràng ở vách túi mật Bề mặt tổn thương có thể
bị loét và u thường lan rộng ra thanh mạc
dưới dạng những cục nhỏ không đều hoặc
xuyên qua vách túi mật đến giường túi mật ở
gan Trên diện cắt gan, cấu trúc vách bị xóa, thay bằng mô u cứng, chắc, màu trắng U có thể rò do xâm nhập tạng lân cận; (2) Dạng chồi sùi vào lòng túi mật thành khối như bông cải đồng thời xâm nhập vách túi mật có thể gây loét, hoại tử, chảy máu Khi u được phát hiện, thường đã có xâm lấn gan, đường mật, di căn hạch vùng Triệu chứng lâm sàng không biểu hiện rõ dù u đã xâm lấn các tạng lân cận Ống túi mật có thể bị tắc nghẽn, mật
ứ trong túi mật được tái hấp thu và được thay bằng chất nhầy tạo nên tình trạng túi mật nước(10)
Đường lan truyền: 25% trường hợp ung thư túi mật di căn theo các hạch bạch huyết, 70% di căn gan Hạch lân cận gồm: hạch ở ống cổ túi mật, hạch quanh ống mật chủ, hạch ở đầu tụy, dọc động mạch chủ bụng Đường thứ hai của di căn hạch là hạch sau tĩnh mạch cửa, hạch bên phải động mạch chậu qua dây chằng gan vị Đường thứ ba sau túi mật là tụy và động mạch chủ bụng Thông thường ung thư túi mật xâm lấn vào gan, tĩnh mạch cửa gây tắc ống gan chung, ống mật chủ
Để chẩn đoán ung thư túi mật, theo Shi và
cs(16), tỷ lệ CA19-9 dương tính là 81,31% Nhiều báo cáo cho rằng CA12-5 và CEA cũng có giá trị trong chẩn đoán ung thư túi mật, nhưng không phải là marker đặc hiệu
Về tiên lượng, tỷ lệ sống của ung thư túi mật phụ thuộc vào giai đoạn bệnh Theo Yalcin(21), tỷ
lệ sống sau 5 năm ở giai đoạn T1 là 83% Tỷ lệ này còn 33% nếu u vượt qua khỏi túi mật Nếu
có hạch và di căn thì tỉ lệ sống sau 5 năm thay đổi từ 0 - 15% Tỉ lệ sống trung bình cho ung thư túi mật di căn là 6-12 tháng
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 6 bệnh nhân carcinôm tuyến, hai trường hợp biệt hóa kém nên có tiên lượng xấu hơn và chúng tôi đang theo dõi định kỳ để có hướng xử lý tốt nhất Bốn trường hợp còn lại vẫn bình thường, chưa có trường hợp nào tái phát hay di căn xa
Trang 6Hình 4 Carci nôm tuyến biết hóa rõ BN Thái Thị
Ch., 52 T, Số HS 07104731
Liên quan giữa polyp cholesterol và các yếu tố
nguy cơ
Trong nghiên cứu của chúng tôi không tìm
thấy mối liên quan giữa polyp cholesterol với
cholesterol, triglyceride, LDH, LDL, BMI (>30),
giới nữ, tuổi > 50 Tất cả đều có chỉ số tương
quan R < 0,3 Theo Canturk(3), nghiên cứu 432
bệnh nhân không tìm thấy mối liên quan giữa
polyp túi mật với cholesterol, triglyceride, LDH,
LDL, BMI (>30), giới nữ, tuổi > 50 Theo Nguyễn
Sào Trung(20), bệnh tăng cholesterol mật do rối
loạn chuyển hóa cholesterol trong dịch mật,
không liên quan đến cholesterol trong máu
Bệnh gây ứ đọng cholesterol ở lớp dưới niêm
mạc của túi mật Có hai giả thuyết giải thích về
hiện tượng này: (1) Các tế bào ở lớp niêm mạc
tăng tái hấp thu cholesterol trong dịch mật; và
(2) Các tế bào này giảm chế tiết cholesterol vào
dịch mật Bệnh làm lớp niêm mạc của túi mật có
những nụ màu vàng nhạt như trái dâu Dưới
kính hiển vi thấy lớp niêm mạc có những nếp
phồng to, lớp dưới niêm mạc có nhiều mô bào
với bào tương có nhiều hạt lipid Khi tế bào này
chết vỡ ra, phóng thích các hạt chứa tinh thể
cholesterol tạo phản ứng viêm có nhiều đại bào
và nguyên bào sợi
KẾT LUẬN
Thương tổn mô bệnh học của polyp túi mật
có các dạng thường gặp là polyp tuyến, polyp
cholesterol, polyp tăng sản, polyp viêm và
carcinôm tuyến Trong đó polyp cholesterol
chiếm tỉ lệ cao nhất 56,9%
Không có mối liên quan giữa polyp cholesterol với các yếu tố nguy cơ gồm cholesterol, triglyceride, LDH, LDL máu, BMI (>30), giới nữ và tuổi trên 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Akyürek N, Salman B, Irkörücü O, Tatlicioğlu E (2005) Ultrasonography in the diagnosis of true gallbladder polyps HPB Oxford 7(2), pp: 155–158
2 Berk RN, Vandervegt JH, Lichtenstein JE (1983) The hyperplastic cholecystoses : Cholesterolosis and adenomyomatosis Radiology : 146, pp:593- 401
3 Canturk Z, Senter O, Canturk NZ, et al (2007) Prevalence and risk factors for gallbladder polyps East African Medical Journal;
84, pp: 336-341
4 Chattopadhyay D, Lochan R, Balupuri S, et al (2005) Outcome
of gallbladder polypoidal lesions detected by transabdominal ultrasound scanning: A nine year experience WJG(2005); 11, pp:2171-2173
5 Christensen AH, Issak KG (1970) Benign tumor and pseudotumors of the gallbladder: Report of 180 cases Arch Path : 90, pp: 243-232
6 Farinon AM (1991) Adenomatous polyps of the gallbladder adenomas of the Gallbladder HPB Surgery :3, pp: 251-258
7 Koga A, Watanabe K, Fukuyama T, Takiguchi S, Nakayama F (1988) Diagnosis and operative indications for polypoid lesions
of the gallbladder Arch Surg: 123(1) pp.26-9
8 Krstic M, Alempijevic T, Stimec B et al (2007) Gallbladder villous adenoma in a patient with acromegaly: Acase report World J Gastroenterol :13, pp 3144-3146
9 Kubota K, bandai Y, Araki Y (2003) Giant hyperplastic polyp
of the Gallbladder: A case report J Clin Ultrasound: 24,
pp:203-206
10 Levy AD, Murakata AL, Abbott MR, Rohrmann CA (2002) Benign tumors and tumorlike lesions of the gallbladder and extrahepatic bile ducts: Radiologic-pathologic correlation, Radiographic : 22, pp:387-413
11 Myers RP, Shaffer EA, Beck P (2002) Review Gallbladder polyps: epidemiology, natural history and management Can J Gastroenterol 16 (3), pp.187-94
12 Pandey MJ, Sood BP, Shukla RC et al (2000) Carcinoma of the gallbladder: Role of sonography in diagnosis and staging Inc J Clin Ultrasound :28, pp:227–232
13 Petrovic B, Petrovic A, Živkovic V et al (2010) Intestinal type of villous adenoma of gallbladder.Acta Medica Medianae 49,pp
50-54
14 Saavedra JA, Henson DE, Sobin LH (1992);: The WHO histological classification of tumors of the gallbladder and extrahepatic bile ducts Cancer 70, pp: 410 – 414
15 Saleh H, Walz D, Ehrinpreis M (2008) Polypoid lesions of the gallbladder: Diagnostic and management challenges J Gastrointest Liver Dis 17, pp 251-253
16 Shi JH, Wang JS, Liu G et al (2002) Early diagnosis of primary gallbladder carcinoma HPBD int 1, pp:273-275
17 Stokes MC, Burnette R, Ballard B, and et al (2007) Adenomatous hyperplasia of the gallbladder Jourl of the National Medical Association 99 8 pp: 959- 961
Trang 718 Takii Y, Shirai Y, Kanehara H (1994) Obstructive jaundice
caused by a cholesterol polyp of gallbladder: Report a case Jpn J
Surg 24, pp: 1104-1106
19 Trivedi V, Gumaste VV, Liu S, Baum J (2008) Gallbladder
cancer: Adenoma- carcinoma or dysplasia-carcinoma sequence
Gastroenterol Hepatol 4,10, pp: 735-741
20 Nguyễn Sào Trung (2003) Bệnh gan và đường mật, Bệnh học tạng và hệ thống Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh tr: 150-162
21 Yalcin S (2004) Carcinoma of gallbladder Orphanet : pp: 1-5
BIẾN CHỨNG RỐI LOẠN CHỨC NĂNG NÚT XOANG
SAU PHẪU THUẬT SỬA CHỮA HỒI LƯU TĨNH MẠCH PHỔI
BẤT THƯỜNG BÁN PHẦN
Tiêu Chí Đức*, Nguyễn Văn Phan**, Nguyễn Hoài Nam***
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Rối loạn chức năng nút xoang sau phẫu thuật sửa chữa hồi lưu bất thường tĩnh mạch phổi bán
phần là một trong những biến chứng quan trọng trong giai đoạn hậu phẫu Chúng tôi đã tiến hành hồi cứu mô
tả nhằm khảo sát tỉ lệ biến chứng này tại Viện Tim thành phố Hồ Chí Minh
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tại Viện Tim thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến 2009, có
77 bệnh nhân (từ 6 tháng tuổi đến 53 tuổi, tuổi trung bình là 15,5 tuổi) được chẩn đoán là hồi lưu bất thường tĩnh mạch phổi bán phần (có kèm thông liên nhĩ) đã được phẫu thuật tất cả các bệnh nhân này trước mổ đều nhịp xoang Phương pháp phẫu thuật là dùng mảnh vá màng ngoài tim tự thân của bệnh nhân để đóng lỗ thông liên nhĩ, đồng thời hướng tĩnh mạch phổi về nhĩ trái
Kết quả: Về hình thái học bất thường 57 trường hợp tĩnh mạch phổi hồi lưu bất thường đổ về nhĩ phải,
14 trường hợp đổ về tĩnh mạch chủ trên, 4 trường hợp đổ về tĩnh mạch chủ dưới, còn lại 2 trường hợp đổ
về nhĩ phải và tĩnh mạch chủ trên Kết quả phẫu thuật cho thấy không có trường hợp nào có biểu hiện hẹp tĩnh mạch chủ trên hay tĩnh mạch phổi Ngay sau mổ có 4 trường hợp (5,2%) có biểu hiện rối loạn nhịp, đến thời điểm xuất viện thì chỉ còn 1 trường hợp (1,3%) Trong lần tái khám gần nhất của bệnh nhân thì tất cả đều về nhịp xoang bình thường
Kết luận: Với kết quả phẫu thuật như trên thì theo chúng tôi phương pháp dùng mảnh vá tự thân để đóng
lỗ thông liên nhĩ và hướng tĩnh mạch phổi về nhĩ trái cho kết quả tốt với tỷ lệ biến chứng thấp, duy trì được nhịp xoang sau mổ, về lâu dài thì bệnh nhân hồi phục tốt
Từ khóa: hồi lưu tĩnh mạch
ABSTRACT
SINUS NODE DYSFUNCTION AFTER REPAIR OF PARTIAL ANOMALOUS PULMONARY
VENOUS CONNECTION
Tieu Chi Duc,Nguyen Van Phan, Nguyen Hoai Nam
* Y hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 – No 1 – 2011: 88 - 93
Background and objective: Sinus node dysfunction is known as a major complication after repair of partial
anomalous pulmonary venous connection We retrospectively described the results of patch repair or direct suturing in the intra- atrial tunnel technique
* Khoa phẫu thuật Lồng ngực mạch máu BV Gia Định ** Viện Tim TP HCM
*** Bộ môn Phẫu thuật Lồng ngực và Tim mạch – ĐHYD TP HCM
Tác giả liên lạc: PGS.TS Nguyễn Hoài Nam ĐT: Email: h-nam@hcm.vnn.vn