1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Góp phần đánh giá khả năng rút ngắn thời gian thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose

5 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 303,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm đánh giá khả năng rút ngắn thời gian thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose. Nghiên cứu thực hiện trên 354 học viên đến thực tập tại bộ môn sinh lý học - Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.

Trang 1

GÓP PHẦN ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG RÚT NGẮN THỜI GIAN

THỰC HIỆN NGHIỆM PHÁP DUNG NẠP GLUCOSE

Trần Ngọc Thanh*, Nguyễn Thị Lệ**, Nguyễn Thị Bích Đào***

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) tăng nhanh trên thế giới

Do đó, việc tầm soát tiền ĐTĐ mang lại một ích lợi quan trọng vì giúp phòng bệnh nguyên phát, nhất là ở người trẻ hiện nay Nghiệm pháp dung nạp (NPDN) glucose đường uống là một trong hai cách giúp để phát hiện tiền ĐTĐ với khả năng phát hiện mạnh hơn Tuy nhiên, thời gian 2 giờ cần cho việc thực hiện nghiệm pháp là khá lâu và là một trong những rào cản đối với việc ứng dụng nghiệm pháp này trong thực tế nên cần thiết phải đánh giá khả năng cải tiến

Mục tiêu: Đánh giá khả năng rút ngắn thời gian thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose

Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang trên 354 học viên đến thực tập tại Bộ môn sinh lý học –

Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

Kết quả: Có khả năng rút ngắn thời gian thực hiện nghiệm pháp dành cho các đối tượng có kết quả bình

thường tại thời điểm 90 phút và tỉ lệ trường hợp có thể được rút ngắn là 49%

Từ khóa: nghiệm pháp dung nạp glucose, đường huyết lúc đói, tiền đái tháo đường, rối loạn dung nạp

glucose

ABSTRACT

THE PROBABILITY OF SHORTERNING ORAL GLUCOSE TOLERANCE TEST TIME

Tran Ngoc Thanh, Nguyen Thi Le, Nguyen Thi Bich Dao

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 2 - 2012: 69 - 73

Background: Vietnam is one of the most increasing prevalence of diabetes mellitus countries Therefore,

screening and defining the prevalance of pre-diabestes are very important, especially in young adults Oral glucose tolerance test (OGTT), one of two ways to diagnose diabetes diseases and pre-diabetes has higher accuracy However, 2-hour test time is too long for using in community and needs to be improved

Aim: to define the prevalence of pre-diabestes by using OGTT and to evaluate the probability of shortening

test time

Method: cross-sectional study on 354 students practicing at Department of Physiology in the University of

Medicine and Pharmacy at HCMC

Results: The prevalence of impaired glucose tolerance (pre-diabestes) by using OGTT was 26,5% This

study showed that there was a probability of shortening test time and this might be used for people having normal result at 90 th minute of test The prevalance of people who can be stopped at 90 th minute of test was 49%

Keywords: oral glucose tolerance test, fasting glucose test, pre-diabetes, impaired glucose tolerance

* Bộ môn Sinh Lý Học, Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch

** Bộ môn Sinh Lý Học, Đại Học Y Dược TP.HCM *** Khoa Nội tiết, Bệnh viện Chợ Rẫy

Tác giả liên lạc: TS.BS Nguyễn Thị Bích Đào, ĐT: 0983915048, Email: phd_bichdao@hotmail.com

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đái tháo đường (ĐTĐ) là một rối loạn

chuyển hóa do nhiều nguyên nhân phức tạp

Hậu quả của ĐTĐ là những tổn thương kéo dài,

rối loạn và suy chức năng của các cơ quan khác

nhau(3) Theo IDF 2011, hiện trên toàn thế giới có

khoảng 366 triệu người mắc bệnh ĐTĐ, dự báo

đến năm 2030 con số này sẽ tăng lên 522 triệu

người(6) Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ

lệ bệnh ĐTĐ tăng nhanh Do đó, việc tầm soát

tiền ĐTĐ mang lại một ích lợi quan trọng góp

phần phòng ngừa phát triển bệnh ĐTĐ Nghiệm

pháp dung nạp (NPDN) glucose đường uống là

một trong ba cách giúp chẩn đoán ĐTĐ và cũng

là cách để phát hiện tiền ĐTĐ(4) Tuy nhiên,

nghiệm pháp dung nạp glucose cần thời gian

thực hiện là 2 giờ như vậy khá lâu và là một

trong những rào cản đối với việc ứng dụng

nghiệm pháp này trong thực tế Vậy có thể rút

ngắn thời gian thực hiện hơn được không? Vì

vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đánh giá

khả năng rút ngắn thời gian thực hiện nghiệm

pháp dung nạp glucose

Mục tiêu: Đánh giá khả năng rút ngắn thời

gian thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Gồm 354 học viên đến thực tập tại Bộ môn

sinh lý học – Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí

Minh

Tiêu chuẩn thu nhận

Có chế độ ăn không giới hạn (trong đó chứa

ít nhất 150g carbohydrate mỗi ngày) trong ít

nhất 3 ngày

Ngưng đưa năng lượng vào cơ thể tối thiểu

8 giờ trước khi thực hiện nghiệm pháp (kể cả

việc hút thuốc lá và dùng cà phê)

Có thể tham gia thực hiện nghiệm pháp một

cách liên tục trong thời gian là 2 giờ, thời gian

bắt đầu trong khoảng từ 7 giờ đến 9 giờ sáng

Hoàn toàn khỏe mạnh và không có dấu hiệu

lo lắng hay có thai

Tiêu chuẩn loại trừ

Người có bệnh lý hoặc đang điều trị bệnh lý nội, ngoại khoa

Đang dùng thuốc thiazide, thuốc ngừa thai đường uống, các corticoteroid hoặc các thuốc khác được biết là có ảnh hưởng đến glucose máu

Người nghiện cà phê, thuốc lá

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Tiến cứu – cắt ngang mô tả

Cỡ mẫu

Tính theo công thức:

Với α = 0,05, Z = 1,96 là giá trị tại độ tin cậy

95%, P = 0,094 là tỷ lệ ước đoán dựa theo báo cáo đánh giá của dự án phòng chống ĐTĐ Việt Nam, d = 0,05 thì cỡ mẫu cần thiết cho nghiên

cứu này là n = 131

Nội dung nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu

Tất cả các đối tượng được nghiên cứu sẽ được hướng dẫn các nội dung cần tuân thủ, bao gồm: vấn đề ăn uống cho ba ngày trước nghiệm pháp, các sinh hoạt và việc dùng thuốc Cần duy trì chế độ dinh dưỡng như thường ngày và dùng tối thiểu 3 chén cơm trắng trong một ngày

Buổi sáng thực hiện nghiệm pháp, các đối tượng sẽ được sàng lọc lại bởi các tiêu chuẩn Trong thời gian theo dõi, đối tượng sẽ không

Trang 3

được hoạt động thể lực gắng sức, không dùng

các chất có ảnh hưởng đến kết quả theo dõi

Trị số đường huyết mao mạch tại các thời

điểm: trước uống dung dịch glucose, sau uống

dung dịch glucose 30 phút, 60 phút, 90 phút, 120

phút

Đánh giá kết quả đo đường huyết (2,3)

Đối tượng được chẩn đoán là tiền đái tháo

đường khi:

- Glucose lúc đói là trong khoảng ≥ 100

mg/dl đến < 126 mg/dl (5,6-7,0 mmol/l)

- Hoặc nghiệm pháp dung nạp glucose bằng

đường uống từ ≥ 140mg/dl đến < 200 mg/dl

(7,8-11.1 mmol/l) và đường huyết lúc đói < 126 mg/dl (7.0 mmol/l)

Xử lý số liệu

Phần mềm EXCEL 2007 và SPSS 16.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tần suất nguy cơ mắc tiền ĐTĐ tại thời điểm đo đường huyết lúc đói (lúc 0 phút) là 16,1% và tỉ lệ ĐTĐ

là 1,7% Sau khi thực hiện xong NPDN glucose, chúng tôi xác định được tỉ lệ mắc rối loạn dung nạp glucose (tiền ĐTĐ) là 23,4% và ĐTĐ là 1,97% (n=7)(Hình 1)

Hình 1: Tỉ lệ mắc tiền đái tháo đường theo kết quả đo đường huyết lúc đói (trái) và sau thực hiện nghiệm pháp

dung nạp glucose (phải)

Bảng 1: Tần suất mắc tiền đái tháo đường và tuổi

Tuổi

Kết quả

Dung nạp

bình thường

157

(77,3%)

85 (75,2%)

20 (71,4%)

2 (66,7%)

264 (76,1%) Tiền đái tháo

đường

46 (22,7%)

28 (24,8%)

8 (28,6%)

1 (33,3%)

83 (23,9%)

(100%)

113 (100%)

28 (100%)

3 (100%)

347 (100%)

Bảng 2: Tần suất mắc tiền đái tháo đường và giới

Giới Kết quả

(80%)

212 (75,2%)

264 (76,1%)

(20%)

70 (24,8%

83 (23,9%)

(100%)

282 (100%)

347 (100%)

Có 178 đối tượng nghiên cứu có mức đường

huyết trở về bình thường ở phút thứ 90, trong

đó có 94,9% (n=169) đạt giá trị bình thường cho

đến khi thực hiện xong nghiệm pháp

Bảng 3: Kết quả phân loại glucose máu tại thời điểm

90 phút và 120 phút của NPDN glucose

NPDN glucose phút 120

bất thường

Dung nạp bình thường Tổng

Có thể dung nạp bất thường

81 (90%)

95 (36%)

176 (49,7%)

Có thể dung nạp bình thường

9 (10%)

169 (64%)

178 (50,3%)

NPDN glucose phút 90

(100%)

264 (100%)

354 (100%)

BÀN LUẬN

Theo hình 1, tỉ lệ mắc rối loạn glucose máu lúc đói (tiền ĐTĐ) trong mẫu nghiên cứu tại thời điểm 0 phút là 16,1%, và tỉ lệ ĐTĐ là 1,7%;

và tỉ lệ mắc rối loạn dung nạp glucose (tiền ĐTĐ) là 23,4% và ĐTĐ là 1,97% Tần suất này tăng lên do có 24,4% (n=71) đối tượng được đánh giá là bình thường tại thời điểm 0 phút và

Trang 4

có kết quả ngược lại sau 120 phút thực hiện

nghiệm pháp trong khi có đến 69,8% (n=44)

trường hợp được cho là có rối loạn glucose máu

lúc đói nhưng kết quả thực hiện nghiệm pháp

dung nạp glucose lại là bình thường Điều này

cũng phù hợp với những ghi nhận trong y văn

về đánh giá hiệu quả của nghiệm pháp dung

nạp glucose so với việc sử dụng glucose máu

lúc đói(2,3) Do đó, trong thực hành tầm soát tiền

ĐTĐ cho các đối tượng nguy cơ cao trong cộng

đồng, nghiệm pháp dung nạp glucose là rất cần

thiết

So với báo cáo của Tạ Văn Bình(8), năm 2006,

tỉ lệ ĐTĐ là 2,6%, tỉ lệ rối loạn dung nạp glucose

là 7,3% Sự khác biệt về tỉ lệ mắc rối loạn dung

nạp glucose của tác giả trên so với nghiên cứu

của chúng tôi là đối tượng nghiên cứu của

chúng tôi tập trung ở khoảng tuổi 21-52, sống

trong tình trạng kinh tế khá hơn Năm 2007, theo

báo cáo của Sở Y Tế tỉnh Bình Định(7), tỷ lệ ĐTĐ

là 9,2%, rối loạn glucose máu lúc đói 20,3%, rối

loạn dung nạp glucose 11,1% So với đối tượng

nghiên cứu của chúng tôi là người trong độ tuổi

lao động, trong khi đối tượng của các chương

trình tầm soát là đối tượng nguy cơ cao của

ĐTĐ nên tỉ lệ mắc ĐTĐ của chúng tôi thấp hơn

Mặt khác, NPDN glucose chỉ thực hiện cho

những trường hợp có glucose máu lúc đói chưa

rõ hoặc nghi ngờ chứ không thực hiện cho toàn

bộ đối tượng như chúng tôi Tuy nhiên, cũng

cần chú ý là y văn có ghi nhận một lượng lớn

người không triệu chứng có giá trị glucose máu

cao sau 1 đến 2 giờ sau dung nạp nhưng lại có

giá trị glucose máu lúc đói là bình thường(2)

Năm 2009, Lê Quang Minh và cs phát hiện

18,9% trường hợp có rối loạn dung nạp glucose

máu; 24,9% rối loạn glucose máu lúc đói(4) Như

vậy, tỉ lệ 23,4% mà chúng tôi tìm thấy trong

nghiên cứu này vào năm 2011 cũng khá tương

đồng với nghiên cứu của nhóm tác giả trên Với

tỉ lệ rối loạn dung nạp glucose ở người trong độ

tuổi lao động cao như vậy, đi kèm với sự thay

đổi chế độ ăn, lối sống cho thấy lực lượng đóng

góp chính cho xã hội đang bị ảnh hưởng và vấn

đề tầm soát, điều chỉnh tiền ĐTĐ vẫn là việc làm cấp thiết và mang lại nhiều ích lợi

Trong nghiên cứu này, chúng tôi ghi nhận

và tiến hành so sánh kết quả đo glucose máu mao mạch tại thời điểm 90 phút và 120 phút Với cách làm như vậy, việc đo glucose máu tại thời điểm 90 phút được xem như là một xét nghiệm tầm soát mới và cần phải được so với một xét nghiệm chuẩn là nghiệm pháp đánh giá dung nạp glucose sau 120 phút về các thông số như độ nhạy (sensitivity, Ss), độ đặc hiệu (specificity, Sp), giá trị tiên đoán dương (positive predicted value, PV+) và giá trị tiên đoán âm (negative predicted value, PV-)

Theo bảng 3, kết quả NPDN glucose tại thời điểm 90 phút có độ nhạy là 90%, độ đặc hiệu là 64% giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán

âm của NPDN glucose tại phút thứ 90 lần lượt

là 46% và 94,9% Mặc dù có độ nhạy cao nhưng với độ đặc hiệu thấp thì kết quả NPDN glucose tại phút thứ 90 không thể đóng vai trò là một xét nghiệm chẩn đoán như NPDN glucose chuẩn

Do đó, tất cả các kết quả tại thời điểm 90 phút không thể đại diện cho thời điểm 120 phút được Điều này cũng đã được ghi nhận trong y văn và nhiều nghiên cứu khác nhau

Mặc dù vậy, khi xét riêng các trường hợp được đánh giá là bình thường ở phút 90 trong NPDN glucose, có 178 đối tượng nghiên cứu có mức glucose máu trở về bình thường ở thời điểm này, trong đó có 94,9% (n=169) đạt giá trị bình thường cho đến khi thực hiện xong nghiệm pháp (phút 120) Đây cũng chính là giá trị tiên đoán âm của NPDN glucose tại phút thứ 90 Theo Altman DG và cs.(2), giá trị tiên đoán âm được hiểu là thương số giữa tổng số trường hợp

âm tính thật được xác nhận bằng phương pháp chuẩn so với tổng số trường hợp được cho là âm tính bởi kỹ thuật đang sử dụng Một kỹ thuật có giá trị tiên đoán âm cao nghĩa là khi xét nghiệm cho kết quả âm tính thì kết quả thực sự ít khi là dương tính Ngoài ra, một kỹ thuật có giá trị tiên đoán âm cao còn mang ý nghĩa là ít khi nào phân loại sai một trường hợp dương tính thật sự

Trang 5

là âm tính Trong nghiên cứu này, với giá trị tiên

đoán âm đạt đến 94,9% cho thấy có một tỉ lệ cao

các trường hợp có giá trị bình thường ở phút 90

và duy trì đến phút 120 Do đó, vấn đề đặt ra là

liệu có thể cân nhắc đến khả năng rút ngắn thời

gian thực hiện nghiệm pháp glucose từ 120 phút

xuống còn 90 phút dành cho các đối tượng có

kết quả bình thường tại thời điểm 90 phút Điều

này có ý nghĩa quan trọng vì nó góp phần giúp

ích cho các nhà nghiên cứu lâm sàng, dịch tễ học

và đối tượng tham gia nghiên cứu Đối với các

nhà nghiên cứu, khi nghiệm pháp được rút

ngắn sẽ góp phần giảm chi phí về vật lực và

nhân lực Trong nghiên cứu này, có đến 50,3%

đối tượng nghiên cứu được đánh giá bình

thường ở phút thứ 90, do đó có thể tiết kiệm đến

hơn 50% chi phí cho lần thực hiện cuối cùng

trong toàn bộ quá trình làm nghiệm pháp Đối

với các đối tượng tham gia sẽ giảm bớt được

một lần thực hiện một kỹ thuật xâm lấn và gây

đau, đồng thời cũng gia tăng sự thoải mái và tiết

kiệm thời gian Theo kết quả trên, có đến hơn

50% các đối tượng có thể dừng lại tại phút 90

Việc rút ngắn thời gian thực hiện nghiệm pháp

dung nạp glucose cho những đối tượng có nồng

độ glucose máu tại thời điểm 90 phút là phù

hợp với ghi nhận của y văn về khuynh hướng

thay đổi của glucose máu sau phút thứ 90 Theo

ghi nhận của Stephen L Aronoff(2), đường biểu

diễn nồng độ glucose máu trung bình theo thời

gian từ phút thứ 90 đến 120 trên cả hai nhóm đối

tượng là người bình thường và người ĐTĐ là

đường biểu diễn hướng xuống, nghĩa là glucose

máu giảm dần

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 347 học viên đến thực tập

tại Bộ môn sinh lý học – Đại học Y Dược thành

phố Hồ Chí Minh, chúng tôi rút ra những kết luận sau:

- Tần suất rối loạn dung nạp glucose (tiền đái tháo đường) là 23,4%

- 50,3% các trường hợp tham gia thực hiện NPDN glucose có kết quả bình thường tại thời điểm 90 phút

Kết quả nghiên cứu ban đầu cho thấy có khả năng rút ngắn thời gian thực nghiệm pháp dung nạp glucose dành cho các đối tượng Tuy nhiên, cần có nhiều nghiên cứu quy mô hơn nữa, với

cỡ mẫu lớn hơn và tiến hành trên nhiều đối tượng nghiên cứu khác nhau để xác định thêm

về khả năng và phạm vi rút ngắn thời gian thực hiện nghiệm pháp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Aronoff SL GMaR (2004) "Beyond Insulin and Glucagon"

Diabetes Spectrum p 183 – 90

2 Douglas G, Altman JMB (1994) "Predictive values" BMJ 309

(6947).102

3 Khatib OMN (2006) "Guidelines for the prevention,

management and care of diebetes mellitus" Cairo 23 - 9

4 Lê Quang Minh PTHV, Nguyễn Minh Tuấn (2009), “Nghiên cứu rối loạn dung nạp Glucose máu và một số yếu tố liên quan ở

http://yhth.vn/LibraryDetail/1077/phat-hien-roi-loan-glucose-mau-va-dai-thao-duong-typ-2-tai-tinh-bac-kan.htm

5 New Youth State Departement of Health (2008), "Children with Diabetes – A resource guide for families and schools" p.13

6 Sacks DB (2006) "Carbohydrates" TIETZ Textbook of Clinical

Chemistry and Molecular Diagnostics 4th ed p 837 - 64

7 Sở Y Tế Bình Định (2007) "Báo cáo tổng kết công tác y tế dự phòng

và phòng chống các bệnh xã hội năm 2007"

8 Tạ Văn Bình (2003) “Dịch tễ học bệnh đái tháo đường, các yếu

tố nguy cơ và các vấn đề liên quan đến quản lý bệnh đái tháo

đường” Nhà xuất bản Y học Hà Nội

9 WHO (2006) “Guidelines for the management of hypertension

in patients with DM” WHP.org, p5 - 11

10 Wild S GR, Green A, Sicree R, King H, (1998) "Estimates for the year 2000 and projections for 2030 Global Prevalence of

Diabetes" Diabetes Care 27:1047 - 53

Ngày đăng: 21/01/2020, 21:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w