1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu nồng độ và mối liên quan của nterleukin 6, interleukin 10 với mức độ tổn thương động mạch vành ở bệnh nhân bệnh động mạch vành mạn tính

6 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 328,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này nghiên cứu về định lượng nồng độ huyết tương của cytokine tiền viêm interleukin 6 (IL-6) và cytokine chống viêm interleukin 10 (IL-10) ở 109 bệnh nhân (BN), trong đó, 78 BN hẹp động mạch vành (ĐMV), 31 BN hẹp không ý nghĩa.

Trang 1

NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ VÀ MỐI LIÊN QUAN CỦA NTERLEUKIN 6,

INTERLEUKIN 10 VỚI MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH VÀNH Ở

BỆNH NHÂN BỆNH ĐỘNG MẠCH VÀNH MẠN TÍNH

Nguyễn Thanh Xuân*; Nguyễn Oanh Oanh**

Đỗ Khắc Đại*; Lê Văn Đông*

TÓM TẮT

Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy, vữa xơ động mạch là một bệnh viêm thành động mạch, trong đó

có sự tham gia ngay từ đầu của các tế bào viêm và cytokine viêm Trong nghiên cứu, chúng tôi định lượng nồng độ huyết tương của cytokine tiền viêm interleukin 6 (IL-6) và cytokine chống viêm interleukin 10 (IL-10) ở 109 bệnh nhân (BN), trong đó, 78 BN hẹp động mạch vành (ĐMV), 31 BN hẹp không ý nghĩa Đánh giá mối liên quan của các cytokine này với tổn thương, bao gồm mức độ

và số nhánh ĐMV bị hẹp Kết quả cho thấy nồng độ IL-6 trong huyết tương BN hẹp ĐMV có ý nghĩa

so với nhóm hẹp không ý nghĩa (9,3 ± 13,9 pg/ml, 3,6 ± 3,3 pg/ml; p < 0,05) Ngược lại, nồng độ

IL-10 huyết tương trong nhóm hẹp ĐMV có ý nghĩa thấp hơn so với nhóm hẹp không ý nghĩa (4,3 ± 1,8 pg/ml, 14,7 ± 42,4 pg/ml; p < 0,05) BN có mức độ tổn thương hẹp nặng có nồng độ IL-6 huyết tương (10,8 ± 15,2 pg/ml, 3,3 ± 1,5 pg/ml; p < 0,05) và hẹp nhiều ĐMV (11,3 ± 17 pg/ml, 6,0 ± 5,4 pg/ml, p < 0,05) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm tổn thương hẹp vừa và hẹp một ĐMV

* Từ khóa: Bệnh động mạch vành mạn tính; IL-6; IL-10

CONCENTRATIONS AND ASSOCIATION OF INTERLEUKIN 6,

INTERLEUKIN 10 AND THE DEGREE OF CORONARY ARTERY LESIONS IN PATIENTS with CHRONIC

CORONARY ARTERY DISEASE SUMMARY

Recent evidences suggest that atherosclerosis is a chronic inflammatory process In this study,

we examined plasma concentrations of interleukin 6 (IL-6), a pro-imflamatory cytokine, and interleukin-10 (IL-10), a anti-inflammatory cytokine in 109 patients, 78 patients had coronary artery stenosis, 31 patients who have no significant coronary artery stenosis The association of these cytokines with degrees of stenosis and numbers of affected coronary artery vessels were also evaluated The results showed that plasma levels of IL-6 in patients with coronary artery stenosis were significantly higher than that in the stenosis group without significance (9.3 ± 13.9 pg/ml, 3.6 ± 3.3 pg/ml; p < 0,05) In contrast, plasma levels of IL-10 in the group with coronary artery stenosis were significantly lower than that in the stenosis group without signicance (4.3 ± 1.8 pg/ml, 14.7 ± 42.4 pg/ml; p < 0,05) Coronary artery disease with severe stenosis has plasma concentration of IL-6 (10.8 ± 15.2 pg/ml, 3.3 ± 1.5 pg/ml; p < 0,05) and multiple vessel (11.3 ± 17 pg/ml, 6.0 ± 5.4 pg/ml, p < 0.05) significantly higher than that in the mild lesion group and one vessel

* Key word: Chronic coronary artery disease; IL-6; IL-10

* Học viện Quân y

** Bệnh viện 103

Người phản hồi: (Corresponding): Nguyễn Thạnh Xuân (bsxuanhatay@gmail.com)

Ngày nhận bài: 27/11/2013; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 7/1/2014

Ngày bài báo được đăng: 20/1/2014

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh ĐMV là bệnh thường gặp ở các nước

phát triển và có xu hướng ngày càng gia

tăng ở các nước đang phát triển Ở Việt

Nam, theo Nguyễn Lân Việt và CS (2010) các

bệnh lý mạch vành có chiều hướng tăng rõ

rệt, 11,2% năm 2003 lên tới 24% trong năm

2007 [1] Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy,

vữa xơ động mạch là một bệnh viêm thành

động mạch, trong đó có sự tham gia ngay từ

đầu của các tế bào viêm, cytokine viêm và

quá trình phát triển của vữa xơ là sự thay đổi

cân bằng của các cytokine tiền viêm và chống

viêm [3]

IL-6 là một cytokine tiền viêm được sản

xuất bởi nhiều loại tế bào như đại thực bào,

tế bào lympho, tế bào mono và nguyên bào

sợi Một số lượng lớn IL-6 được tìm thấy

trong mảng vữa xơ động mạch ở người

Nhiều nghiên cứu thấy nồng độ IL-6 xuất

hiện trong huyết tương có giá trị dự báo

mắc bệnh ĐMV trong tương lai Nồng độ

IL-6 có giá trị phân biệt giữa người đau thắt

ngực ổn định với người bình thường, tăng

cao ở người đau thắt ngực không ổn định

so với cơn đau thắt ngực ổn định IL-6 tăng

nhiều ở nhóm BN có hội chứng mạch vành

cấp so với nhóm bệnh ĐMV mạn tính và

nhóm chứng [5]

IL-10 là một cytokine chống viêm Thực

nghiệm trên động vật cho thấy nồng độ

IL-10 thấp dẫn đến phát triển tổn thương xơ

vữa động mạch trên diện rộng và không ổn

định Gần đây, nhiều bằng chứng cho thấy

vai trò bảo vệ của IL-10 trong vữa xơ động

mạch Một quan điểm nhìn nhận mới đối

với bệnh ĐMV là quá trình viêm mạn tính có

thể mở ra hướng mới cho quản lý bệnh tim

thiếu máu cục bộ [7]

Ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu

đánh giá vai trò của IL-6 và IL-10 trong

bệnh ĐMV mạn tính Vì vậy, chúng tôi tiến

hành đề tài với mục tiêu: Xác định nồng độ

Khảo sát mối liên quan của các cytokine với mức độ tổn thương ĐMV

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

109 BN điều trị nội trú tại Khoa Tim mạch (Khoa A2), Bệnh viện 103 từ 11 -

2011 đến 04 - 2013, có chỉ định, chụp ĐMV chọn lọc Dựa vào kết quả chụp ĐMV chia làm 02 nhóm:

- Nhóm nghiên cứu: 78 BN có kết quả

chụp ĐMV hẹp có ý nghĩa: là những BN có tổn thương ĐMV hẹp ≥ 50% đường kính

lòng động mạch

- Nhóm chứng: 31 BN có kết quả chụp

ĐMV bình thường

* Tiêu chuẩn loại trừ: BN có creatinin

> 120 μmol/l Nhồi máu cơ tim trong giai đoạn cấp, loạn nhịp tim đe dọa tính mạng

Chấn thương hoặc tai biến mạch máu não

< 3 tháng Các bệnh kèm theo như viêm

khớp, bệnh hệ thống, nhiễm trùng cấp tính, hoặc kín đáo (CRP huyết tương > 50 mg/l,

VS giờ đầu > 50 mm)

2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có so sánh đối chứng Tất cả BN tham gia nghiên cứu được khám lâm sàng, làm bệnh án, chụp ĐMV chọn lọc và lấy máu xét nghiệm theo chỉ định của bác sỹ điều trị Định lương cytokine IL-6 và IL-10 trong huyết tương máu tĩnh mạch buổi sáng (nhịn ăn 8 giờ) bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang, bằng kit và hệ thống phân tích đồng bộ Bio-Plex của Hãng Bio-Rad (Mỹ) theo mô tả của

Đỗ Khắc Đại và CS [2]

Trang 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

VÀ BÀN LUẬN

1 Nồng độ IL-6 và IL-10 huyết tương

nhóm hẹp ĐMV có ý nghĩa và nhóm hẹp

không ý nghĩa

n

* Đường ROC nồng độ IL-6 huyết tương

giữa nhóm I và nhóm II:

AUC: (95% CI): 0,799 (0,700 - 0,898);

p < 0,0001; điểm cắt đề nghị: 3,89 pg/ml;

Se: 69,23%; Sp: 80,65%

(AUC: diện tích dưới đường cong; CI: độ

tin cậy; Se: độ nhạy; Sp: độ đặc hiệu)

Biểu đồ 1: Biểu diễn đường cong ROC

nồng độ IL-6 huyết tương nhóm hẹp ĐMV

có ý nghĩa và nhóm hẹp không ý nghĩa Kết quả ở bảng 1 cho thấy khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa BN hẹp ĐMV có ý nghĩa và nhóm hẹp ĐMV không ý nghĩa Nồng độ cytokine tiền viêm IL-6 trong huyết tương của nhóm hẹp ĐMV có ý nghĩa cao hơn nhóm hẹp không ý nghĩa (p < 0,05) Ngược lại, nhóm BN hẹp ĐMV có ý nghĩa

có nồng độ IL-10 huyết tương thấp hơn so với nhóm hẹp không ý nghĩa (p < 0,05) Khi phân tích giá trị nồng độ IL-6 giữa hai nhóm thấy diện tích dưới đường cong là 0,799 ở mức ý nghĩa tốt, có giá trị trong dự báo mức độ tổn thương ĐMV giữa nhóm hẹp có

ý nghĩa và nhóm không ý nghĩa, điểm cắt được đề nghị là 3,89 pg/ml, với độ nhạy

69,23% và độ đặc hiệu lên tới 80,65% (biểu

đồ 1) Kết quả này tương tự với các tác giả

khác, Barbara J.M.H Jefferis thấy nhóm bệnh ĐMV có nồng độ IL-6 huyết tương (2,75 pg/ml, 2,29 pg/ml, p < 0,001) và nồng

độ CRP (2,51 mg/l, 1,45 mg/l, p < 0,001) cao hơn so với nhóm chứng có ý nghĩa thống kê [4] Hem C Jha nghiên cứu 192

BN bệnh ĐMV (148 nam, 44 nữ) cho kết quả nồng độ của cytokine tiền viêm IL-6 trong huyết tương bệnh ĐMV cao hơn nhóm chứng (p < 0,05), ngược lại, nồng độ IL-10 trong nhóm bệnh ĐMV thấp hơn so với nhóm chứng (p < 0,001) [5]

Nhiều kết quả nghiên cứu được công bố cũng đề cập đến vai trò của cytokine viêm trong nhóm bệnh ĐMV, các cytokine tiền viêm thúc đẩy sự phát triển của tổn thương vữa xơ thành động mạch Ngược lại, cytokine chống viêm có xu hướng làm ổn định tổn thương vữa xơ, ức chế tiết cytokine tiền viêm Vấn đề này ở Việt Nam còn rất mới

mẻ, chưa có nhiều nghiên cứu thực hiện,

1 - Specificity (Diagonal segments are produced by ties)

ROC Curve

Trang 4

kết quả của chúng tôi đã góp phần đưa ra

tiền đề cho các nghiên cứu về cytokine tiền

viêm và chống viêm giữa BN bệnh ĐMV với

nhóm chứng

2 Mối liên quan của IL-6 và IL-10 với

mức độ hẹp ĐMV

Phân tích 78 BN hẹp ĐMV có ý nghĩa,

chia thành 02 nhóm: nhóm hẹp vừa, từ 50 -

74% đường kính lòng ĐMV (2), nhóm hẹp

nặng ≥ 75% đường kính lòng ĐMV (3)

02 nhóm: nhóm hẹp một ĐMV (2), nhóm

hẹp nhiều ĐMV (2) (bảng 3)

Bảng 2: Mối liên quan của IL-6, IL-10 với

mức độ hẹp đường kính lòng ĐMV

(n = 16) (2)

HÑp ≥ 75%

(n = 62) (3)

0,05

0,05

Nhóm BN có tổn thương hẹp ĐMV mức

độ nặng có nồng độ IL-6 huyết tương cao

hơn so với nhóm tổn thương ĐMV mức độ

vừa và nhóm hẹp không ý nghĩa (10,8 ±

15,2 pg/ml, 3,3 ± 1,5 pg/ml, 3,6 ± 3,3 pg/ml;

p < 0,05) Nồng độ IL-10 ở nhóm huyết

tương trong nhóm tổn thương hẹp ĐMV

mức độ nặng thấp so với nhóm hẹp không

ý nghĩa (4,7 ± 1,6 pg/ml, 14,7 ± 42,4 pg/ml;

p < 0,05) Tuy nhiên, không có sự khác biệt

giữa hai nhóm tổn thương hẹp ĐMV mức

độ nặng và mức độ vừa (p > 0,05)

Bảng 3: Mối liên quan của IL-6, IL-10 với

số nhánh ĐMV bị hẹp

(n = 30) (2)

HÑp nhiÒu

§MV (n = 48)

(3)

0,05

0,05

Nhóm hẹp nhiều ĐMV có nồng độ IL-6 cao hơn nhóm hẹp không ý nghĩa (11,3 ±

17 pg/ml, 3,6 ± 3,3 pg/ml, p < 0,05), không thấy khác biệt có ý nghĩa thống kê với nhóm hẹp một ĐMV Nồng độ IL-10 trong nhóm hẹp nhiều ĐMV thấp hơn nhóm hẹp không ý nghĩa, nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Nghiên cứu của Qiaowen Li trên nhóm BN hẹp ĐMV trong

40 tháng thấy, nhóm biến chứng nhồi máu

cơ tim cấp có nồng độ IL-18 huyết tương cao hơn so với nhóm không có biến chứng nhồi máu cơ tim cấp (221,16 ± 78,30 ng/l, 170,27 ± 50,84 ng/l, p < 0,05) Ngược lại, nồng độ IL-10 giảm (117,76 ± 38,94 ng/l, 99,6 ± 35,17 ng/l, p < 0,05) [6] Vladimira Muzkova thấy nhóm BN hẹp ĐMV có chỉ định can thiệp hoặc phẫu thuật và nhóm hẹp ĐMV có ý nghĩa có nồng độ IL-6 huyết tương cao hơn nhóm chứng (4,83 ± 0,88 ng/l, 4,42 ± 1,0 ng/l, 2,99 ± 0,65 ng/l, p < 0,05) [8] Nghiên cứu của Wenwei Liu cho thấy, nồng độ IL-10 trong huyết tương nhóm không tái hẹp sau đặt stent thấp hơn nhóm tái hẹp (nhóm không tái hẹp 24,6 ± 7,72 ng/l thấp hơn 8,2 ± 3,39 ng/l, p < 0,001) và những BN có nồng độ IL-10 trong huyết tương giảm có nguy cơ tái hẹp cao [9] Như vậy, có mối liên quan giữa cytokine viêm và mức độ tổn thương ĐMV, tổn thương vữa

xơ thành động mạch do nhiều nguyên nhân, từ yếu tố nguy cơ truyền thống (tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, thừa cân) Gần đây, nhiều nghiên cứu công bố vai trò của cytokine viêm trong phát

Trang 5

triển của tổn thương vữa xơ thành động

mạch Nghiên cứu của chúng tôi thấy có sự

khác biệt về nồng độ cytokine tiền viêm IL-6

trong huyết tương giữa các nhóm tổn

thương ĐMV do vữa xơ Kết quả này bước

đầu góp phần đưa cytokine viêm để đánh

giá tổn thương ĐMV trong lâm sàng

KẾT LUẬN

Nhóm BN hẹp bệnh ĐMV có nồng độ

IL-6 trong huyết tương cao hơn có ý nghĩa

(9,3 ± 13,9 pg/ml, 3,6 ± 3,3 pg/ml, p < 0,05),

trong khi đó nồng độ cytokine chống viêm

IL-10 (4,3 ± 1,8 pg/ml, 14,7 ± 42,4; p <

0,05) thấp hơn so với nhóm hẹp không ý

nghĩa Điểm cắt được đề nghị đối với nồng

độ IL-6 huyết tương là 3,89 pg/ml, độ nhạy

69,23%, độ đặc hiệu 80,65% trong định

hướng nhóm hẹp ĐMV có ý nghĩa so với

nhóm hẹp không ý nghĩa

Nồng độ IL-6 huyết tương trong nhóm

BN hẹp ĐMV mức độ nặng cao hơn so với

nhóm BN tổn thương mức độ vừa, và nhóm

hẹp không ý nghĩa ((10,8 ± 15,2 pg/ml,

3,3 ± 1,5 pg/ml, 3,6 ± 3,3 pg/ml; p < 0,05);

nhóm hẹp nhiều ĐMV cao hơn nhóm hẹp

không ý nghĩa (11,3 ± 17 pg/ml, 3,6 ± 3,3

pg/ml, p < 0,05) Nồng độ IL-10 huyết tương

trong nhóm hẹp ĐMV nặng thấp hơn so với

nhóm hẹp không ý nghĩa (4,7 ± 1,6 pg/ml,

14,7 ± 42,4 pg/ml; p < 0,05)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Lân Việt và CS Nghiên cứu mô

hình bệnh tật ở BN điều trị nội trú tại Viện Tim

mạch Việt Nam trong thời gian 2003-2007 Tạp chí

Tim mạch học Việt Nam 2010, số 52, tr.11-18

2 Đỗ Khắc Đại, Lê Văn Đông và CS Kết quả

xét nghiệm đồng thời 9 cytokine trong dịch màng

phổi BN ung thư và lao phổi bằng công nghệ

flowcytometry-assisted immunoassay Tạp chí Y -

Dược học Quân sự 2007, số 32 (5), tr.17-24

3 Antonino Mazzone Plasma levels of interleukin

2, 6, 10 and phenotypic characterization of circulating

T lymphocytes in ischemic heart disease

Atherosclerosis 1999, 145, pp.369-374

4 Barbara J.M.H Jefferis, et al Interleukin

18 and coronary heart disease: Prospective study

and systematic review Atherosclerosis 2011, 217,

pp.227-233

5 Hem C.Jha, MSc, Aabha Divya, MBBs, Jha

et al Plasma circulatory markers in male and

female patients with coronary artery disease Heart and Lung 2010, Vol 39, No 4, pp.296-303

6 Qiaowen Li, Zhiliang Li Evaluated plasma

interleukin-18/interleukin-10 ratio is a risk factor for acute coronary syndromes in patients with stable angina pectoris Cardiology Journal, Pubmed, 2013, Doi: 10.5603/Cj A2013.0057

7 Roberto H Heinisch Serial changes in

plasma levels of cytokines in patients with coronary artery disease Asc Health Manag 2005; 1 (3), pp.245-250

8 Vladimira Muzakova Inverse correlation

between plasma β-Carotene and interleukin-6 in patients with advanced coronary artery disease Int J Vitam Nutr Res 2010, 80 (6), pp.369-377

9 WenWei Liu, Yongsheng Liu Plasma

levels of interleukin 18, interleukin 10, and matrix metalloproteinase-9 and - 137G/C Polymorphism of interleukin 18 are associated with incidence of in-stent restenosis after percutaneous coronary intervention Inflammation, 2013, Doi: 10.1007/s 10753-013-964-6

Ngày đăng: 21/01/2020, 21:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w