1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát vai trò của điện thế gợi thị giác trong chẩn đoán viêm gai và thiếu máu thần kinh thị trước

7 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 263,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm khảo sát sự biến đổi của điện thế gợi thị giác trong viêm thần kinh thị và bệnh lý TKT thiếu máu trước. Xem xét giá trị của VEP trong chẩn đoán phân biệt hai bệnh lý này. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

KHẢO SÁT VAI TRÒ CỦA ĐIỆN THẾ GỢI THỊ GIÁC

TRONG CHẨN ĐOÁN VIÊM GAI VÀ THIẾU MÁU THẦN KINH THỊ TRƯỚC

Lê Minh Thông*, Đặng Xuân Mai*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát sự biến đổi của điện thế gợi thị giác trong viêm thần kinh thị và bệnh lý TKT thiếu

máu trước Xem xét giá trị của VEP trong chẩn đoán phân biệt hai bệnh lý này

Phương pháp nghiên cứu: Mẫu nghiên cứu 60 bệnh nhân gồm 30 bệnh nhân viêm TKT ở một mắt và

30 bệnh nhân bệnh lý TKT thiếu máu trước ở một mắt Mỗi bệnh nhân được khám mắt, đánh giá toàn thân và đo VEP Để có nhóm chứng, đo VEP từ 30 người bình thường được chọn từ nhân viên y tế

Kết quả: Trong nhóm viêm TKT: thời gian tiềm phục kéo dài (117,36 ± 12,8ms so với 101,86 ± 4,4ms),

biên độ giảm (7,95 ± 4,4µV so với 15,62 ± 4,6µV) Trong nhóm bệnh lý TKT thiếu máu trước: thời gian tiềm phục kéo dài nhẹ (105,5 ± 6,8ms so với 101,86 ± 4,4ms), chủ yếu là biên độ giảm (5,5 ± 3,4µV so với 15,62 ± 4,6µV)

Kết luận: Biên độ VEP giảm đáng kể trong bệnh lý TKT thiếu máu trước trong khi thời gian tiềm phục kéo dài

trong viêm TKT VEP đưa ra các giá trị định lượng giúp chẩn đoán phân biệt hai thể bệnh này

ABSTRACT

THE ROLE OF PATTERN VISUAL EVOKED POTENTIAL IN DIANGOSIS OF OPTIC NEURITIS

AND ANTERIOR ISCHEMIC OPTIC NEUROPATHY

Le Minh Thong, Dang Xuan Mai * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 11 – Supplement of No 1 - 2007: 225 – 232

Purpose: To evaluate the role of pattern visual evoked potential (P-VEP) for the differential diagnosis

of optic neuritis and anterior ischemic optic neuropathy

Methods: Sixty consecutive patients with the diagnosis of unilateral optic neuritis (n = 30) and

unilateral anterior ischemic optic neuropathy (n = 30) were included in this study In each patient, ophthalmic examination and systemic evaluation were done and VEP was recorded As a control group, VEP recordings of 30 healthy subjects were included

Results: In the optic neuritis group, latency was increased (117.36 ± 12.8msec vs 101.86 ± 4.4msec)

and VEP amplitude was decreased (7.95 ± 4.4 µV vs 15.62 ± 4.6 µV) significantly in comparison with the control group In the anterior ischemic optic neuropathy group, latency was increased slightly (105.5 ± 6.8 msec vs 101.86 ± 4.4msec) and VEP amlitude was decreased significantly (5.5 ± 3.4 µV vs 15.62 ± 4.6 µV)

in comparison with the control group

Conclusion: VEP amplitude in patients with anterior ischemic optic neuropathy is lower abnormally

while VEP latency in patients with optic neuritis is longer abnormally VEP provides quantitative results for the differential diagnosis of these diseases

MỞ ĐẦU

Viêm TKT và bệnh lý TKT thiếu máu trước là

hai bệnh lý TKT thường gặp Mặc dù có cơ chế

sinh bệnh học khác nhau: viêm TKT là tình trạng

viêm và mất Myelin còn bệnh lý TKT thiếu máu

trước là sự thiếu cấp máu đầu TKT nhưng hai

bệnh này có những triệu chứng và dấu chứng tương tự nhau Do đó việc chẩn đoán phân biệt là quan trọng để xác định phương pháp điều trị và tiên lượng Trước đây các đặc điểm thường được xem xét để chẩn đoán phân biệt là tuổi của bệnh nhân, cách thức mất thị lực, triệu chứng đau khi cử động mắt, dạng mất thị trường, dạng phù gai

Trang 2

cương tụ hay nhạt màu

Khoảng ba thập niên gần đây, điện thế gợi thị

giác được ứng dụng là một phương pháp khách

quan để đánh giá chức năng của đường thị giác(4)

VEP được biểu diễn bởi hai thông số là thời

gian tiềm phục và biên độ Thời gian tiềm phục

phụ thuộc vào tốc độ dẫn truyền của sợi trục nên

thường bị kéo dài trong viêm TKT Biên độ VEP

phản ánh số lượng sợi trục nên bị giảm trong bệnh

lý TKT thiếu máu trước Do đó VEP đưa ra các

giá trị định lượng giúp chẩn đoán phân biệt hai

bệnh lý này Tuy nhiên trị số VEP thay đổi rất

nhiều tùy theo các thông số kỹ thuật và điều kiện

của từng phòng đo Theo khuyến cáo của hội điện

sinh lý thị giác lâm sàng quốc tế, mỗi phòng đo

phải có trị số tham khảo riêng Do đó, chúng tôi

đặt ra vấn đề nghiên cứu là “khảo sát vai trò

của điện thế gợi thị giác trong chẩn đoán viêm

gai và thiếu máu thần kinh thị trước”

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

Đối tượng nghiên cứu

BN đđiều trị tại khoa Thần Kinh Nhãn Khoa

BV Mắt TPHCM từ tháng 3/2005 đđến tháng

3/2006 đđược chẩn đoán viêm TKT hoặc bệnh lý

TKT thiếu máu trước

Tiêu chuẩn chọn mẫu

BN thỏa các tiêu chuẩn chẩn đoán viêm TKT

hoặc bệnh lý TKT thiếu máu trước kèm theo các

tiêu chuẩn sau:

- Thị lực mắt bệnh ≥ 1/10

- Thị lực mắt lành được chỉnh kính ≥ 8/10

- Thị trường và chụp mạch huỳnh quang ở mắt

lành bình thường

Triệu chứng và dấu chứng gợi ý chẩn đoán

viêm TKT

- Giảm thị lực đột ngột một mắt trong vòng

vài giờ đến vài ngày

- Có thể kèm đau nhức mắt, đặc biệt đau khi liếc

- Tổn thương đồng tử hướng tâm tương đối

- Gai thị phù cương tụ

- Tổn thương thị trường dạng ám điểm trung tâm

- Chụp mạch huỳnh quang: tẩm nhuộm huỳnh quang gai thị sớm, nhanh, lan tỏa

Triệu chứng và dấu chứng gợi ý chẩn đoán bệnh lý TKT thiếu máu trước

- Giảm thị lực đột ngột một mắt phát hiện lúc sáng thức dậy

- Không đau nhức mắt

- Không có tổn thương đồng tử hướng tâm tương đối

- Gai thị phù không đều, nửa trên nhạt màu, nửa dưới sung huyết

- Lõm sinh lý ở mắt lành nhỏ: C/D ≤ 0.1

- Tổn thương thị trường dạng cao độ

- Chụp mạch huỳnh quang: tẩm nhuộm huỳnh quang gai thị chậm, khu trú, tăng dần ở thì muộn

- Thường có tiền sử bệnh nội khoa kèm theo: cao huyết áp, đái tháo đường

Tiêu chuẩn loại trừ

- Giảm thị lực cả 2 mắt hoặc mắt thứ hai có thị lực kém do nguyên nhân khác

- Có các bệnh lý ở giác mạc, thủy tinh thể, pha lê thể, hoàng điểm giải thích cho sự giảm thị lực ở mắt bệnh

- Có các biểu hiện mắt của bệnh toàn thân

- Bệnh lý TKT không rõ chẩn đoán hoặc không có phù gai

- Bệnh lý TKT thiếu máu trước có các triệu chứng toàn thân và VS cao nghi ngờ thể viêm động mạch

Thiết kế nghiên cứu

Quan sát, tiến cứu, cắt ngang có phân tích

Phương tiện nghiên cứu

Hệ thống đđo VEP: Các thông số kích thích (theo tiêu chuẩn của Hội đđiện sinh lý thị giác lâm sàng quốc tế ISCEV)

Trang 3

Hình 1: Máy đo VEP

Màn hình kích thích: 15 inches

Độ chiếu sáng màn hình: 80 cd/m²

Kích thích tồn màn hình, kiểu mẫu đảo

Kích thước hình mẫu đen trắng:

- Hình mẫu lớn: 51 phút góc thị giác

- Hình mẫu nhỏ: 17 phút góc thị giác

Tần số kích thích: 0,913 Hz

Độ tương phản: 97%

Thị trường tồn màn hình: 17º

Kỹ thuật đo:

BN không nhỏ dãn đồng tử

Ngồi cách màn hình 1m, ngồi tựa lưng tư thế

thoải mái, không gồng cơ, nhìn tập trung vào

điểm định thị

Đặt điện cực, kiểm tra điện trở điện cực hoạt

động dưới 5kΩ

Đo mắt lành trước, mắt bệnh sau

Lưu kết quả, in ra giấy

Xử lý số liệu

Dùng phần mềm SPSS for window phiên bản

11.5, phép kiểm chi bình phương, phép kiểm

Student hai mẫu độc lập

KẾT QUẢ

Bảng 1 Tần suất các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng,

cận lâm sàng ở nhóm ON và nhóm AION

Cách thức mất thị lực

<0,001

Phù gai / Angio

<0,001

Không chụp

Thị trường

Ám điểm trung tâm 10 33,3 Khuyết bó sợi ngoại

Mất nửa thị trường dưới 6 20 20 66,7

Lõm sinh lý mắt kia

<0,001

Chú thích: p*: Kiểm định chi bình phương, RAPD:

Tổn thương đồng tử hướng tâm tương đối

Bảng 2 Kết quả VEP ở nhóm chứng, mắt bình

thường của ON, mắt bình thường của AION

Hình mẫu lớn Hình mẫu nhỏ TGTP (ms) BĐ (µV) TGTP (ms) BĐ (µV)

Nhóm chứng 101,86 ±4,4 15,62 ±4,6 110,53 ±3,8 16,85 ±5,6 Mắt BT /

ON 100,56 ±5,8 16,88 ±6,6 108,13 ±6,3 18,45 ±6,6 Mắt

BT/AION 102,76 ±6,8 12,53 ±4,9 112,26 ±7,6 13,1 ±6,2

Chú thích: TGTP: thời gian tiềm phục; BĐ: Biên

độ VEP: p*: Kiểm định test t – 2 mẫu độc lập, giữa nhóm chứng và mắt bình thường của ON p**: Kiểm định test t – 2 mẫu độc lập, giữa nhóm chứng và mắt bình thường của AION

- Mắt bình thường của ON: Thời gian tiềm phục và biên độ VEP khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (p* > 0,05 Bảng 2)

Trang 4

- Mắt bình thường của AION: Thời gian tiềm

phục khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với

nhóm chứng (p** > 0,05 Bảng 3.2) Biên độ VEP

giảm có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (p**

= 0 015 ở hình mẫu lớn, p** = 0.017 ở hình mẫu

nhỏ Bảng 2)

Bảng 3 Kết quả VEP ở nhóm chứng, mắt bệnh của

ON, mắt bệnh của AION

Hình mẫu lớn Hình mẫu nhỏ TGTP (ms) BĐ (µV) TGTP (ms) BĐ (µV)

Nhóm chứng 101.86 ±4.4 15.62 ±4.6 110.53 ±3.8 16.85 ±5.6

Mắt bệnh /

ON 117.36±12.8 7.95 ±4.4 126.06 ±11 8.03 ±5.8

Mắt bệnh /

AION 105.5 ±6.8 5.5 ±3.4 111.93 ±8.4 5.17 ±4.8

p* <0.001 <0.001 <0.001 <0.001

p** 0.018 <0.001 0.411 <0.001

Chú thích: TGTP: thời gian tiềm phục; BĐ: Biên

độ VEP: p*: Kiểm định test t – 2 mẫu độc lập, giữa

nhóm chứng và mắt bệnh của ON p**: Kiểm định

test t – 2 mẫu độc lập, giữa nhóm chứng và mắt

bệnh của AION p***: Kiểm định test t – 2 mẫu

độc lập, giữa mắt bệnh của ON và mắt bệnh của

AION

- Mắt bệnh của ON: Thời gian tiềm phục kéo

dài đáng kể và biên độ giảm có ý nghĩa so với

nhóm chứng (p* < 0.001 Bảng 3)

- Mắt bệnh của AION: Thời gian tiềm phục

kéo dài nhẹ ở hình mẫu lớn (p**=0.018), không kéo

dài ở hình mẫu nhỏ(p**=0.411), biên độ giảm có ý

nghĩa so với nhóm chứng (p** < 0.001 Bảng 3)

- Thời gian tiềm phục ở nhóm ON kéo dài có

ý nghĩa so với nhóm AION (p*** < 0.001 ở hình

mẫu lớn, p*** = 0.019 ở hình mẫu nhỏ Bảng

3.3), ngược lại biên độ VEP ở nhóm AION giảm

có ý nghĩa so với nhóm ON(p*** < 0.001 ở hình

mẫu lớn, p*** = 0.041 ở hình mẫu nhỏ Bảng 3)

Như vậy, trong cả hai nhóm ON và AION biên độ VEP đều giảm Điểm khác biệt chủ yếu của VEP để chẩn đoán phân biệt là thời gian tiềm phục: Kéo dài đáng kể ở nhóm ON, kéo dài nhẹ hoặc không kéo dài ở nhóm AION

Giá trị ngưỡng của VEP ở nhóm bệnh

- Ở nhóm ON:

+ Giá trị ngưỡng của TGTP: hình mẫu lớn là 107ms (Sn = 83,3%, Sp = 83,3%), hình mẫu nhỏ là 119ms (Sn = 80%, Sp = 96,7%)

+ Giá trị ngưỡng của biên độ: hình mẫu lớn là 10,7µV (Sn = 80%, Sp = 80%), hình mẫu nhỏ là 10,3µV (Sn = 76.6%, Sp = 90%)

- Ở nhóm AION:

+ Giá trị ngưỡng của TGTP: hình mẫu lớn là 104ms (Sn = 56.6%, Sp = 60%), hình mẫu nhỏ là 111ms (Sn = 50%, Sp = 50%)

+ Giá trị ngưỡng của biên độ: hình mẫu lớn là 8,97µV (Sn = 86,6%, Sp = 93,3%), hình mẫu nhỏ là 9,06µV (Sn = 86,6%, Sp = 96,6%)

Bảng.4 Tính phù hợp của VEP trong chẩn đoán

ON và AION dựa trên giá trị ngưỡng

Chú thích: p*: Kiểm định chi bình phương, HML:

Hình mẫu lớn; HMN: hình mẫu nhỏ; TGTP: thời gian tiềm phục; BĐ: biên độ (+): Phù hợp chẩn đoán Số ca bệnh có TGTP cao hơn giá trị ngưỡng trong nhóm ON hoặc có biên độ thấp hơn giá trị ngưỡng trong nhóm AION (-): Không phù hợp chẩn đoán Số ca bệnh có TGTP thấp hơn giá trị ngưỡng trong nhóm ON hoặc có biên độ cao hơn giá trị ngưỡng trong nhóm AION

- Giá trị ngưỡng của TGTP cho tỉ lệ phù hợp chẩn đoán ở nhóm ON là 25/30, ở nhóm AION là 17/30, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê(p* = 0,024, p* = 0,015 Bảng 4),chứng tỏ giá trị ngưỡng của

Trang 5

TGTP có vai trò chẩn đoán cao trong nhóm ON, vai

trò chẩn đoán kém trong nhóm AION

- Giá trị ngưỡng của biên độ cho tỉ lệ phù hợp

chẩn đoán ở nhóm ON là 24/30, ở nhóm AION là

26/30, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p*

= 0,428, p* = 0,317 Bảng 4)

Đối chiếu với kết quả có được từ mục 3.4

- Để chẩn đoán viêm TKT, giá trị ngưỡng của

TGTP được chọn

- Để chẩn đoán bệnh lý TKT thiếu máu trước,

giá trị ngưỡng của biên độ được chọn

Bảng 5 So sánh kết quả VEP giữa kích thích hình

mẫu lớn và hình mẫu nhỏ trong nhóm chứng, nhóm

ON, nhóm AION

Hình mẫu lớn Hình mẫu nhỏ p*

TGTP

Biên độ

p*: Kiểm định test t bắt cặp

- Bảng 5 cho thấy thời gian tiềm phục ở kích

thích hình mẫu nhỏ kéo dài hơn kích thích hình

mẫu lớn, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p* <

0,001) Biên độ VEP giữa kích thích hình mẫu lớn

và hình mẫu nhỏ khác biệt không có ý nghĩa

thống kê (p*> 0,05)

BÀN LUẬN

Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng

của nhóm bệnh: (Bảng 1)

- Viêm TKT xảy ra ở nhóm tuổi trẻ hơn bệnh

lý TKT thiếu máu trước, chênh lệch trung bình là

13,43 tuổi

- Đa số viêm TKT có kiểu mất thị lực nặng

dần (86,7%) phụ thuộc vào diễn tiến viêm và mất

myelin Dạng mất thị lực thường gặp trong bệnh

lý TKT thiếu máu trước là xảy ra đột ngột khi

thức dậy (60%) có lẽ liên quan đến cơ chế hạ

huyết áp hệ thống ban đêm(5)

- Đặc điểm sinh bệnh học về sự mất sợi trục tập trung ở nửa trên của TKT tạo ra hình ảnh lâm sàng

đặc trưng của AION Đó là: phù gai không đều: nhạt màu nửa trên - sung huyết nửa dưới, tẩm nhuộm huỳnh quang không đều: nửa trên giảm huỳnh quang, nửa dưới tăng huỳnh quang và hình ảnh mất nửa thị trường dưới điển hình Tuy nhiên nguyên nhân nào

gây tăng nhạy cảm của nửa trên gai thị đối với tổn thương thiếu máu vẫn chưa biết rõ Có lẽ các sợi trục của nửa trên gai thị khi gập góc 900 để đi qua tấm sàng nằm ở phần ngoại biên hơn so với nửa dưới nên dễ bị chèn ép hơn

- Tổn thương đồng tử hướng tâm tương đối (RAPD): RAPD xuất hiện nổi bật trong nhóm

viêm TKT (73,3%), có tỉ lệ thấp trong nhóm bệnh lý TKT thiếu máu trước (3,3%) Cơ chế sinh bệnh học của bệnh lý TKT thiếu máu trước là sự mất sợi trục mà không mất Myelin Các sợi trục không

bị thiếu máu vẫn được Myelin hóa(7) Do đó tốc độ dẫn truyền xung động thần kinh ở những sợi trục không thiếu máu vẫn bình thường Lượng ánh sáng được tiếp nhận ở nhân Edinger – Wesphal

bằng nhau ở hai mắt nên RAPD không xảy ra

- Triệu chứng lõm sinh lý ≤ 0.1 ở mắt lành có

tỉ lệ cao trong nhóm bệnh lý TKT thiếu máu trước (80%) so với nhóm viêm TKT (10%) Lõm sinh lý nhỏ do các sợi thần kinh bị bó chặt trong cấu trúc chật hẹp của ống củng mạc tại vị trí tấm sàng Chính yếu tố cấu trúc này góp phần làm giảm lưu lượng máu cung cấp cho các sợi trục quanh gai Đặc biệt nếu bệnh nhân có các bệnh lý mạch máu, cao huyết áp, đái tháo đường vốn đã làm giảm lưu lượng máu võng mạc

Kết quả VEP ở nhóm bệnh

Kết quả VEP ở nhóm viêm TKT

Ở mắt bình thường

Thời gian tiềm phục và biên độ VEP không

khác biệt so với nhóm chứng (Bảng 2) Chứng tỏ

TKT ở mắt bình thường được Myelin hóa tốt và số lượng sợi trục đầy đủ Do đó kết quả VEP ở mắt bình thường trong nhóm viêm TKT là đáng tin cậy, có thể dùng làm chuẩn để so sánh với mắt bệnh tìm ra sự khác biệt

Trang 6

- Thời gian tiềm phục kéo dài có ý nghĩa so với

nhóm chứng (117,36ms so với 101,86ms Bảng 3.)

- Biên độ VEP giảm có ý nghĩa so với nhóm

chứng, (7,95µV so với 15,62µV Bảng 3)

Dựa trên cơ chế sinh lý bệnh cơ bản chúng tôi

có thể hiểu được cơ chế của sự kéo dài thời gian

tiềm phục và sự giảm biên độ Sự kéo dài thời

gian tiềm phục dựa trên tác động của sự mất

Myelin trên dẫn truyền nhảy của sợi trục.Sự mất

Myelin làm bộc lộ các kênh K+, tạo ra dòng di

chuyển ngược làm chậm đạt đến ngưỡng khử cực ở

nốt Ranvier, do đó làm chậm tốc độ dẫn truyền

xung động, biểu hiện bằng sự kéo dài thời gian

tiềm phục của VEP mà không làm giảm biên độ

Biên độ VEP giảm được giải thích do mất sợi

trục xảy ra thứ phát trong quá trình viêm Khi

dòng K+ vượt quá số lượng kênh Natri, sự tắc dẫn

truyền xảy ra gây phù sợi trục, chèn ép vi mạch

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với

những quan tâm gần đây đối với hiện tượng mất

sợi trục trong viêm TKT(2) Tác giả Steel và

Waldock đã dùng kỹ thuật quét laser phân cực

(scanning laser polarimetry) cho kết quả có sự

mất lớp sợi thần kinh võng mạc sau đợt cấp viêm

TKT trong 94% trường hợp(2) Tác giả Collignon –

Robe đã đo độ rộng của quang phổ Doppler để

đánh giá tuần hoàn đầu TKT trong ON Kết quả

có sự giảm tuần hoàn tại đầu TKT trong ON

Kết quả VEP ở nhóm bệnh lý TKT thiếu máu

trước

Ở mắt bình thường

- Thời gian tiềm phục không khác biệt so với

nhóm chứng (102.76ms so với 101.86ms,

112.26ms so với 110.53ms Bảng 2)

- Biên độ VEP giảm có ý nghĩa so với nhóm

chứng (12,53µV so với 15,62µV, 13,1µV so với

16,85µV Bảng 2)

Ở mắt bệnh

- Thời gian tiềm phục ở kích thích hình mẫu

lớn kéo dài có ý nghĩa so với nhóm chứng

(105,5ms so với 101,86 ms Bảng 3.) Thời gian

tiềm phục ở kích thích hình mẫu nhỏ không khác

biệt so với nhóm chứng (111,93ms so với 110,53

ms Bảng 3)

- Biên độ VEP giảm có ý nghĩa so với nhóm chứng (5,5 µV so với 15,62µV, 5,17µV so với

16,85µV Bảng 3)

Sự giảm biên độ VEP ở mắt bệnh được giải thích do sự thiếu cấp máu trong tuần hoàn gai thị, được thúc đẩy bởi cấu trúc chật hẹp của các sợi thần kinh và cấu trúc nâng đỡ tại đầu TKT Vòng lẩn quẩn của chu kì thiếu máu, phù sợi trục, chèn ép

vi mạch và thiếu máu nặng hơn làm tổn thương thần kinh diễn tiến nặng, dẫn đến sự thoái hóa và teo sợi trục

Sự kéo dài nhẹ của thời gian tiềm phục ở kích thích hình mẫu lớn là một dấu chứng của rối loạn dẫn truyền tại mức độ gai thị(40)

Sự giảm biên độ VEP ở mắt bình thường so với nhóm chứng cho thấy sự thiếu máu TKT đã ảnh hưởng đến chức năng TKT ở mắt lành Có thể giải thích sự giảm chức năng này qua yếu tố lõm gai sinh lý Lõm gai nhỏ hoặc không có lõm gai ở mắt lành được xem là “gai thị có nguy cơ”, do sợi trục thần kinh nằm trong một vùng bó hẹp của ống củng mạc tại tấm sàng là yếu tố thúc đẩy sự thiếu máu(6), đặc biệt rất dễ xảy ra vào ban đêm khi huyết áp động mạch hạ thấp

Giá trị ngưỡng của VEP trong nhóm bệnh

Ở nhóm viêm TKT

Giá trị ngưỡng của TGTP – hình mẫu lớn: 107ms (Sn = 83.3%, Sp = 83.3%)

Giá trị ngưỡng của TGTP – hình mẫu nhỏ: 119ms (Sn = 80%, Sp = 96.7%)

Thời gian tiềm phục kéo dài trên giá trị ngưỡng được chấp nhận như dấu hiệu tổn thương dẫn truyền xung động thần kinh (1)

Ở nhóm bệnh lý TKT thiếu máu trước

Giá trị ngưỡng của biên độ-hình mẫu lớn: 8.97µV (Sn = 86.6%, Sp = 93.3%)

Giá trị ngưỡng của biên độ-hình mẫu nhỏ:9.06µV (Sn = 86.6%, Sp = 96.6%)

Biên độ thấp hơn giá trị ngưỡng là dấu hiệu của thiếu máu đầu TKT(1)

Trang 7

Tương tự với kết quả nghiên cứu của chúng

tôi, tác giả Atilla H đưa ra giá trị ngưỡng của thời

gian tiềm phục ở nhóm viêm TKT là 107ms, độ

nhạy 80%, độ đặc hiệu 94,3% (8) Tác giả cũng

không chọn được giá trị ngưỡng của thời gian tiềm

phục trong bệnh lý TKT thiếu máu trước với độ

nhạy và độ đặc hiệu thích hợp Tác giả kết luận

bệnh lý TKT thiếu máu trước được đại diện bởi

biên độ VEP, giá trị ngưỡng là 3 µV, độ nhạy

91,4%, độ đặc hiệu 92,9%

Do biên độ VEP có sự chênh lệch đáng kể giữa

các đối tượng Nên biên độ VEP được đánh giá tốt

nhất khi so sánh giữa hai mắt của cùng một người

Sự khác biệt giữa kích thích hình mẫu lớn –

hình mẫu nhỏ

Kết quả từ bảng 3,5, TGTP ở kích thích hình

mẫu nhỏ kéo dài hơn kích thích hình mẫu lớn

chứng tỏ có sự khác biệt trong thành phần dẫn

truyền của sợi trục ở các kích thước hình mẫu

khác nhau Các sợi trục đáp ứng với kích thích

hình mẫu nhỏ có tốc độ dẫn truyền chậm hơn

Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của các

tác giả Novak và cộng sự mô tả các tế bào hạch

nào nhạy cảm với kích thích tần số không gian

cao(hình mẫu nhỏ) có vị trí khu trú nổi bật ở hoàng

điểm, có thị trường tiếp nhận nhỏ, đường kính sợi

trục nhỏ và tốc độ dẫn truyền chậm hơn

Rimmer nhận xét rằng mỗi loại kích thước

hình mẫu có thể tạo ra đáp ứng từ loại tế bào hạch

này hơn loại tế bào hạch khác Vì vậy thời gian

võng mạc – vỏ não tại một kích thước hình mẫu có

thể phản ánh tốc độ dẫn truyền của một loại tế bào

hạch chuyên biệt

Không có sự khác biệt về biên độ VEP giữa

kích thích hình mẫu lớn và hình mẫu nhỏ Điều

này được giải thích rõ ràng do biên độ VEP bị ảnh

hưởng bởi sự thoái hóa và teo sợi trục Kích thích

hình mẫu lớn và hình mẫu nhỏ khác nhau chủ yếu

ở tốc độ dẫn truyền, không khác nhau ở số lượng sợi trục Nên loại kích thích lớn hay nhỏ không ảnh hưởng đến biên độ VEP Tác giả Rimmer ghi nhận sự khác biệt về biên độ VEP theo các kích thước hình mẫu khác nhau không có ý nghĩa thống kê Tương tự tác giả Kurita Tashima cũng không tìm thấy mối tương quan giữa biên độ và kích thước hình mẫu

KẾT LUẬN

VEP là phương pháp khách quan, đáng tin cậy và khả thi được dùng để đánh giá chức năng thị giác trong bệnh lý TKT, đồng thời cho phép phát hiện sớm sự liên quan bệnh lý ở mắt bên kia VEP phát hiện các tổn thương thị giác tiền lâm sàng, có giá trị trong bệnh xơ cứng rải rác TGTP kéo dài (117,36 ±12,8ms) có giá trị giúp chẩn đoán phân biệt viêm TKT và bệnh lý TKT thiếu máu trước

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Atilla H (2006): Pattern Electroretinography and Visual Evoked Potentials in optic nerve disease Journal of Clinical

Neuroscience V13 Is1: 55 – 59

2 Collignon Robe N.J (2004): Optic nerve head circulation in Non-arteritic ischemic optic neuropathy and optic neuritis Ophthalmology V111.Is9: 1663 – 1672

3 Fishman G.A,; Birch D.G,; Holder G.E.: Electrophysiology testing in disorders of the retina, optic nerve and visual pathway The Foundation of the American Academy of Ophthalmology Second Edition

4 Frederiksen J.L and Petrera J (2001): Serial Visual Evoked Potentials in 90 untreated patients with acute optic neuritis Survey of Ophthalmology October 1999.V44, S1: S54 – S62

5 Marta J.; Zsuzsanna F (2006): Electrophysiological findings in patients with Non-arteritic ischemic optic neuropathy Clinical europhysiology

6 Sadun A.A (2004) The afferent visual system Inflammatory optic neuropathies and Neuro – Retinitis Ischemic optic neuropathy, Diabetes Papillopathy and Papillophlebitis In: Ophthalmology Yanoff M, Duker J.S Mosby: 1241 – 1409

7 Wilson W.B (1978) Visual Evoked Response differentiation

of ischemic optic neuritis from the optic neuritis of multiple sclerosis A.J.Ophthalmol.; 86: 530 – 535

Ngày đăng: 21/01/2020, 21:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w