1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá hiệu quả can thiệp bít thông động - tĩnh mạch màng cứng vùng xoang hang theo đường tĩnh mạch

8 57 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 632,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông động - tĩnh mạch màng cứng vùng xoang hang là thông trực tiếp bất thường giữa động mạch màng cứng vào tĩnh mạch xoang hang. Điều trị bít thông qua đường tĩnh mạch hiện nay được coi như một chọn lựa ưu tiên trong điều trị TĐ‐TMMC vùng XH do tính an toàn và hiệu quả cao. Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá hiệu quả và tính an toàn của can thiệp đường tĩnh mạch bít TĐ‐TMMC vùng XH.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CAN THIỆP BÍT THÔNG ĐỘNG – TĨNH MẠCH  MÀNG CỨNG VÙNG XOANG HANG THEO ĐƯỜNG TĨNH MẠCH 

Nguyễn Đức Chỉnh * , Trần Chí Cường ** 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Thông động – tĩnh mạch màng cứng (TĐ‐TMMC) vùng Xoang Hang (XH) là thông trực tiếp 

bất thường giữa động mạch (ĐM) màng cứng vào tĩnh mạch (TM) Xoang Hang. Điều trị bít thông qua đường 

TM hiện nay được coi như một chọn lựa ưu tiên trong điều trị TĐ‐TMMC vùng XH do tính an toàn và hiệu  quả cao. Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá hiệu quả và tính an toàn của can thiệp đường tĩnh mạch bít 

TĐ‐TMMC vùng XH. 

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu các trường hợp được chẩn đoán TĐ‐TMMC 

vùng xoang hang gián tiếp và can thiệp bít thông đường Tĩnh Mạch tại Bệnh Viện Đại Học Y Dược Thành Phố 

Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ tháng 08 năm 2012 đến hết tháng 08 năm 2014  

Kết quả: Trong khoảng thời gian nghiên cứu trên có 38 trường hợp thỏa tiêu chuẩn nhận vào nghiên cứu. 

Tuổi trung bình 56 tuổi (nhỏ nhất 19 tuổi, lớn nhất 75 tuổi), nữ chiếm 79% (30/38).Tiếp cận đường tĩnh mạch  thành công trong 97% (37/38). Trong các đường TM tiếp cận, đường xoang đá dưới chiếm 78,4% (29/37). Bít rò 

hoàn toàn trong 71% (27/38). Tai biến do thủ thuật 2,6% (1/38) nhưng hồi phục hoàn toàn sau 1 tháng. 

Kết luận: Ưu tiên can thiệp bít TĐ‐TMMC vùng XH đường TM trong những trường hợp có chỉ định do tỉ 

lệ thành công cao và tai biến thấp. 

Từ khóa: TĐ‐TMMC, Xoang hang, Can thiệp nội mạch. 

ABSTRACT 

EVALUATING EFFECTIVENESS OF CAVERNOUS SINUS DURAL ARTERIOVENOUS FISTULA 

TREATMENT BY TRANSVENOUSEMBOLISATION 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 433 - 440 

Background:  Cavernous  Sinus  Dural  ArterioVenous  Fistula  (CSDAVF)  is  an  abnormal  connection 

between  dural  arteries  and  veins  around  cavernous  sinus.  Transvenous  embolisation  of  CSDAVF  is  the  first  choice  for  treatment  because  of  effectiveness  and  safety.  This  study  evaluate  effectiveness  of  transvenous  embolisation for CSDAVF treatment. 

Objectives and study method: Retrospective descriptive study all of case with CSDAVF and treatment by 

transvenous coils embolisation from august 2012 to august 2014 at University Medical Hospital of Ho Chi Minh  city. 

Results: 38 cases with CSDAVF and transvenous Embolisation. Medium age is 56 ys, Female: male ratio is 

4:1.  Successful  transvenous  access  is  97%.  Inferior  petrosal  sinus  is  the  most  common  pathway  with  78.4%.  Completed Embolisation is 71% and complication is 2.6% but complete recovery after 1 month. 

Conclusions: Transvenous Embolisation of CSDAVF is effective and safe 

Keywords: CSDAVF, transvenous embolisation, endovascular intervention. 

*  Bệnh viện Đại Học Y Dược TPHCM 

Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Đức Chỉnh; ĐT: 0933023473 Email: Chinh0208@gmail.com 

Trang 2

Thơng động – tĩnh mạch màng cứng là thơng 

trực  tiếp  bất  thường  giữa  động  mạch  (ĐM)  và 

tĩnh mạch (TM) nằm trên bề mặt của màng cứng 

trong  nã(Error!  Reference  source  not  found.,Error!  Reference  source 

not  found.,Error!  Reference  source  not  found.).  Trong  các  vị  trí 

thơng  màng  cứng  thường  gặp  thì  vị  trí  xoang 

ngang  –  xoang  sigma  thường  gặp  nhất  ở  các 

nước  Phương  Tây  trong  khi  đĩ  vị  trí  xoang 

Hang  (XH)  thường  gặp  nhất  tại  các  nước 

Phương  Đơng.  Triệu  chứng  lâm  sàng  thường 

bao  gồm  đỏ  mắt,  lồi  mắt,  ù  tai,  đau  đầu,  nhìn 

đơi, liệt vận nhãn hay các biến chứng xuất huyết 

não(Error!  Reference  source  not  found.,Error!  Reference  source  not 

found.,Error! Reference source not found.). Các triệu chứng xuất 

hiện phụ thuộc nhiều vào cách thức dẫn lưu và 

đĩ  cũng  là  yếu  tố  chính  cho  việc  ra  quyết  định 

điều  trị.  Dẫn  lưu  ngược  ra  TM  não  giữa  nơng, 

TM  lều  tiểu  não  cĩ  nguy  cơ  xuất  huyết  cao  lên 

đến  10,4%  mỗi  năm  và  nên  được  điều  trị  tích 

cực(Error!  Reference  source  not  found.).  Những  BN  cĩ  triệu 

chứng tăng nhãn áp gây nên do dẫn lưu TM mắt 

lưu lượng cao cũng cĩ chỉ định điều trị sớm do 

hậu  quả  cĩ  thể  gây nên mù  mắt nếu  tình trạng 

kéo  dài(Error!  Reference  source  not  found.).  Trong  những 

trường hợp BN khơng dung nạp với triệu chứng 

của bệnh cũng xem xét điều trị(Error! Reference source not 

found.,Error!  Reference  source  not  found.,Error!  Reference  source  not 

found.)

Các phương pháp điều trị hiện nay bao gồm: 

đè ép ĐM hoặc TM, can thiệp nội mạch qua ĐM 

hay  TM,  xạ  trị  với  tia  gamma,  phẫu  thuật(Error! 

Reference  source  not  found.,Error!  Reference  source  not  found.,Error! 

Reference  source  not  found.,Error!  Reference  source  not  found.).  Can 

thiệp qua đường TM hiện nay được coi như một 

chọn  lưa  ban  đầu  trong  điều  trị  thơng  động  – 

tĩnh  mạch  màng  cứng  (TĐ‐TMMC)  do  tính  an 

tồn  và  hiệu  quả  cao(Error!  Reference  source  not  found.,Error! 

Reference  source  not  found.,Error!  Reference  source  not  found.).  Vùng 

xoang hang là nơi hội lưu của nhiều nguồn TM 

với dẫn lưu vào cĩ TM mắt trên, TM mắt dưới, 

TM não giữa nơng, TM lều tiểu não và dẫn lưu 

ra cĩ TM đá trên và TM đá dưới. Do thơng với 

nhiều  xoang  TM  như  vậy  nên  việc  chọn  lựa  dường  vào  TM  trong  can  thiệp  bít  TĐ‐TMMC  vùng XH cũng rất đa dạng tùy vào giải phẫu cụ  thể  của  từng  bệnh  nhân  (BN).  Tỉ  lệ  thành  cơng  trong các nghiên cứu bít thơng vùng xoang hang  qua đường tĩnh mạch trong một số báo cáo trên  thế giới dao động từ 70% ‐ 90% và tỉ lệ tai biến  nặng  do  thủ  thuật  khoảng  2%(Error! Reference source not  found.,Error!  Reference  source  not  found.,Error!  Reference  source  not  found.,Error! Reference source not found.)

Tại  Việt  Nam  chưa  cĩ  những  nghiên  cứu  đánh giá về tình trạng bệnh lý cũng như phương  pháp điều trị cho bệnh lý trên. Do đĩ chúng tơi  tiến hành nghiên cứu này nhằm mục đích đánh  giá hiệu quả và tính an tồn của can thiệp đường  tĩnh mạch bít TĐ‐TMMC vùng XH. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Chúng  tơi  tiến  hành  nghiên  cứu  hồi  cứu  sổ 

bộ  những  trường  hợp  được  chẩn  đốn  thơngđộng – tĩnh mạch màng cứng vùng xoang  hang và được can thiệp đường tĩnh mạch (thành  cơng  hoặc  khơng)  gây  tắc  thơng  tại  Bệnh  Viện  Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh trong thời gian 

từ tháng 8 năm 2012 đến hết tháng 8 năm 2014.  Các trường hợp thỏa tiêu chuẩn nhận vào được  thu thập các dữ liệu về tuổi, giới, đặc điểm lâm  sàng,  các  đặc  điểm  hình  ảnh  chụp  mạch  máu  não, hiệu quả can thiệp về mạch hình ảnh học và  biến  chứng  ngắn  hạn.  Phân  tích  các  đặc  điểm  hình ảnh học mạch máu não bao gồm đánh giá  các nhánh rị (từ cảnh trong hay cảnh ngồi), vị  trí  rị  (hang  hang  phải  hay  trái  hay  cả  hai),  các  tĩnh mạch dẫn lưu (xuơi dịng cĩ: xoang đá dưới,  xoang đá trên hay ngược dịng cĩ TM mắt, TM  não  giữa  nơng  hay  TM  lều  tiểu  não).  Phân  tich  theo  các  đường  tiếp  cận  xoang  hang:  đường  xoang  đá  dưới,  xoang  đá  trên,  TM  thái  dương  nơng, TM mặt và chọc trực tiếp TM mắt. 

Tiêu chuẩn hết thơng hồn tồn là hình ảnh  chụp DSA sau can thiệp khơng cịn thấy bất kỳ  nhánh  rị  nào  vào  xoang  xoang.  Hết  thơng  khơng hồn tồn là gây tắc được các đường trào  ngược nguy hiểm nhưng cịn hình ảnh thơng ở 

Trang 3

tiếp  cận  đường  TM  hay  tiếp  cận  được  nhưng 

không gây tắc được các đường trào ngược. 

Hình 1: Tương quan vị trí xoang hang với các xoang 

khác (SSS: xoang dọc trên, ISS: xoang dọc dưới, CS: 

xoang hang, SS: xoang sigma, TS: xoang ngang, OS: 

xoang chẩm 

Hình 2: Các dẫn lưu từ xoang hang (SOV: TM mắt 

trên, IOV: TM mắt dưới, SMV: TM não giữa nông,  IPS: xoang đá dưới, SPS: xoang đá trên STV: TM thái  dương nông, Angula V: TM góc 

Mô Tả Kỹ Thuật 

Bệnh  nhân  được  thực  hiện  thủ  thuật  trong 

phòng DSA. 

BN  được  chụp  mạch  máu  não  chẩn  đoán: 

gây  tê  tại  chỗ  vùng  bẹn  phải  (P),  đặt  sheath  5F 

vào ĐM đùi (P). Qua sheath 5F đưa bộ catheter 

5F và guidewire 0.035 inches vào các động mạch 

cảnh trong và cảnh ngoài 2 bên, đốt sống 1 bên. 

Chụp mạch máu để xác định các nguồn thông từ 

ĐM  cảnh  trong,  cảnh  ngoài  bên  nào  vào  xoang 

hang và dẫn lưu đi đâu. 

Can  thiệp  bít  thông  (thường  thực  hiện  sau 

chụp chẩn đoán 3 – 4 ngày) qua đường xoang đá 

dưới: BN được gây mê hoặc gây tê. Tiếp tục làm 

phía bẹn (P) nếu vị trí chọc kim lần trước không 

có tụ máu, làm phía đối bên nếu có máu tụ. Đặt 

sheath  5F  vào  ĐM  đùi  và  sheath  6F  vào  TM 

đùi.Dùng  catheter  5F  đặt  vào  ĐM  có  nguồn 

thông  nhiều  (thường  là  cảnh  ngoài)  và 

Guidingcatheter 6F vào TM cảnh trong gần chỗ 

nối  vào  xoang  sigma.  Dùng  guidewire  0.035 

inches chọn lọc qua xoang đá dưới dưới hướng 

dẫn  của  chế  độ  Roadmap  (nếu  nhìn  thấy  được 

xoang đá dưới trên hình chụp thì ĐM) hay chọn 

lọc mù dựa trên định vị giải phẫu. Sau khi đưa 

được  guidewire  0.035  inches  vào  trong  xoang 

hang  thì  tiến  hành  làm  Roadmap  trắng  qua  đó  đưa bộ microcatheter (đường kính lòng trong ít  nhất 0.021 inches) và microguidewire 0.014 chọn  lọc  vào  xoang  hang.  Chụp  nhẹ  nhàng  qua  microcatheter để thấy được các dẫn lưu từ xoang  hang. Chọn lọc các vị trí dẫn lưu nguy hiểm để  bít trước (TM lều tiểu não, TM não giữa nông và 

TM mắt) sau đó là xoang hang bằng lò xo có tính  huyết khối cao (fiber coil). Trong quá trình đặt lò 

xo  chụp  kiểm  tra  qua  đường  động  mạch  để  khẳng  định  đã  hết  dẫn  lưu  ngược  dòng  và  các  đường thông.Sau khi chụp kiểm tra đã hết thông  thì  rút  toàn  bộ  microcatheter,  catheter  và  Guidingcatheter ra ngoài, rút sheath và băng ép  bẹn 12 – 24 giờ. 

Can  thiệp  bít  thông  qua  đường  xoang  đá  trên: thực hiện giống như qua đường xoang đá  dưới  nhưng  có  một  số  khác  biệt  sau:  trên  hình  chụp  thì  ĐM  phải  thấy  rõ  xoang  đá  trên,  đặt  Guidingcatheter lên đến đoạn cuối xoang sigma, 

microguidewire uốn đầu cong hơn. 

Can thiệp bít thông qua đường TM mặt: thực  hiện  giống  như  qua  đường  xoang  đá  dưới  nhưng  có  một  số  khác  biệt  sau:  Đặt  Guidingcatheter  vào  TM  cảnh  ngoài,  dùng  bộ 

Trang 4

microcathater  +  microguidewire  chọn  lọc  qua 

đường  TM  mặt  qua  TM  góc  đến  TM  mắt  trên 

vào xoang hang.  

Can  thiệp  bít  thông  qua  đường  TM  thái 

dương  nông:  thực  hiện  giống  như  qua  đường 

xoang  đá  dưới  nhưng  có  một  số  khác  biệt  sau: 

Đặt  Guidingcatheter  vào  TM  cảnh  ngoài,  dùng 

bộ microcathater+ microguidewire chọn lọc qua 

đường  TM  thái  dương  nông  qua  TM  góc  đến 

TM mắt trên vào xoang hang.  

Chọc  kim  trực  tiếp  vào  TM  mắt  trên:  Dưới 

hướng  dẫn  siêu  âm  chọc  kim  vào  TM  mắt  trên 

đã bị giãn. Đặt micropuncture vào TM mắt trên, 

đưa microcatheter qua micropuncture vào xoang  hang và đặt coils. 

KẾT QUẢ 

Trong thời gian từ tháng 8 năm 2012 đến hết  tháng  8  năm  2014  có  38  trường  hợp  thỏa  tiêu  chuẩn nhận vào nghiên cứu. Tuổi trung bình 56  tuổi (nhỏ nhất 19 tuổi, lớn nhất 75 tuổi), có 30 BN 

nữ (79%) và 8 BN nam (21%). Triệu chứng khiến  bệnh nhân nhập viện là đỏ mắt 92,1% (35/38), ù  tai 5,3% (2/38), nhìn đôi 2,6% (1/38). 

d e f

Hình 1: Can thiệp bít thông đường TM mặt: BN nữ 34 tuổi, đỏ mắt (P) kéo dài. Thông từ ĐM cảnh trong (a) và 

ĐM cảnh ngoài (b) vào xoang hang (P) dẫn lưu chủ yếu ra TM mắt trên qua TM mặt và TM thái dương nông  (c). Chọn lọc microcatheterqua TM mặt, TM góc vào xoang hang (d), tiến hành đặt coils (e) và bít thông hoàn  toàn sau đó (f) 

Trong 38 trường hợp thông có 8 trường hợp 

(21%)  thông  vào  cả  2  xoang  hang,  vào  xoang 

hang (T) là 14 trường hợp (36,8%) và xoang hang 

(P) là 16 trường hợp (42,2%). Các nguồn thông từ 

ĐM  cảnh  2  bên  chiếm  81,6%  (31/38)  và  từ  ĐM 

cảnh 1 bên chiếm 18,4% (7/38).  

Các nguồn TM dẫn lưu là TM mắt trên 92 % 

(35/35),  xoang  đá  dưới  65,8%  (25/38),  TM  não 

giữa  nông  là  52,6%  (20/38),  TM  lều  tiểu  não  là  34% (13/38) và xoang đá trên là 2,6% (1/38).  Tiếp cận đường tĩnh mạch thành công trong  97%  (37/38).  Một  trường  hợpBN  nữ  78  tuổi  thông từ ĐM cảnh trong và cảnh ngoài 2 bên vào  xoang  hang  (P)  dẫn  lưu  TM  mắt  (P),  TM  não  giữa nông và TM lều tiểu não, không thấy xoang 

đá  dưới  (P).  Cố  gắng  chọn  lọc  qua  xoang  đá 

Trang 5

dưới (P) nhưng thất bại phải chuyển qua gây tắc  đường ĐM. 

Hình 2: Can thiệp bít thông đường xoang đá dưới. BN nữ 36 tuổi, đỏ mát (P) 5 tháng. Hình DSA thông vào 

xoang hang (P) từ Đm cảnh ngoài (T) (a), Đm cảnh trong (T) (b), và Đm cảnh ngoài (P) (c) có trào ngược TM 

não giữa nông (P) (a) và TM mắt (d), (e). Chọn lọc qua xoang đá dưới (e) và đặt lò xo (F). sau can thiệp hết thông 

hoàn toàn từ ĐM cảnh trong và ngoài 2 bên (g), (h), (i). 

Trong các đường TM tiếp cận, đường xoang 

đá dưới chiếm ưu thế với 78,4% (29/37), kế tiếp 

là  đường  TM  mặt  với  13,5%  (5/37),  các  đường 

còn lại là đường xoang đá trên, đường TM thái 

dương nông và chọc trực tiếp qua TM mắt có 1 

trường hợp (2,7%). Trong các trường hợp không 

thấy xoang đá dưới tỉ lệ chọn lọc lên được xoang 

hang qua đường xoang đá dưới là 38,5% (5/13). 

Bít  thông  hoàn  toàn  trong  71%  (27/38)  các 

trường  hợp.  Trong  đó  thông  chỉ  1  bên  xoang 

hang có tỉ lệ điều trị hết hoàn toàn cao hơn với 

73% (22/30) so với thông 2 bên là 62,5% (5/8). 

Về mặt lâm sàng có 1 trường hợp (2,6%) đau 

đầu nôn ói liên tục sau can thiệp bít thông 1 tuần 

+  liệt  vận  nhãn  toàn  bộ.  BN  được  điều  trị  với 

kháng  đông  theo  kinh  nghiệm  và  corticoid  với 

nhận  định  huyết  khối  tạo  lập  quá  mức  trong  xoang hang. Sau can thiệp bít thông 1 tháng BN  hồi  phục  vận  nhãn  hoàn  toàn,  không  còn  buồn  nôn hay nôn ói. 

BÀN LUẬN 

Đa  số  các  trường  hợp  có  TĐ‐TMMC  vùng 

XH trong nghiên cứu là nữ tuổi sau mãn kinh  phù  hợp  với  các  nghiên  cứu  trên  thế  giới,  trong  nghiên  cứu  của  Kim.D.J  thực  hiện  tại  Hàn Quốc thì tỉ lệ nữ mắc bệnh cũng chiếm tới 

Nghiên cứu này cũng tương tự kết quả nghiên  cứu  của  Lekkhong  với  tuổi  trung  bình  khởi 

thích  điều  này  do  sinh  lý  bệnh  liên  quan  đến  thay  đổi  nội  tiết  tố  sau  mãn  kinh.  Các  triệu 

Trang 6

chứng  khiến  BN  nhập  viện  chủ  yếu  vẫn  là 

triệu chứng tại mắt. Điều này phù hợp với các 

nghiên  cứu  trên  thế  giới(Error!  Reference  source  not 

found.,Error!  Reference  source  not  found.,Error!  Reference  source  not 

found.,Error! Reference source not found.,Error! Reference source not found.) 

do  triệu  chứng  liên  quan  mật  thiết  với  hình 

thức  dẫn  lưu.  Trong  nghiên  cứu  này  dẫn  lưu 

TM mắt chiếm 98% do đó triệu chứng tại mắt 

là lý do chính khiến BN nhập viện.  

Trong  38  trường  hợp  thông  có  21%  thông 

vào  cả  2  xoang  hang.  Các  nguồn  thông  từ  ĐM 

cảnh 2 bên chiếm 81,6% (31/38) và từ ĐM cảnh 1 

bên chiếm 18,4% (7/38). Kết quả này phù hợp với 

nghiên cứu của Akira thực hiện tại Nhật Bản với 

39%  ảnh  hưởng  đến  cả  2  xoang  hang  và  75% 

nguồn  cấp  máu  từ  cả  2  bên  ĐM  cảnh.  Một 

nghiên cứu khác của Cheng K.M cũng cho thấy 

thông vào cả 2 xoang hang trong 44,4%. Với bản 

chất  tăng  sinh  mạch  máu  +  nhiều  thông  giữa 

xoang hang 2 bên có thể giải thích phần nào tính 

lan tỏa của tổn thương trên. 

Các đường tĩnh mạch dẫn lưu có tỉ lệ cao lần 

lượt  là  TM  mắt,  xoang  đá  dưới,  TM  não  giữa 

nông  và  TM  lều  tiểu  não.  Các  đường  dẫn  lưu 

này  tương  tự  với  các  đường  dẫn  lưu  trong 

nghiên  cứu  của  tác  giả  Trần  Chí  Cường  tuy 

nhiên tỉ lệ có thấp hơn do trong nghiên cứu của 

tác  giả  Trần  Chí  Cường  đánh  giá  dẫnlưu  của 

thông ĐM cảnh – xoang hang trực tiếp do đó lưu 

lượng cao hơn dẫn đến thoát ra TM theo nhiều 

đường cùng lúc(Error! Reference source not found.).  

Tiếp  cận  xoang  hang  qua  dường  tĩnh  mạch 

thành công cao do xoang hang là nơi hội lưu của 

nhiều nguồn  TM  vì  vậy ta  có nhiều con  đường 

để chọn lựa. Trong các đường tiếp cận TM vào 

xoang  hang  thì  xoang  TM  đá  dưới  là  vị  trí 

thường  được  chọn  nhất  do  đường  đi  thẳng  và 

ngắn nhất. Một số nghiên cứu cho thấy tiếp cận 

xoang đá dưới chiếm từ 64% đến 72% trong các 

đường  TM  vào  xoang  hang(Error!  Reference  source  not 

found.,Error!  Reference  source  not  found.),  tỉ  lệ  này  khá  tương 

đồng với nghiên cứu này. Trong các trường hợp 

thấy  rõ  xoang  đá  dưới  trên  hình  chụp  DSA  thì 

tiếp cận xoang đá dưới là ưu tiên hàng đầu. Một 

số nghiên cứu cho thấy đôi khi không nhìn thấy  hình ảnh dẫn lưu của xoang đá dưới nhưng vẫn 

có  thể  chọn  lọc  bằng  microcatheter  và  microguidewire qua được xoang đá dưới và tỉ lệ  thành  công  khi  chọn  lọc  mù  trong  nghiên  cứu  này  là  38,5%  thấp  hơn  so  với  nghiên  cứu  của  Lekkhong  là  78,8%.  Điều  này  có  thể  lý  giải  do  khác nhau về thiết kế nghiên cứu. Trong nghiên  cứu của Lekkhong nhằm mục đích đánh giá khả  năng chọn lọc microcatheter qua được xoang đã  tắc trong khi đó nghiên cứu này nhằm khảo sát  các  đường  tiếp  cận  vào  xoang  hang  khác  như  xoang  đá  trên,  TM  thái  dương  nông,  TM  mặt.  Tuy nhiên những trường hợp tiếp cận “mù” như  vậy có thể gây ra biến chứng thủng mạch máu.  Một số trường hợp không tiếp cận được qua TM 

đá dưới cùng bên có thể tiếp cận từ TM đá đối  bên  vào  XH  đối  bên  và  qua  kênh  gian  XH  vào 

XH  mục  tiêu(Error!  Reference  source  not  found.,Error!  Reference  source not found.)

Trong  trường  hợp  chọn  lọc  mù  xoang  đá  dưới thất bại ta có thể xem xét can thiệp ngược  dòng  qua  đường  TM  cảnh  ngoài  vào  TM  mặt 

và  TM  thái  dương  nông  sau  đó  vào  TM  góc, 

TM  mắt  trên  vào  xoang  hang  nếu  hình  ảnh  DSA phù hợp. Tiếp cận từ TM cảnh ngoài qua 

TM  mặt  vào  TM  góc  là  một  lựa  chọn  thường  được nhắc đến. Trong nghiên cứu này tỉ lệ can  thiệp đi con đường trên là 13,5%. Nghiên cứu  của  Kim.D.J  tại  Hàn  Quốc  cho  thấy  13%  các  trường  hợp  được  can  thiệp  qua  đường  TM  mặt(Error! Reference source not found.)

.Tiếp  cận  xoang hang từ phía trước như vậy có ưu điểm 

là  ít  gây  tổn  thương  mạch  máu  nội  sọ,  còn  nhược  điểm  là  đường  đi  dài  khó  thao  tác  cần  nhiều thời gian và có khả năng gây tổn thương 

TM mắt trên(8).  Một  con  đường  tiếp  cận  khác  là  can  thiệp  trực tiếp TM mắt trên bằng cách đặt Sheath vào 

TM  mắt  trên  dưới  hướng  dẫn  siêu  âm.  Trong  suốt quá trình 2 năm chúng tôi chỉ tiến hành can  thiệp trực tiếp qua đường TM mắt trên 1 trường 

Trang 7

hợp.  Dưới  hướng  dẫn  Siêu  âm,  BS  siêu  âm  can 

thiệp  chọc  kim  vào  TM mắt trên  giãn  lớn 5mm 

và  đặt  bộ  micropuncture  sau  đó  tiến  hành  đặt 

coils bít thông hoàn toàn. Trên y văn có ghi nhận 

một  số  trường  hợp  tiếp  cận  TM  mắt  trên  bằng 

cách bộc lộ trực tiếp TM mắt qua một vết cắt da 

vùng  trong  góc  mắt  sau  đó  đặt  Sheath  và  tiến 

hành chọn lọc xoang hang bằng microcatheter và 

đặt  sheath  trực  tiếp  TM  mắt  trên  dưới  hướng 

dẫn  siêu  âm.  Đây  là  đường  tiếp  cận  trực  tiếp, 

ngắn, thuân lợi khi chọn lọc xoang hang nhưng 

bất  lợi  là  cần  phải  có  chuyên  gia siêu  âm  mạch 

máu  có  kinh  nghiệm  và  hiểu  rõ  đặc  điểm  giải 

phẫu vùng hốc mắt trong đó có TM mắt trên, đặt 

sheath khó khăn mặc dù đã chọc kim vào đúng 

vị trí và tổn thương vùng hốc mắt do phải chọc 

kim nhiều lần.  

Một  đường  tiếp  cận  khác  là  qua  đường  đá 

trên, trong nghiên cứu này chúng tôi có được 1 

trường hợp.Trong trường hợp này đường xoang 

đá dưới chọn lọc thất bại, TM góc nhỏ và ngoằn 

ngoèo,  xoang  đá  trên  thấy  rõ  trên  hình  chụp 

DSA.  Tuy  nhiên  đây  là  vị  trí  khó  chọn  lọc  mặc 

dù thấy rõ đường đi do giải phẫu của xoang đá 

trên  đổ  vào  xoang  ngang  do  đó  khi  đi  ngược 

dòng  từ  xoang  sigma  cùng  bên  cần  phải  uốn 

cong đầu microcatheter và microguidewire để có 

thể móc được vào lỗ đổ của xoang đá trên. Trên 

y văn thế giới cũng thấy tác giả Charbel báo cáo 

Bít  thông  hoàn  toàn  trong  71%các  trường 

hợp. Trong đó thông chỉ 1 bên xoang hang có tỉ 

lệ điều trị hết hoàn toàn cao hơn so với thông 2 

bên. Kết quả này cũng tương tự với Kim D.J với 

tỉ lệ bít thông là 78%. Và thấp hơn so với Cheng 

với tỉ lệ 89%. Những trường hợp thông 2 bên có 

tỉ lệ thành công thấp do nguồn rò nhiều và lưu 

lương cao hơn so với thông 1 bên và có trở ngại 

trong vấn đề tài chính(2,8). 

Nghiên cứu này có tỉ lệtai biến thấp, trong 

trường  hợp  này  là  liệt  vận  nhãn  toàn  bộ  do 

huyết  khối  trong  xoang  hang  nhưng  sau  đó 

hồi  phục  hoàn  toàn  sau  1  tháng.  So  với  các  nghiên cứu khác trong khu vực Châu Á một số  biến chứng do can thiệp qua đường TM là: liệt  thần  kinh  sọ  do  huyết  khối,  do  chèn  ép  bởi  coils  hay  do  tổn  thương  dây  TK  do  microcatheter  và  microguidewire,  thủng  tĩnh  mạch do chọn lọc mù xoang đá dưới hay sung  huyết  tĩnh  mạch  sau  gây  tắc  xoang  hang  do  còn  sót  nguồn  thông  vào  trong  khoang  kín 

Reference  source  not  found.,Error!  Reference 

source not found.,Error! Reference source not 

found.,Error!  Reference  source  not  found.).  Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  chỉ  gặp  một  trường  hợp  liệt  vận  nhãn  nghĩ  do  huyết  khối  chứ  không  gặpnhững  trường  thủng  TM  hay  sung huyết TM. Điều này có thể do các nghiên  cứu trên đã được thực hiện cách nay hàngchục  năm nên dụng cụ phục vụ cho can thiệp Thần  Kinh chưa được tốt như hiện nay. 

KẾT LUẬN 

Thông  động  –  tĩnh  mạch  màng  cứng  vùng  xoang hang là thể bệnh diễn tiến chậm tuy nhiên  cần  điều  trị  trong  những  trường  hợp  có  trào  ngược  TM  nông  hay  sâu  nguy  hiểm.  Những  bệnh nhân có chỉ định điều trị tích cực nên chọn  lựa  phương  pháp  can  thiệp  qua  đường  tĩnh  mạch do khả năng bít thông hoàn toàn cao và tỉ 

lệ tai biến, biến chứng thấp. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Berenstein  A,  Lasjaunias  PL,  Ter  Brugge  K.  (2004)  Dural  arteriovenous  shunts.  In:  Berenstein  A,  Lasjaunias  PL,  Ter 

Brugge  K,  editors.  Surgical  Neuroangiography.  New  York:  Springer; 2004. pp 565–60 

2 Cheng  KM,  Chan  CM,  Cheung  YL.  (2003)  Transvenous  embolisation  of  dural  carotid‐cavernous  fistulas  by  multiple  venous  routes:  a  series  of  27  cases.  Acta  Neurochir  (Wien)  2003;145:17–29 

3 Choi BS, Park JW, Kim JL, Kim SY, Park YS, Kwon HJ. (2011)  Treatment  strategy  based  on  multimodal  management  outcome  of  cavernous  sinus  dural  arteriovenous  fistula. 

Neurointervention.2011;6:6–12. 

4 Chung  SJ,  Kim  JS,  Kim  JC.  (2002)  Intracranial  dural  arteriovenous fistulas: analysis of 60 patients. Cerebrovasc Dis  2002;13:79–88. 

Trang 8

5 Ha  JG,  Hae  Woong  Jeong  HW,  Hyun  Sin  In  HS.  (2011) 

Transvenous  Embolization  of  Cavernous  Sinus  Dural 

Arteriovenous Fistula Using the Direct Superior Ophthalmic 

Vein  Approach:  A  Case  Report.Neurointervention.  2011 

August; 6(2): 100–103.  

6 Halbach  VV,  Higashida  RT,  Hieshima  GB.  (2011) 

Transvenous  embolization  of  dural  distulas  involving  the 

carvenous sinus. AJNR Am J Neuroradiol 10, pp 377‐383. 

7 Istvan Szikora. Dural Arteriovenous Malformations. (2011) In: 

Baert  AL,  Knauth  M,  Sartor  K.  Intracranial  Vascular 

Malformations  and  Aneurysms  From  Diagnostic  Work  –  up 

to Endovascular Therapy. Springer 2 nd  Edition. Pp 121‐161. 

8  Kim  DJ,    Kim  DI,  Suh  SH.(2006)  Results  of  Transvenous 

Embolization  of  Cavernous  Dural  Arteriovenous  Fistula:  A 

Single‐Center  Experience  with  Emphasis  on  Complications 

and Management. AJNR November 2006 27: 2078‐2082 

9 Kim MS, Han DH, Kwon OK. (2002) Clinical characteristics of 

dural arteriovenous fistula. J Clin Neurosci; 9:147–55 

10 Kurata  A,  Suzuki  S,Iwamoto  K.  (2011)  Dural  Arteriovenous 

Fistulas  in  the  Cavernous  Sinus:  Clinical  Research  and 

Treatment. ISRN Neurology Volume 2011, Article ID 453834, 

6 pages. 

11 Lekkhong  E,  Pongpech  S,  Brugge  K.  (2011)  Transvenous 

Embolization  of  Intracranial  Dural  Arteriovenous  Shunts 

through  Occluded  Venous  Segments:  Experience  in  51Patients. AJNR 32 Oct 2011, pp 1738‐1744 

12 Miller  NR,  Monsein  LH,  Debrun  GM.(1995)Treatment  of  carotid‐cavernoussinus  fistulas  using  a  superior  ophthalmic  vein approach. J Neurosurg 1995; 83, pp 838–842. 

13 Mounayer  C,  Piotin  M,  Spelle  L.  (2002)  Superior  Petrosal  Sinus  Catheterization  for  Transvenous  Embolization  of  a  Dural Carotid Cavernous Sinus Fistula. AJNR 23August 2002, 

pp 1153–1155. 

14 Oishi  H,  Arai  H,  Sato  K.(1999)  Complications  associated  with  transvenous  embolisation  of  cavernous  dural  arteriovenous  fistula.  Acta  Neurochir  (Wien)  1999;  141:1265–71 

15 Osborn AG. Vascular Malformations. In: Diagnostic Cerebral  Angiography.  Lippincott  Williams  &  Wilkins  2 nd   Edition.  pp277‐312. 

16 Van Dijk JM, terBrugge KG, Willinsky RA. Clinical course of  cranial dural arteriovenous fistulas with long‐term persistent  cortical venous reflux. Stroke 2002;33:1233–36 

Ngày nhận bài báo:       10/10/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   02/11/2014  Ngày bài báo được đăng:    5/12/2014 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 20:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w