Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm nhận xét một số đặc điểm lâm sàng và hình thái đại thể tuyến ức ở bệnh nhân nhược cơ được phẫu thuật cắt tuyến ức qua đường cổ có nội soi hỗ trợ. Qua đó giúp cho các nhà ngoại khoa có thêm sự lựa chọn khi chỉ định phương pháp phẫu thuật cắt tuyến ức qua đường cổ có sự trợ giúp của video.
Trang 1MỘT SỐ TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG VÀ HÌNH THÁI ĐẠI THỂ
TUYẾN ỨC Ở BỆNH NHÂN NHƯỢC CƠ ĐƯỢC PHẪU THUẬT
CẮT TUYẾN ỨC QUA ĐƯỜNG CỔ CÓ NỘI SOI HỖ TRỢ
Nguyễn Hồng Hiên*; Ngô Văn Hoàng Linh**; Mai Văn Viện***
TÓM TẮT
Mục tiêu: nhận xét một số đặc điểm lâm sàng và hình thái đại thể tuyến ức ở bÖnh nh©n
(BN) nh-îc c¬ (NC) được phẫu thuật cắt tuyến ức qua đường cổ có nội soi hỗ trợ Đối tượng và
phương pháp: 52 BN NC được phẫu thuật cắt bỏ tuyến ức qua đường cổ có nội soi hỗ trợ tại
Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 6 - 2009 đến 9 - 2013 Kết quả:
- Một số đặc điểm lâm sàng:
BN nữ gặp nhiều hơn nam, nữ: 34 BN (65,4%), nam: 18 BN (34,6%), tỷ lệ nữ/nam: 1,89/1
NC nhóm I: 15,4%, trong đó nam 62,5%, chủ yếu NC nhóm IIA: 61,5%, NC nhóm IIB: 23,1%, trong nhóm NC IIA và IIB: nữ chiếm tỷ lệ cao (75,0% và 58,3%) Tuổi mắc bệnh trung bình: 38,3 ± 14,2 (15 - 72 tuổi), độ tuổi từ > 20 - 50 tuổi chiếm tỷ lệ cao (69,2%)
- Hình thái và kích thước tuyến ức:
Tuyến ức có 2 thùy: 50/52 = 96,2%; tuyến ức có 1 thùy: 2/52 = 3,8%; tất cả (100%) tuyến ức đều nằm trước tĩnh mạch vô danh
Chiều dài trung bình (cm): thùy phải: 5,87 ± 1,30, thùy trái: 5,63 ± 1,17
Chiều rộng nhất (cm): thùy phải: 1,21 ± 0,37, thùy trái: 1,21 ± 0,53
Chiều dày nhất (cm): thùy phải: 0,47 ± 0,14, thùy trái: 0,43 ± 0,15
Chiều dài phần tuyến ức nằm ở vùng cổ trong tư thế BN nằm phẫu thuật (cm): thùy phải: 1,92 ± 0,67, thùy trái: 1,76 ± 0,60
- Trọng lượng trung bình tuyến ức (gam): 9,01 ± 2,58, trong đó thùy phải: 4,68 ± 1,21, thùy trái: 4,50 ± 1,46
Kết luận: phẫu thuật cắt tuyến ức qua đường cổ có nội soi hỗ trợ điều trị bệnh NC là một kỹ
thuật đang được ứng dụng đầu tiên ở Việt Nam, phẫu thuật gây tổn thương lồng ngực ở mức
độ tối thiểu, chỉ định cho BN mọi lứa tuổi, có tình trạng NC từ nhóm I - IIB, không phân biệt giới tính Đặc điểm hình thái đại thể của tuyến ức là một tiêu chuẩn giúp cho các nhà ngoại khoa có thêm sự lựa chọn khi chỉ định phương pháp phẫu thuật cắt tuyến ức qua đường cổ có nội soi
hỗ trợ
* Từ khoá: Tuyến ức; Cắt tuyến ức; Cắt tuyến ức qua đường cổ có nội soi hỗ trợ
* Trung tâm Giám định Y khoa Hà Nội
** Bệnh viện Quân y 103
*** Bệnh viện TWQĐ 108
Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Hồng Hiên (nguyenhonghiencdyhd@yahoo.com)
Ngày nhận bài: 29/05/2015; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 09/07/2015
Trang 2Some Clinical Features and General Morphological Characteristics
of the Thymus Gland in Patients with Myasthenia Gravis who Performed Video - assisted Transcervical Thymectomy
Summary
Objective: Comment some clinical features and general morphological characteristics of the thymus gland in patients with myasthenia gravis who performed video - assisted transcervical thymectomy Methods: Study 52 patients with myasthenia gravis who had been performed video
- assisted transcervical thymectomy at 103 Hospital during the period from June, 2009 to September, 2013 Results:
- Some clinical features:
Female: 65.4%, male: 34.6% The proportion of female/male: 1.89/1 Myasthenia gravis I group: 15.4%, mainly IIA group: 61.5%, IIB group: 23.1% Average age of patients: 38.3 ± 14.2 (from 15 to 72 years old), high percentage ages > 20 to 50 years old (69.2%)
- Morphology and thymus size:
The thymus had two lobes: 96.2%; the thymus had one lobes: 3.8%; thymus is located anteriorly to the innominate vein: 100%
The average length (cm): right lobe: 5.87 ± 1.30; left lobe: 5.63 ± 1.17
The widest of thymus lobe (cm): right lobe: 1.21 ± 0.37; left lobe: 1.21 ± 0.53 The thickest of thymus lobe (cm): right lobe: 0.47 ± 0.14; left lobe: 0.43 ± 0.15 Pole on the thymus lobes protruding on the neck (cm): right lobe: 1.92 ± 0.67; left lobe: 1.76 ± 0.60 The average weight of
thymus (g): 9.01 ± 2.58, in which: right lobe: 4.68 ± 1.21; left lobe: 4.50 ± 1.46 Conclusion:
Video - assisted transcervical thymectomy is a new technique applied for the first time in Vietnam, minimum invasion, surgical indications for patients in all ages, condition myasthenia gravis from I group to IIB, all genders, of which general morphological characteristics of the thymus gland is a standard for surgeons more choices as surgical indication video - assisted transcervical thymectomy
* Key words: Thymus; Thymectomy; Video - assisted transcervical thymectomy
ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ những năm đầu thế kỷ 20, nhiều
công trình nghiên cứu trong lĩnh vực y học
về lâm sàng và mô bệnh học có kết luận:
khoảng 70 - 80% BN NC có biến đổi bất
thường tuyến ức (tuyến ức tăng sản hoặc
u tuyến ức) [3, 5, 7] Năm 1939, Alfred
Blalock báo cáo chứng minh vai trò quan
trọng của phẫu thuật cắt bỏ tuyến ức
trong điều trị bệnh NC Từ đó tới nay,
với tiến bộ trong lĩnh vực y học, phẫu
thuật cắt bỏ tuyến ức điều trị bệnh NC
ngày càng được áp dụng rộng rãi và là
phương pháp chủ đạo trong hệ thống điều trị bệnh NC
Đến nay, có rất nhiều đường mổ tiếp cận trung thất để cắt bỏ tuyến ức: đường
mổ qua xương ức, qua đường cổ và phẫu thuật nội soi cắt tuyến ức, mỗi một phương pháp đều có ưu điểm và hạn chế riêng; nhưng dù áp dụng phương pháp nào thì phẫu thuật vẫn phải đảm bảo nguyên tắc cắt bỏ triệt để tuyến ức, u tuyến ức (nếu có) và tổ chức mỡ xung quanh Sau mổ, BN không có biến chứng, nhất là biến chứng suy hô hấp sau mổ Vì thế, phẫu thuật viên cần lựa chọn phương pháp
Trang 3phẫu thuật phù hợp để chỉ định cụ thể đối
với từng BN, trong đó hình thái giải phẫu
của tuyến ức là một trong những yếu tố để
các phẫu thuật viên lựa chọn phương
pháp phẫu thuật Xuất phát từ yêu cầu đó,
nghiên cứu này nhằm đưa ra: Nhận xét
một số đặc điểm lâm sàng và hình thái đại
thể tuyến ức ở BN NC được phẫu thuật cắt
tuyến ức qua đường cổ có nội soi hỗ trợ
Qua đó giúp cho các nhà ngoại khoa có
thêm sự lựa chọn khi chỉ định phương
pháp phẫu thuật cắt tuyến ức qua đường
cổ có sự trợ giúp của video
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
52 BN NC được mổ cắt bỏ tuyến ức
qua đường cổ có nội soi hỗ trợ tại Bệnh
viện Quân y 103 từ tháng 6 - 2009 đến
9 - 2013
2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả có phân tích
Tiến hành đo kích thước, cân nặng và
mô tả đại thể tuyến ức trong quá trình phẫu thuật và sau phẫu thuật ngay tại Phòng mổ, Bệnh viện Quân y 103
- Đo kích thước của tuyến ức (cm) bằng thước vạch tính từ 1/10 cm
- Xác định khối lượng của tuyến ức (gam): cân xác định khối lượng của từng thuỳ tuyến ức và toàn bộ tuyến ức Cân bằng cân tiểu ly điện tử OHAUS - Corporation, CS series: P.O Box 2033 Pine Brook NJ07058 - 2033.USA, độ chính xác 1/10 gam
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1: Phân bố BN theo nhóm tuổi và giới tính
0,012
Nhóm tuổi từ > 20 - 50 chiếm tỷ lệ cao nhất (69,2%), nữ 82,4%, nam mắc 44,5%,
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Bảng 2: Phân bố BN theo giới tính và tuổi trung bình
GIỚI TÍNH SỐ BN TỶ LỆ (%) (Mean ± SD, min - max) TUỔI ĐỜI (năm) p-values
0,4362
Tỷ lệ mắc bệnh ở nữ 65,4%, ở nam 34,6% Tỷ lệ nữ/nam = 1,89 Tuổi mắc bệnh trung bình 38,3 ± 14,2 (năm), trong đó nữ 37,2 ± 12,2 tuổi, nam 40,4 ± 17,7 tuổi
Trang 4Thấp nhất 15 tuổi, cao nhất 72 tuổi Sự khác biệt về tuổi trung bình giữa 2 nhóm nam
và nữ không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
Bảng 3: Tình trạng NC trước mổ và giới tính
GIỚI TÍNH
TÌNH TRẠNG NC TRƯỚC MỔ (theo P.Osserman)
NC nhóm I: 8/52 = 15,4% NC nhóm IIA: 32/52 = 61,5% NC nhóm IIB: 12/52 = 23,1%
NC nhóm I: nam chiếm tỷ lệ cao (62,5%)
NC nhóm IIA và IIB: nữ chiếm tỷ lệ cao (75,0% và 58,3%)
Bảng 4: Tình trạng NC trước mổ và nhóm tuổi
p = 0,014
Có mối liên quan giữa tuổi và tình trạng NC (p < 0,05) NC nhóm I chiếm tỷ lệ cao (37,5%) ở nhóm tuổi ≤ 20 NC nhóm IIA chiếm tỷ lệ cao (75,0%) ở lứa tuổi > 20 - 50
> 50 tuổi gặp nhiều tình trạng NC nhóm IIB (41,7%) hơn so với các nhóm khác
Bảng 5: Một số đặc điểm hình thái tuyến ức xác định trong mổ
Chiều dài trung bình phần tuyến ức nằm ở
vùng cổ trong tư thế BN phẫu thuật (cm)
0,0427
BN trong tư thế nằm phẫu thuật:
- Tất cả tuyến ức đều có cực trên (cả 2 thùy phải và trái) nằm ở vùng cổ
- Chiều dài trung bình phần tuyến ức nằm ở vùng cổ: thùy phải 1,92 ± 0,67 (cm); thùy trái 1,76 ± 0,60 (cm) Cực trên thùy phải nằm nhô cao trên bờ trên xương ức hơn cực trên thùy trái có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Trang 5Tất cả tuyến ức đều nằm trước tĩnh mạch vô danh (100%)
Chủ yếu tuyến ức có 2 thùy (96,2%) Tuyến ức có 1 thùy chiếm 3,8%
Bảng 6: Kích thước và trọng lượng của tuyến ức
(Mean ± SD, min - max) p-values
Trọng lượng của tuyến ức (gam)
0,254
Chiều dài trung bình và chiều dày nhất trung bình của thùy phải tuyến ức lớn hơn thùy trái có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Không có sự khác biệt về kích thước trung bình chiều rộng nhất và trọng lượng của thùy phải và thùy trái tuyến ức (p > 0,05)
BÀN LUẬN
1 Một số đặc điểm lâm sàng
Tuổi BN được phân bố khá rộng: tuổi
thấp nhất 15, cao nhất 72 tuổi, tuổi trung
bình 38,3 ± 14,2, trong đó nam 40,4 ±
17,7; nữ 37,2 ± 12,2 Như vậy, bệnh có
thể gặp ở mọi lứa tuổi, trong đó nhóm
tuổi mắc bệnh chiếm tỷ lệ cao từ > 20 -
50 tuổi (69,2%), lứa tuổi gặp ít nhất ≤ 20
(5/52 BN = 9,6%) Kết quả nghiên cứu về
phân bố tuổi cho thấy: ở lứa tuổi khác
nhau có tần suất mắc bệnh khác nhau
(sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với
p < 0,05), phù hợp với nhiều nghiên cứu
của các tác giả khác: bệnh NC gặp nhiều
ở lứa tuổi từ 20 - 40, ở lứa tuổi > 40,
bệnh gặp ít hơn [3, 5, 7]
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi của BN được phân chia làm 3 nhóm theo đặc điểm thay đổi về yếu tố nội tiết của
cơ thể Nhóm tuổi ≤ 20 tương ứng với thời kỳ thiếu niên và tuổi dậy thì Nhóm
> 20 - 50 tuổi là nhóm tuổi của người trưởng thành, ở nữ đây là độ tuổi sinh đẻ Nhóm tuổi > 50 tương ứng với thời kỳ mãn dục ở nam và thời kỳ mãn kinh ở nữ Nhược cơ là bệnh tự miễn dịch, có liên quan đến yếu tố nội tiết của cơ thể nên ảnh hưởng tới tỷ lệ mắc bệnh ở 2 giới nam và nữ Tỷ lệ mắc bệnh ở 2 giới có sự khác biệt rõ rệt, trong đó nữ mắc bệnh cao hơn nam, do biến đổi về nội tiết tố theo lứa tuổi ở phụ nữ thường rõ nét và phức tạp hơn so với nam giới [3, 5] Trong nghiên cứu, tỷ lệ mắc bệnh của nữ 65,4%, nam 34,6%, tỷ lệ mắc bệnh của
Trang 6nữ/nam = 1,89, tỷ lệ mắc bệnh của nữ
cao hơn nam rõ rệt, trong khi đó tỷ lệ
nữ/nam theo nghiên cứu của Nguyễn
Công Minh (2011) [3] là 1,80; Mai Văn Viện
(2004) [5] 1,77; Shrager JB (2010) [10]
2,25 Kết quả trên cho thấy sự phân bố
giới tính trong nghiên cứu cũng tương tự
như các kết quả nghiên cứu khác
Tỷ lệ mắc bệnh của 2 giới khác nhau ở
các nhóm tuổi (bảng 1), sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê với p < 0,05 Ở nhóm từ
> 20 - 50 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh ở nữ cao
vượt trội hơn nam (82,4% so với 44,5%);
trong khi đó ở nhóm tuổi > 50, tỷ lệ mắc
bệnh ở nam cao hơn 2 lần so với nữ
(33,3% so với 14,7%) Tỷ lệ mắc bệnh
cao ở nữ trong nhóm tuổi > 20 - 50 là do
ảnh hưởng về nội tiết tố của phụ nữ trong
thời kỳ sinh đẻ Kết quả này cũng phù
hợp với nhận xét của nhiều tác giả khác
cho rằng NC là bệnh của nữ trẻ tuổi và
của nam cao tuổi, cụ thể: tỷ lệ mắc bệnh
ở nữ cao hơn nam ở lứa tuổi trước 40,
ở độ tuổi > 50, tỷ lệ mắc bệnh ở nam cao
hơn so với nữ giới [3, 5, 7]
Qua các kết quả trên cho thấy mối liên
quan giữa tuổi và giới tính trong chỉ định
phẫu thuật cắt tuyến ức qua đường cổ có
nội soi hỗ trợ, tương tự như kết quả các
nghiên cứu khác về điều trị ngoại khoa
bệnh NC
Tình trạng NC trước mổ (theo phân loại
của P.Osserman) chiếm tỷ lệ cao nhất
ở nhóm IIA (61,5%), nhóm I chiếm tỷ lệ
thấp nhất (15,4%), nhóm IIB chiếm 23,1%
Tình trạng NC trước mổ có liên quan
với các nhóm tuổi (p < 0,05) (bảng 4)
Nhóm tuổi ≤ 20 mắc bệnh thấp nhất (9,6%),
trong đó mắc bệnh NC nhóm I cao hơn
so với nhóm IIA (37,5% so với 6,2%)
Nhóm tuổi từ > 20 - 50 mắc bệnh cao nhất (69,2%), trong đó NC nhóm IIA chiếm tỷ lệ cao hơn (75,0%) so với nhóm I và IIB
Ở nhóm > 50 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh nhóm IIB cao hơn so với nhóm IIA (41,7% so với 18,8%) Nhận xét này phù hợp với kết quả của một số tác giả [3, 5] Như vậy,
có thể thấy tình trạng NC liên quan khá chặt chẽ với từng nhóm tuổi, với đặc trưng
về sự biến đổi nội tiết tố trong cơ thể, tuổi càng cao có xu hướng mắc bệnh nặng
Tỷ lệ tình trạng NC ở 2 giới có khác nhau (bảng 3): ở NC nhóm I, tỷ lệ mắc
bệnh của nam cao hơn nữ rõ rệt (62,5%
so với 37,5%); nhưng ở nhóm IIA, tỷ lệ mắc bệnh ở nữ cao gấp 3 lần nam (75,0%
so với 25,0%); ở nhóm IIB, tỷ lệ mắc bệnh
ở nữ so với nam gần 1,5 lần (58,3% so với 41,7%) Tổng hợp số liệu thống kê chúng tôi nhận thấy: ở nhóm NC mắt (nhóm I),
tỷ lệ nam mắc bệnh cao hơn nữ, trong khi
đó ở nhóm NC toàn thân (nhóm IIA và IIB)
tỷ lệ mắc bệnh ở nam lại thấp hơn nữ rõ rệt (13/44 = 29,6% so với 31/44 = 70,4%);
kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với kết quả của một số tác giả: tình trạng NC trên lâm sàng có liên quan đến giới tính,
tỷ lệ nữ giới mắc bệnh NC nặng cao hơn nam giới [3, 5, 7]
2 Một số đặc điểm hình thái đại thể, trọng lượng tuyến ức xác định trong và sau mổ
vùng cổ trong tư thế BN nằm phẫu thuật:
Tư thế BN trong phẫu thuật được chúng tôi và nhiều tác giả [2, 10] áp dụng là: BN nằm ngửa, hai tay để dọc theo thân mình Đầu để sát đầu bàn mổ, đệm
Trang 7vùng chẩm bằng gối vòng Đệm gối vùng
lưng và vùng liên bả vai để cổ ưỡn tối đa
Đây là tư thế tạo thuận lợi cho cuộc mổ,
vùng cổ được bộc lộ rõ để có thể thực
hiện các thao tác phẫu thuật dễ dàng,
tuyến ức được kéo lên cao phần cổ, bộc
lộ tối đa được trung thất trước, tạo điều
kiện thuận lợi cho việc kiểm soát trung
thất, cắt bỏ tuyến ức và tổ chức mỡ xung
quanh dưới sự hỗ trợ của camera nội soi
Với tư thế này, sau khi bộc lộ trung thất
thấy toàn bộ cực trên của thùy tuyến ức
nhô cao trên hõm ức với khoảng cách
trung bình (cm): thùy phải: 1,92 ± 0,67
(1,0 - 4,0 cm); thùy trái: 1,76 ± 0,60 (1,0 -
3,5 cm), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
với p < 0,05 Khoảng cách cực trên các
thùy tuyến ức nhô cao lên trên bờ trên
xương ức là một đặc điểm rất quan trọng
đối với kỹ thuật mổ cắt tuyến ức qua
đường cổ, vì đây chính là một phần của
tuyến ức (tuyến ức phần cổ) và là mốc
đầu tiên cần xác định để có thể bắt đầu
phẫu tích bóc tách cắt bỏ toàn bộ tuyến
ức Số liệu này của chúng tôi cũng phù
hợp với một số nghiên cứu của các tác
giả trên thế giới thống nhất tuyến ức là
một tuyến nằm ở cả cổ và trung thất [1, 2,
4, 8, 10] Như vậy, trong nhóm BN nghiên
cứu có thể thấy toàn bộ thùy tuyến ức
đều có cực trên nhô lên quá trên bờ trên
xương ức từ 1,0 - 4,0 cm, qua số liệu này
cho thấy cực trên các thùy tuyến ức đều
nằm vượt lên quá bờ trên xương ức,
nghĩa là nằm hoàn toàn ở vùng cổ Vì vậy,
muốn cắt triệt để được tuyến ức, việc
phẫu tích phải thực hiện cả ở vùng cổ
dưới và đây chính là ưu điểm lớn của kỹ
thuật cắt tuyến ức qua đường cổ có nội
soi hỗ trợ
tuyến ức vùng cổ
tách tuyến ức nằm sâu trong trung thất trước
ức so với tĩnh mạch vô danh:
Hầu hết tuyến ức có 2 thùy (50/52 = 96,2%) (bảng 5) 2 BN tuyến ức có 1 thùy
(3,8%): 1 BN tuyến ức có thùy phải và
1 BN tuyến ức có thùy trái, không có
tuyến ức 3 thuỳ (bảng 5) Tất cả cực trên
các thùy tuyến ức đều nằm nhô cao vượt quá bờ trên xương ức Các thuỳ của tuyến ức đều nằm trước tĩnh mạch vô danh (100%) Kết quả này của phù hợp với nghiên cứu của một số tác giả trong nước và nước ngoài [1, 4, 8]
Trang 8* Kích thước tuyến ức:
Chiều dài trung bình của 2 thùy tuyến
ức: thùy phải 5,87 ± 1,30 cm (4,2 - 11,0
cm), thùy trái 5,63 ± 1,17 cm (4,0 - 10,0
cm), thùy phải tuyến ức dài hơn so với
thùy trái, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p < 0,05), nhận xét này của chúng tôi
phù hợp với kết quả Phạm Gia Văn
(1982) [4] Độ dài của thùy tuyến ức là
một trong các chỉ số giúp xác định việc
bóc tách cắt bỏ tuyến ức qua đường cổ
có dễ dàng, thuận lợi hay không Nếu
thùy tuyến ức dài, nhưng phần nằm ở
vùng cổ ngắn thì phần tuyến ức nằm
trong trung thất sẽ dài và xuống sâu phía
dưới trung thất trước tim, việc bóc tách
cắt bỏ toàn bộ tuyến ức sẽ khó khăn hơn
Chiều rộng nhất của thùy phải tuyến ức
trung bình 1,21 ± 0,37 cm (0,5 - 3,0 cm),
thùy trái tuyến ức rộng nhất trung bình
1,21 ± 0,53 cm (0,6 - 4,0 cm), sự khác biệt
không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Chiều dày nhất của thùy phải tuyến ức
trung bình 0,47 ± 0,14 cm (0,3 - 1,0 cm),
của thùy trái: 0,43 ± 0,15 cm (0,2 - 1,0 cm),
thuỳ phải dày hơn thuỳ trái, sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Số liệu trên cho thấy BN NC trong
nhóm nghiên cứu có thùy phải tuyến ức
to hơn thùy trái, do đó việc phẫu tích, bóc
tách các thùy của tuyến ức cũng như khi
kiểm tra trung thất để lấy bỏ hoặc đốt hủy
các tổ chức mỡ trong trung thất phải
được thực hiện thật kỹ, đảm bảo cắt bỏ
triệt để tuyến ức Kích thước tuyến ức
trong nghiên cứu này tương tự với kích
thước tuyến ức của Phạm Gia Văn (1982)
[4], nhưng nhỏ hơn so với kích thước của tuyến ức trong nghiên cứu của Mai Văn Viện (2004) [5]
Trong số 52 BN nghiên cứu, trọng lượng trung bình toàn bộ tuyến ức là 9,01
± 2,58 gam (nhẹ nhất 3,2 gam, nặng nhất 16,8 gam), trong đó thùy phải nặng 4,68 ± 1,21 gam (1,4 - 7,0 gam), thùy trái là 4,50
± 1,46 gam (1,7- 9,9 gam), sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Tuy nhiên, trọng lượng tuyến ức ở nghiên cứu này nhẹ hơn trọng lượng tuyến ức của các tác giả khác [4, 5, 6] Tuy không chia trọng lượng tuyến ức theo từng lứa tuổi, nhưng kết quả thống kê trọng lượng tuyến
ức dao động 3,2 - 16,8 gam ở BN có độ tuổi từ 15 - 72, nếu so sánh chung thì trọng lượng tuyến ức trong nghiên cứu này cũng tương tự với trọng lượng tuyến
ức theo “Hằng số sinh học người Việt Nam”
(1975) [4]
Kích thước và trọng lượng của tuyến
ức trong nghiên cứu không phải là số liệu
về kích thước và trọng lượng của tuyến
ức ở người bình thường hoặc ở BN NC nói chung, mà ở BN NC trong nhóm đã được phẫu thuật cắt tuyến ức qua đường
cổ có nội soi hỗ trợ (BN được lựa chọn
qua chỉ định mổ với quy trình kỹ thuật
hình thái giải phẫu đại thể của tuyến ức ở
BN trong nhóm phẫu thuật có ý nghĩa rất quan trọng trong chỉ định và lựa chọn phương pháp phẫu thuật
Trang 9KẾT LUẬN
Nghiên cứu 52 BN NC được phẫu
thuật cắt bỏ tuyến ức qua đường cổ dưới
hỗ trợ của nội soi, chúng tôi rút ra một số
kết luận:
- BN nữ gặp nhiều hơn nam, nam
34,6%, nữ 65,4%, tỷ lệ nữ/nam 1,89/1,
NC nhóm IIA chiếm tỷ lệ cao nhất (61,5%),
NC nhóm I chiếm tỷ lệ thấp nhất (15,4%)
Nhóm tuổi mắc bệnh cao từ > 20 - 50 tuổi
(69,2%) Tuổi mắc bệnh trung bình 38,3 ±
14,2 (15 - 72 tuổi)
- Tuyến ức chủ yếu có 2 thuỳ (50/52
BN = 96,2%), 2 BN (3,8%) tuyến ức có
1 thùy, tất cả tuyến ức đều nằm trước
tĩnh mạch vô danh (100%)
- Kích thước trung bình thuỳ phải tuyến
ức lớn hơn thuỳ trái: chiều dài trung bình
(cm): thùy phải: 5,87 ± 1,30, thùy trái:
5,63 ± 1,17 Chiều rộng nhất (cm): thùy
phải: 1,21 ± 0,37, thùy trái: 1,21 ± 0,53
- Độ dày nhất (cm): thùy phải: 0,47 ± 0,14,
thùy trái: 0,43 ± 0,16
- Tất cả BN (100%) đều có cực trên
của thùy tuyến ức nhô cao trên hõm ức
từ 1,0 - 4,0 cm Khoảng cách trung bình
cực trên các thùy tuyến ức nhô cao trên hõm ức (cm): thùy phải: 1,92 ± 0,67, thùy trái: 1,76 ± 0,60
- Trọng lượng trung bình tuyến ức (gam): 9,01 ± 2,58 (3,2 - 16,8 gam), trong
đó trọng lượng của thùy phải: 4,68 ± 1,21,
thùy trái: 4,50 ± 1,46
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đỗ Xuân Hợp Tuyến ức, Giải phẫu
ngực Đại học Y Hà Nội 1978, tr.150-151
2 Ngô Văn Hoàng Linh và CS Nghiên cứu
ứng dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ cắt tuyến
ức qua đường cổ điều trị bệnh NC Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở nghiệm thu tháng 10 năm 2012, Học viện Quân Y 2012
3 Nguyễn Công Minh Những tiến bộ mới
trong điều trị bệnh NC Nhà xuất bản Y học -
Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh 2011
4 Phạm Gia Văn Một số vấn đề giải phẫu
tuyến ức Tuyến ức và bệnh NC Đại học Y
Hà Nội 1982, tr.5-17
5 Mai Văn Viện Nghiên cứu một số đặc
điểm lâm sàng, X quang và mô bệnh học tuyến
ức liên quan đến kết quả điều trị ngoại khoa bệnh NC Luận án Tiến sỹ Y học Học viện Quân y 2004
6 Mai Văn Viện Những biến đổi về giải
phẫu học tuyến ức ở BN NC Tạp chí Y học
Quân sự Cục Quân y 2004, 7, tr.105-109
7 Camilla Buckley Myasthenia Gravis
The thymus gland - diagnosis and surgical management 2007, 5, pp.25-31
8 Kyriakos Anastasiadis and Chandi Ratnatunga Anatomy, the thymus gland -
diagnosis and surgical management 2007, 1, pp.5-8
9 Jaretzki Alfred III Thymectomy, current
clinical neurology: Myasthenia Gravis and
related disorders 2003, pp.235-267
10 Shrager Joseph B Extended transcervical
thymectomy: The ultimate minimally invasive
approach Ann Thorac Surg 2010, 89,
pp 2128-2134
lồng ngực