1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát bệnh thalassemia nhập cấp cứu nhi Bệnh viện tỉnh Đak Lak năm 2009

6 93 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 196,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm khảo sát bệnh thalassemia nhập cấp cứu nhi Bệnh viện tỉnh Đak Lak năm 2009. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

KHẢO SÁT BỆNH THALASSEMIA NHẬP CẤP CỨU NHI

BỆNH VIỆN TỈNH ĐAK LAK NĂM 2009

Trần Thị Thúy Minh∗∗∗∗, Nguyễn Thị Tiến∗∗∗∗

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát đặc điểm bệnh thalassemia nhập viện trong tình trạng cấp cứu

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả loạt ca

Kết quả: Nghiên cứu nghiên cứu lâm sàng và cận lâm sàng 47 trường hợp bệnh hemoglobin nhập viện

trong tình trạng nặng bằng một nghiên cứu mô tả loạt ca chúng tôi thấy rằng 97,8% là β thalassemia Dân tộc Ê

đê chiếm tỷ lệ cao 27,7 % Đa số là thể nặng β Thalassemia Lách to 91,5%, thiếu máu nặng chiếm 80,9 % lý do nhập viện cấp cứu, 60% có gan to Có 4 trường hợp có chỉ định thải sắt và số lượng máu cần truyền trung bình cho mỗi bệnh nhân này là 3,6 ± 7,6 đơn vị máu/năm (250 ml/đơn vị)

Kết luận: Đa số bệnh nhân thalassemia nhập viện trong tình trạng thiếu máu nặng, một phần tư đến từ

vùng độc đông bắc tỉnh, tỷ lệ bệnh cao ở dân tộc Ê đê Cần phải có một chiến lược quản lý bệnh, tái khám định kỳ,

áp dụng thải sắt tại bệnh viện tỉnh để nâng cao chất lượng cuộc sống cho các bệnh nhân này

Từ khóa: Thalassemia, Daklak

ABSTRACT

CHARACTERISTICS OF THALASSEMIA PATIENTS HOSPITALIZED IN A STATE OF EMERGENCY

IN DAK LAK HOSPITAL 2009

Tran Thi Thuy Minh, Nguyen Thi Tien

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 14 - Supplement of No 4 - 2010: 179 - 182

Objective: To determine the clinical characteristic and blood examination of children with

hemoglobinopathy who were hospitalized Dak Lak hospital in state of emergency

Study design: Descriptive study in a great number of cases

Result: Studied 47 patients with hemoglobinopathy by using descriptive study in a great number of cases

The results showed 97.8% of the patients were β- Thalassemia Male: 63.8%, minority people (Ê đê) were 27.7% 91.5 percents of the patients had splenomegaly, 80.9% severe anaemia 60.2% of the patients had hepatomegaly Average amount of transfuse blood was 3.6 ± 7.6 unit /patient/year 70.2% is homozygous

Conclusion: Most hospitalized patients with thalassemia anemia in severe, a quarter comes from the

northeast provinces, high rate of disease in Ede There must be a disease management strategy, re-examined periodically, application of iron at the provincial hospital discharge to improve the quality of life for these patients

Key words: Thalassemia, Daklak

MỞ ĐẦU

Thalassemia là bệnh huyết tán di truyền có

còn gọi là thiếu máu vùng biển(2,5) Mỗi năm,

trên thế giới có khoảng 100.000 em bé sinh ra

mắc phải loại bệnh trầm trọng này Alpha

-Thalassemia tập trung cao nhất ở Đông Nam

Á và dân cư có nguồn gốc từ biển đông Phi châu Beta- Thalassemia thường gặp ở Ý, Hy Lạp và Tây Phi, Đông Nam Á và Nam Trung Quốc HbS hay gặp ở Phi Châu, phía Đông và vùng xích đạo; HbC hay gặp ở Tây Phi; HbE

* Bệnh viện Đa khoa tỉnh Dak Lak

Tác giả liên lạc: BS Trần Thị Thúy Minh, ĐT: 0983399755, Email: tranthuyminhvn@yahoo.com

Trang 2

hay gặp ở Đông Nam Á(8) Ở Việt Nam, tại Đăk

Lăk theo nghiên cứu của Lâm Thị Minh Lệ

năm 2006, bệnh Thalassemia chiếm tỉ lệ 26,6%

trong các nguyên nhân gây thiếu máu ở trẻ em

và dân tộc Êđê mắc bệnh Thalassemia cao

26,6% so với các dân tộc khác(4) Tại khoa Nhi

bệnh viện đa khoa tỉnh ĐăkLăk hằng năm có

từ 150-180 lượt bệnh nhân Thalassemia nhập

viện Đa số bệnh nhân đều nhập viện trong

tình trạng nặng: thiếu máu nặng, suy tim, gan

lách to việc điều trị gặp rất nhiều khó

khăn…Vì vậy chúng tôi làm nghiên cứu này

nhằm xác địch đặc điểm bệnh Thalassemia

nhập bệnh viện tỉnh Đăk Lăk nhằm có kế

hoạch về để điều trị bệnh máu di truyền này

Mục tiêu cụ thể

Xác định tỷ lệ bệnh nhân Thalassemia nhập

viện cấp cứu

Xác định đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận

lâm sàng bệnh nhân Thalassemia nhập viện

cấp cứu

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

47 bệnh nhân Thalasemia nhập phòng cấp

cứu nhi- khoa Nhi bệnh viện tỉnh Đăk Lăk từ

tháng 1 đến tháng 10 năm 2009 (được xác định

bằng điện di Hb)

Phương pháp nghiên cứu

Mô tả loạt ca

KẾT QUẢ

Đặc điểm dịch tễ học

Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 1 đến

tháng 6 năm 2009 có 47 bệnh nhân

Thalassemia vào phòng cấp cứu khoa Nhi có

đặc điểm như sau:

Bệnh Thalassemia theo tuổi, giới

Tu ổ i T ng Nam N ữ

Tu ổ i T ng Nam N

Nhận xét: tỷ lệ nam là 63,8% Lứa tuổi 10-15

có tỷ lệ nhập viện cao nhất

Bệnh Thalassemia theo địa phương

Nhận xét: 55,3% bệnh nhân thalassemia đến

từ vùng đông bắc tỉnh

Bệnh Thalassemia theo Dân tộc

Nhận xét: dân tộc kinh chiếm 34%, dân tộc Ê

đê 27,7%

Đặc điểm lâm sàng

Tri ệ u ch ứ ng lâm sàng n %

Nhận xét: 100% bệnh nhân vào cấp cứu có dấu hiệu sạm da, 68% có gan to, suy tim chiếm

tỷ lệ cao 51,1%

Lý do vào cấp cứu

Lý do vào câp c ứ u n %

Nhận xét: có đến 80,9% bệnh nhân vào viện

vì thiếu máu nặng, 34% vào viện vì suy hô hấp, chỉ 1 trương hợp vào viện vì một bệnh lý khác là tiêu chảy

Trang 3

Đặc điểm cận lâm sàng

Đặ c ñ i ể m c ậ n lâm sàng n %

Nhận xét: đa số bệnh nhân thalassemia vào

cấp cứu là thể đồng hợp tử 70,2%

Nồng độ sắt huyết thanh máu trung bình:

446,45 ± 341,63 ng%

Có 4 trường hợp có ferritin huyết thanh trên

1000ng/ dl

Số lượng máu truyền trung bình trong 1

năm: 3,6 ± 7,6 đơn vị máu/năm (250 ml/đơn vị)

BÀN LUẬN

Đặc điểm dịch tễ học: Có 47 bệnh nhân nhập

viện có bệnh thallassemia trong tình trạng cấp

cứu Trong đó thiếu máu nặng có 38 trường hợp

các trường hợp còn lại vào cấp cứu do suy hô

hấp, suy tim và các bệnh lý khác Chúng ta thấy

rằng đa số bệnh nhân vào viện trong tình trạng

thiếu máu rất nặng vào viện phải truyền máu

cấp cứu Điều này phản ánh một thực tế là các

bệnh nhân này không được truyền máu định kỳ,

không được khám định kỳ Khi thiếu máu quá

nhiều mới vào viện Trên thực tế tại địa phương

chúng tôi Truyền máu cấp cứu chúng tôi chỉ

truyền máu toàn phần, không truyền hồng cầu

lắng vì không kịp thời gian để tách Trong khi

chỉ định của những bệnh nhân này là truyền

hồng cầu lắng Điều này càng làm các biến

chứng như suy tim… ở các bệnh nhân này tiến

triển một cách nhanh hơn

Phần lớn bệnh nhân gần 50% đến từ vùng

đông bắc của tỉnh, có thể do dịch tễ vùng này

bệnh Thalassemia nhiều cũng có thể do các bệnh

viện huyện của các khu vực này chưa tryền máu

được nên phải chuyển bệnh nhân lên tuyến tỉnh

Điều này cần có một nghiên cứu quy mô hơn

nghiên cứu thêm

Dân tộc kinh và Ê đê trong nghiên cứu của

chúng tôi chiếm tỷ lệ khá cao Có thể do cộng

đồng người kinh và Ê đê ở tỉnh Đak Lak chiếm

đa số cũng có thể do tỷ lệ bệnh Thalassemia ở hai cộng đồng này chiếm tỷ lệ cao Để có kết luận về điều này cần có một nghiên cứu lớn để xác định tỷ lệ bệnh này ở đồng bào Ê đê

Vì mẫu nghiên cứu của chúng tôi là trên những bệnh nhân nặng nên tỷ lệ các triệu chứng lâm sàng nặng cao Gan, lách to, tỷ lệ suy tim nhiều

Đa số bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi là thể nặng β Thalassemia Đáng tiếc

có 15 trường hợp thể trung bình nhưng không được theo dõi và truyền máu kịp thời phải vào viện trong tình trạng thiếu máu nặng Càng làm tăng khả năng diễn tiến nặng của bệnh

Có 4 bệnh nhân có chỉ định thải sắt Tuy tỷ lệ này không cao nhưng việc chưa triển khai thải sắt tại tuyến tỉnh đã làm việc điều trị bệnh nhân Thalassemia nặng rất khó khăn Cần triển khai thải sắt tại tuyến tỉnh để hạn chế các biến chứng Nâng cao chất lượng cuộc sống của các bệnh nhân này

KẾT LUẬN

Nghiên cứu từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2009

có 47 bệnh nhân Thalassemia vào phòng cấp cứu khoa Nhi trong đó nam: 63,8% lứa tuổi cao nhất 10-15 tuổi: 34% Tập trung nhiều vào khu vực đông bắc tỉnh: 55,3%

80,9 % vào viện trong tình trạng thiếu máu nặng Thể đồng hợp tử chiếm 70,2%

Nồng độ sắt huyết thanh máu trung bình: 446,45 ± 341,63 ng%

Có 4 trường hợp có ferritin huyết thanh trên 1000ng/ dl

Số lượng máu truyền trung bình trong 1 năm: 3,6 ± 7,6 đơn vị máu/năm (250ml/đơn vị)

KIẾN NGHỊ

Cần có một nghiên cứu để xác định bệnh Thalassemia trong cộng đồng Phát hiện và quản

lý bệnh Thalassemia để điều trị kịp thời Tránh biến chứng nâng cao chất lượng cuộc sống Triển khai thải sắt tại bệnh viện tỉnh

Trang 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO

clinical hematology, pp 1035-1055

3 Hershko C (2005) Treating iron overload: The state of the art,

Supplement to seminars in hematology, vol 42, No 2, suppl 1,

p 2-4

bệnh viện thuộc Tỉnh ĐăkLăk

trình đại học tập II, Nhà xuất bản Y học chi nhánh Thành phố

Hồ Chí Minh, tr 184-188

y học chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, tr 517-519

Blood,18 th edition,, Part xx, pp 462.9

Nhà xuất bản y học Hà Nội, tr 132-146

9 Porter J.B (2005) Monitoring and Treatment of iron overload:

state of the art and new approaches, Supplement to seminars

in hematology, vol 42, No 2, suppl 1, p 14-18

10 Taher A (2005) Iron overload in Thalasemie and Sickle cell

disease, Supplement to seminars in hematology, vol 42, No 2,

suppl 1, pp 5-9

Ngày đăng: 21/01/2020, 20:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w