1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kết quả vi phẫu thuật lấy nhân đệm kèm hàn xương lối trước trong điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống cổ

5 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 278,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả điều trị vi phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống cổ kèm hàn xương lối trước. Nghiên cứu tiến hành trên 50 bệnh nhân được chẩn đoán thoát vị đĩa đệm cột sống cổ có chỉ định phẫu thuật (lâm sàng, cận lâm sàng: điện cơ, cộng hưởng từ) từ tháng 10/2008 đến tháng 12/2011 tại khoa ngoại thần kinh, bệnh viện Nguyễn Tri Phương.

Trang 1

KẾT QUẢ VI PHẪU THUẬT LẤY NHÂN ĐỆM KÈM HÀN XƯƠNG LỐI TRƯỚC TRONG ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG CỔ

Phạm Anh Tuấn * , Lê Thể Đăng ** , Lê Thái Bình Khang ** , Nguyễn Hiền Nhân**, , Lê Đức Định Miên **

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả điều trị vi phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống cổ kèm hàn xương

lối trước

Phương pháp: Mô tả hàng loạt ca 50 bệnh nhân được chẩn đoán thoát vị đĩa đệm cột sống cổ có chỉ định

phẫu thuật (lâm sàng, cận lâm sàng: điện cơ, cộng hưởng từ) từ tháng 10/2008 đến tháng 12/2011 tại khoa Ngoại Thần kinh, Bv Nguyễn Tri Phương

Kết quả: Đánh giá kết quả sau mổ theo Roosen&Grote: Độ 1 (rất tốt): hết hoàn toàn triệu chứng 22,6%; Độ

2 (tốt): triệu chứng cải thiện đáng kể, đáp ứng tốt với các than phiền, trở về cuộc sống lao động và sinh hoạt hằng ngày 71%; Độ 3 (khá): vẫn còn than phiền nhưng tình trạng khá hơn trước mổ 6,4%; Không ghi nhận Độ 4 (trung bình): triệu chứng cải thiện không đáng kể và Độ 5 (xấu): tình trạng nặng hơn

Kết luận: Kết quả sớm sau mổ thoát vị đĩa đệm cột sống cổ lối trước có hàn xương bằng mảnh ghép nhân

tạo là khả quan Việc hàn xương bằng mảnh ghép nhân tạo tránh lấy xương ghép tự thân từ mào chậu giúp đảm bảo độ ưỡn cột sống, giữ được chiều cao lỗ ghép, tránh biến chứng gù do mổ lối sau hoặc chỉ lấy nhân đệm đơn thuần

Từ khóa: thoát vị đĩa đệm cổ, lấy nhân đệm vi phẫu, lấy nhân đệm cổ lối trước, lấy nhân đệm cổ lối trước có

hàn xương

ABSTRACT

RESULTS OF THE ANTERIOR MICRODISCECTOMY WITH FUSION FOR TREATMENT OF THE

CERVICAL DISC HERNIATION

Pham Anh Tuan, Le The Dang, Le Thai Binh Khang, Nguyen Hien Nhan, Le Duc Dinh Mien

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 4 - 2012: 360 - 364

Objective: To evaluate the effectiveness of the anterior micro discectomy with bone welding for cervical disc

herniation

Methods: Case-series study 50 patients with cervical disc herniation were operated from 10/2008 to

11/2011 at the Department of Neurosurgery, Nguyen Tri Phuong hospital

Results: According to Roosen&Grote, the results are: Grade 1 (very good) 22.6%; Grade 2 (Good) 71%;

Grade 3 (quite well) 6.4%; Grade 4 (Moderate) & 5 (Bad) no recording

Conclusion: Anterior discectomy with bone welding is better for the cervical disc herniation Bone welding

in front entrance with artificial graft maintains the flexible spine and prevents from kyphosis

Key word: cervical disc herniation, micro-discectomy, anterior cervical discectomy (ACD), anterior cervical

discectomy with fusion (ACDF)

*Bộ môn Ngoại Thần kinh-ĐHYD TPHCM

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ là bệnh lý

khá phổ biến, đặc biệt ở những người trên 50

tuổi, tần suất hàng năm 83/100.000 tại Bắc Mỹ

Thoát vị đĩa đệm cổ có thể gây chèn ép tủy,

và/hoặc rễ thần kinh và để lại di chứng nặng

nề nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp

thời Hiện nay, nhờ áp dụng trang thiết bị

hiện đại trong chẩn đoán (MRI, MS-CTscan )

và trong phẫu thuật (C-arm, kính hiển vi phẫu

thuật), kết quả của việc điều trị phẫu thuật

bệnh lý này ngày càng cao

Vi phẫu thuật lấy nhân thoát vị đĩa đệm cổ

có hàn xương lối trước ngày càng được áp

dụng rộng rãi Hàn xương giúp cột sống cổ giữ

được độ ưỡn sinh lý, đảm bảo chiều cao lỗ ghép

Những thập niên trước đây, chất liệu hàn xương

lấy từ xương mào chậu Ngày nay, có nhiều chất

liệu nhân tạo để thay thế: titanium, sợi carbon,

PEEK…Tại khoa Ngoại Thần kinh Bệnh viện

Nguyễn Tri Phương, từ tháng 10/2008 chúng tôi

đã triển khai kỹ thuật này Do vậy, mục tiêu

nghiên cứu của đề tài này nhằm “ Đánh giá hiệu

quả điều trị vi phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột

sống cổ kèm hàn xương lối trước”

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

50 bệnh nhân được chẩn đoán thoát vị đĩa

đệm cột sống cổ có chỉ định phẫu thuật (lâm

sàng, cận lâm sàng: điện cơ, cộng hưởng từ)…

từ tháng 10/2008, đến tháng 12/2011 tại khoa

Ngoại Thần Kinh Nguyễn Tri Phương Chúng

tôi loại trừ tất cả các trượng hợp có chèn ép rễ,

tủy sống cổ do các nguyên nhân khác: vôi hóa

dây chằng dọc sau, hẹp ống sống cổ, thoát vị đĩa

đệm do nguyên nhân chấn thương…

Phương pháp nghiên cứu

Mô tả cắt ngang hàng loạt ca

Chỉ định phẫu thuật

Các bệnh nhân có thoát vị đĩa đệm cột sống

cổ được chẩn đoán dựa vào lâm sàng, kết hợp

cận lâm sàng MRI, EMG…điều trị bảo tồn thất

bại (thuốc kháng viêm, giảm đau, dãn cơ, kết hợp vật lý trị liệu từ 4-8 tuần)

Tất cả các trường hợp thoát vị đĩa đệm cột sống cổ có chèn ép tủy và tổn thương tủy mạn

Phương pháp phẫu thuật

Bệnh nhân mê nội khí quản, nằm ngữa, rạch

da theo nếp lằn ngang cổ tương ứng với tầng thoát vị Qua cơ bám da cổ mạc cổ nông, sâu, tiếp tục phẫu tích đi vào mặt phẳng giữa bó mạch cảnh trong và khí-thực quản, vào mặt trước thân đốt sống Dùng kim định vị kết hơp C-arm xác định tầng thoát vị Đặt hệ thống banh Scaspar bọc lộ phẫu trường, dưới kính hiển vi phẫu thuật lấy toàn bộ nhân thoát vị, dùng khoan mài siêu tốc lấy bỏ các chồi xương, cắt toàn bộ dây chằng dọc sau, giải phóng tủy và rễ thần kinh, đặt mảnh ghép nhân tạo (có ghép xương), đóng vết mổ

Đánh giá kết quả phẫu thuật

Trong thời gian nằm viện

Thời gian 1 tháng, 3 tháng sau mổ: khám kiểm tra bệnh nhân tại phòng khám, liên lạc qua điện thoại

Đánh giá kết quả sau mổ theo Roosen & Grote:

- Độ 1 (rất tốt): hết hoàn toàn triệu chứng cũ

- Độ 2 (tốt): triệu chứng được cải thiện đáng

kể, đáp ứng tốt với các than phiền, trở về cuộc sống lao động và sinh hoạt hàng ngày

- Độ 3 (khá): vẫn còn than phiền nhưng tình trạng tốt hơn trước mổ

- Độ 4 (trung bình): triệu chứng cải thiện không đáng kể

- Độ 5 (xấu): tình trạng nặng hơn

Xử lý số liệu

Theo phần mềm SPSS 15.0

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Phân tích 50 trường hợp từ tháng 10/2008 - 12/2012 chúng tôi có kết quả sau:

Trang 3

- Tuổi mắc bệnh: tuổi thấp nhất 33 tuổi, cao

nhất 72 tuổi, tuổi trung bình 47,13 ±8,67

- Giới nam 22/50 trường hợp chiếm 44%; giới

nữ 28/50 trường hợp chiếm 56%

- Thời gian từ lúc mắc bệnh cho tới lúc phẫu

thuật 3,3 tháng

- Triệu chứng lâm sàng

Bảng 1: Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng lâm sàng Tần số N=50 Tỷ lệ %

Nhận xét: Triệu chứng đau cổ thường gặp

nhất chiếm 42/50 trường hợp (84%); bệnh lý rễ

chiếm 36/50 trường hợp (72%); đặc biệt có 02

trường hợp có hội chứng Brown sequard, đã hồi

phục hoàn toàn sau mổ

Tầng thoát vị

Bảng 2: tầng thoát vị

Tầng thoát vị Tần số Tỷ lệ %

Nhận xét: thoát vị tầng C5-6 chiếm tỷ lệ cao

nhất 47,5%

Số tầng phẫu thuật

Bảng 3: số tầng phẫu thuật và đặt mảnh ghép hàn

xương

Số tầng phẫu thuật Tần số Tỷ lệ %

Kết quả sau mổ

Bảng 4: kết quả sau mổ đánh giá theo Roosen &

Grote

Kết quả Tần số Tỷ lệ %

Kết quả Tần số Tỷ lệ %

Nhận xét: Tỷ lệ tốt và rất tốt chiếm 46/50 trường hợp (92%)

Biến chứng phẫu thuật

Bảng 5: biến chứng phẫu thuật

Biến chứng Tần số Tỷ lệ %

Nhận xét: có 04 trường hợp tổn thương dây thần kinh quặt ngược thanh quản thoáng qua, tuy nhiên, đã hồi phục sau 3 tháng phẫu thuật Đặc biệt không có trường hợp nào có biến chứng nhiễm trùng

BÀN LUẬN Các yếu tố dịch tễ học

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi bao gồm:

22 nam và 28 nữ, có sự khác biệt so với các nghiên cứu khác: Grosoli et al là 92 nam, 28 nữ Một nghiên cứu của Lunford et al cho thấy tỷ lệ mắc bệnh của nam gấp hai lần so với nữ Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không

có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ Tuổi mắc bệnh bình quân trong nghiên cứu của chúng tôi 47,13 ± 8,67 tuổi, thấp nhất 33 tuổi, cao nhất 72 tuổi Không có sự khác biệt so với nghiên cứu của Grisoli (hơn 75% bệnh nhân dưới 50 tuổi); tương tự nghiên cứu của jing-cheng xie là 42,76 ± 7,57.(10,11)

Triệu chứng lâm sàng

Ở bảng 1, phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi có triệu chứng đau cổ (84%), bệnh lý rễ (72%), đặc biệt có 02 trường hợp có hội chứng Brown sequard tương đối hiếm gặp trong bệnh cảnh thoát vị đĩa đệm do thoái hóa Tất cả các trường hợp chúng tôi đều chụp MRI, ngoại trừ một số ít trường hợp cần chụp MS-CTscan để xác định các chồi xương và chúng tôi cho rằng, MRI vẫn là phương tiện chẩn đoán tốt nhất bệnh lý thoát vị đĩa đệm Từ bảng 2 cho

Trang 4

thấy tầng thoát vị thường gặp nhất là C5-6

chiếm 47,5%, kết quả này cũng tương tự so với

nghiên cứu của Aronson et al, Bertalanffy et al,

có lẽ đây là vùng bản lề, nơi vận động nhiều

nhất của cột sống cổ(4,10)

Kết quả phẫu thuật

Phẫu thuật điều trị bệnh lý cột sống cổ đã

có từ đầu thể kỷ XX, tuy nhiên Robinson &

Smith (1955), lần đầu tiên báo cáo đường mổ

lối trước để lấy nhân thoát vị và hàn xương

Sau đó Cloward (1958) phát triển kỹ thuật

này(9) Mặc dù gần đây một số tác giả ủng hộ

đường mổ lối sau cho bệnh lý rễ: Daniel Riew

(2007) cho rằng an toàn, hiệu quả, ít tốn kém

hơn, đảm bảo được vận động của cột sống và

tránh các biến chứng di lệch mảnh ghép(10)

Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các trung tâm

trong nước cũng như trên thế giới ủng hộ

đường mổ lối trước, bởi vì đường mổ này dễ

tiếp cận thương tổn, có thể lấy toàn bộ nhân

thoát vị, các chồi xương giải phóng hoàn toàn

tủy và rễ thần kinh với sự hỗ trợ của kính

hiển vi phẫu thuật và khoan mài siêu tốc, dễ

dàng đặt mảnh ghép đảm bảo độ vững của

cột sống, giữ được chiều cao lỗ ghép, tránh

biến chứng gù cột sống do mổ lối sau Tại

bệnh viện Nguyễn Tri Phương, chúng tôi áp

dụng đường mổ lối trước cho tất cả các bệnh

nhân nghiên cứu

Phẫu thuật lấy nhân đĩa đệm có hàn xương

hay không hàn xương?

Một khảo sát gần đây tại Mỹ bao gồm 22

phẫu thuật viên chấn thương chỉnh hình và 8

phẫu thuật viên thần kinh, hầu hết ủng hộ

quan điểm hàn xương sau phẫu thuật lấy

nhân thoát vị(11)

Martin (1976) trong một nghiên cứu ngẫu

nhiên tiến cứu 51 bệnh nhân bao gồm 25 ca lấy

nhân đệm lối trước kèm hàn xương (ACDF) so

với 26 ca chỉ lấy nhân đệm lối trước (ACD) Tác

giả nhận thấy không có mối liên quan có ý

nghĩa về hình ảnh học và kết quả lâm sàng giữa

hai nhóm(11) Do đó, tác giả kết luận rằng không

cần thiết phải hàn xương trong mổ lối trước Bảy

năm sau trong một nghiên cứu ngẫu nhiên tiến cứu 63 bệnh nhân (32 ca ACD so với 31 ca ACDF), Rosenorn cho thấy rằng bệnh nhân nhóm ACD trở lại công việc bình thường sau 3 tháng và kết quả lâm sàng không có sự khác biệt

có ý nghĩa so với nhóm ACDF(14) Savolainen và cs (1998) trong một nghiên cứu bao gồm 31 ca ACD và 30 ca ACDF, thì kết quả lâm sàng không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm tại thời điểm 6 tháng và 4 năm sau mổ Tuy nhiên tại thời điểm 4 năm sau mổ, thỉ tỷ lệ hàn xương nhóm ACDF là 100%, nhóm ACD 90% Đặc biệt tỷ lệ gù cột sống sau mổ cao hơn rất nhiều ở nhóm ACD (15) Gần đây hơn, Dow & Wirth tổng kết 84 ca bao gồm ACD và ACDF với thời gian theo dõi trung bình 4,5 năm (1,5-8 năm), tác giả nhận thấy ở nhóm ACD thì thời gian phẫu thuật ngắn hơn, ngày nằm viện ít hơn, trở lại công việc sớm hơn Tuy nhiên, nhóm ACDF có tỷ lệ hàn xương cao hơn (97%)

so với nhóm ACD (70%), sự khác biệt này là có ý nghĩa với P<0,01(11)

Một nghiên cứu khác của Jing-cheng xie (2007) tỷ lệ hàn xương ở nhóm ACD (67%) so với nhóm ACDF (93%), trong khi đó tỷ lệ gù sau

mổ chiếm 75% ở nhóm ACD (11) Mặc dù còn nhiều tranh cãi, Gado khảo sát chiều cao lỗ ghép trước và sau mổ, cho thấy có sự gia tăng đáng

kể chiều cao lỗ ghép ở nhóm ACDF Đồng quan điểm này Albert và cs cho thấy chiều cao lỗ ghép tăng 20-30% so với trước mổ ở nhóm ACDF (11)

Nghiên cứu của chúng tôi cỡ mẫu còn nhỏ, không có nhóm chứng Do đó, chỉ thiết

kế nghiên cứu mô tả tiến cứu Thời gian sau

mổ còn ngắn, chưa thể đánh giá kết quả lâm sàng lâu dài Tuy nhiên, quan điểm của chúng tôi vẫn ủng hộ hàn xương sau mổ lấy nhân thoát vị (ACDF) Bởi vì 70% bệnh nhân nhóm ACD có hàn xương sau 4 năm sau mổ, 75% có biến chứng gù cột sống Do đó không thể cho rằng, chỉ phẫu thuật lấy nhân thoát vị đơn thuần không kèm hàn xương (ACD) có thể

Trang 5

bảo tồn vận động sinh lý cột sống cổ và nguy

cơ mất vững thấp

Nghiên cứu của chúng tôi có 92% có kết quả

tốt và rất tốt, trở về cuộc sống sinh hoạt bình

thường Kết quả này cũng tương tự như của

Nguyễn Hùng Minh và cs (88,5%) Chúng tôi

chưa thấy có trường hợp nào di lệch mảnh ghép

sau mổ(13)

Có 04 trường hợp khàn giọng thoáng qua và

hồi phục sau mổ, chỉ có 1 trường hợp hồi phục

chậm sau đó 3 tháng Có lẽ trong quá trình phẫu

tích chúng tôi đã va chạm dây thần kinh quặt

ngược thanh quản Axel Jung (2008) tổng kết 242

trường hợp được chia làm hai nhóm: nhóm A

149 ca có giảm áp lực bóng nội khí quản dưới 20

mmHg, nhóm B 93 ca không giảm áp lực bóng

nội khí quản Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ

liệt dây thần kinh quặt ngược thanh quản ở

nhóm B cao hơn nhóm A (6,5% vs 1,3%), sự khác

biệt này có ý nghĩa thống kê

Tất cả các trường hợp trong nghiên cứu của

chúng tôi đều đặt mảnh ghép nhân tạo có nhồi

xương tự thân

KẾT LUẬN

Qua phân tích 50 trường hợp, chúng tôi

nhận thấy kết quả sớm sau mổ thoát vị đĩa đệm

cột sống cổ lối trước có hàn xương bằng mảnh

ghép nhân tạo đem lại kết quả khả quan Việc

hàn xương bằng mảnh ghép nhân tạo tránh lấy

xương ghép tự thân từ mào chậu, giúp đảm bảo

độ ưỡn cột sống, giữ được chiều cao lỗ ghép,

tránh được biến chứng gù do mổ lối sau so chỉ

lấy nhân thoát vị đơn thuần Tuy nhiên, nghiên

cứu của chúng tôi chưa đánh giá được kết quả

xa, do vậy cần theo dõi thêm và thu thập cỡ mẫu

đủ lớn để tiếp tục đánh giá hiệu quả của

phương pháp phẫu thuật này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Albert TJ, Smith MD, Bressler E, Johnson LJ (1997) An in vivo analysis of the dimensional changes of the neuroforamen after

anterior cervical diskectomy and fusion: A radiologic investigation J Spinal Disord 10: 229–233

2 Axel J (2008) How to reduce recurrent laryngeal nerve palsy in anterior cervical spine surgery: A prospective observational study Neurosurgery 67:10-15

3 Bambakidis NC, Feiz-Erfan I, (2005) Indications for surgical fusion of the cervical and lumbar motion segment Spine 30

[Suppl 16]: S2–S6

4 Bertalanffy H, Eggert HR (1989) Complications of anterior cervical discectomy without fusion in 450 consecutive patients

Acta Neurochir (Wien) 99: 41–50

5 Boden SD, McCowin PR, Davis DO, Dina TS, Mark AS, Wiesel S (1990) Abnormal magnetic-resonance scans of the cervical spine

in asymptomatic subjects A prospective investigation J Bone Joint Surg Am 72:1178–1184

6 Bolesta MJ, Rechtine GR 2nd, Chrin AM, (2000) Three- and Four-level anterior cervical discectomy and fusion with plate fixation: A prospective study Spine 25:2040–2046

7 Bolesta MJ, Rechtine GR, Chrin AM (2002) One- and two-level anterior cervical discectomy and fusion: The effect of plate fixation Spine J 2: 197–203

8 Caspar W, Geisler FH, Pitzen T, Johnson TA (1998) Anterior cervical plate stabilization in one- and two-level degenerative disease: Overtreatment or benefit?.J Spinal Disord 11:1–11

9 Cloward RB (1958) Anterior approach for removal of ruptured cervical discs J Neurosurg 15:602–617

10 Grisoli et al (1989) Anterior discectomy without fusion for treatment cervical lateral soft disc extrusion: A follow up 120 cases Neurosurgery 24: 853-859

11 Jing-Cheng Xie (2007) Discectomy versus discectomy with fusion versus discectomy with fusion and instrumentation: A prospective randomized study Neurosurgery 61:107–117

12 K.Daniel Riew.M.D.(2007) Posterior cervical spone surgery for radiculopathy Neurosurgery 60:S-57–S-63

13 Nguyễn Hùng Minh và cs (2009) Nhận xét kết quả bước đầu

phẫu thuật đĩa đệm cổ lối trước có đặt dụng cụ cespace tại bênh

viện 103 Tạp chí Y học thực hành, pp 360-367

14 Rosenorn J, Hansen EB, Rosenorn M (1983) Anterior cervical discectomy with and without fusion: A prospective study J Neurosurg 59: 252–255

15 Savolainen S, Rinne J, Hernesniemi J(1998) A prospective randomized study of anterior single-level cervical disc operations with long-term follow-up: Surgical fusion is unnecessary Neurosurgery 43:51–55

Ngày đăng: 21/01/2020, 20:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w