1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm bệnh lý vòng nhẫn mạch máu có tắc nghẽn đường hô hấp tại Bệnh viện Nhi Đồng 1

7 107 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 279,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được tiến hành để khảo sát các đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và kết quả điều trị của các loại vòng nhẫn mạch máu có hẹp đường thở tại Nhi Đồng 1. Nghiên cứu thực hiện từ tháng 1 năm 2009 đến tháng 12 năm 2013, có 56 bệnh nhi được thu thập vào mẫu nghiên cứu.

Trang 1

CÓ TẮC NGHẼN ĐƯỜNG HÔ HẤP TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 

Lê Bình Bảo Tịnh*, Phan Hữu Nguyệt Diễm ** 

TÓM TẮT 

Tổng  quan  và  mục  tiêu  nghiên  cứu:  Vòng nhẫn mạch máu thường gây những triệu chứng hô hấp dai 

dẳng không giải thích được ở trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ. Việc chẩn đoán và điều trị thường bị chậm trễ. Hiện nay tại  Việt Nam chỉ có 1 nghiên cứu về bệnh lý này với 9 ca được báo cáo. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với  mục tiêu khảo sát các đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và kết quả điều trị của các loại vòng nhẫn mạch 

máu có hẹp đường thở tại Nhi Đồng 1. 

Phương pháp: Hồi cứu mô tả hàng loạt ca 

Kết quả: Từ tháng 1 năm 2009 đến tháng 12 năm 2013, có 56 bệnh nhi được thu thập vào mẫu nghiên cứu. 

Tuổi trung bình tại thời điểm chẩn đoán là 13 tháng, 78,5% ở tuổi nhũ nhi. Triệu chứng hô hấp tìm thấy ở 52/56  bệnh nhi, bao gồm thở rít 17,8%, khò khè 19,6% và khó thở 2 thì 57,1%. Hai mươi mốt trường hợp (37,5%)  triệu chứng xuất hiện trong giai đoạn sơ sinh. Hầu hết các bệnh nhi được phát hiện trong bệnh cảnh khò khè kéo  dài 42,8%, thở rít kéo dài 17,8 % và viêm phổi kéo dài 23,2%. Tất cả bệnh nhi thực hiện CT scan ngực với tái tạo  hình ảnh 3D xác định chẩn đoán. Bất thường giải phẫu của vòng nhẫn mạch máu được xác định dựa vào CT  ngực, bao gồm 39 trường hợp bất thường động mạch (ĐM) phổi trái, 8 trường hợp cung động mạch chủ (ĐMC)  đôi, 7 trường hợp bất thường ĐM không tên, 1 trường hợp cung ĐMC bên phải và bất thường động mạch dưới  đòn (ĐMDĐ) bên trái, 1 trường hợp cung ĐMC vòng quanh. Sáu trong 56 trường hợp có điều trị phẫu thuật  bao gồm 2 ca cung ĐMC đôi và 4 ca bất thường ĐM phổi trái. Hai ca cung ĐMC đôi khỏi hoàn toàn, 2 ca bất  thường ĐM phổi trái mặc dù giảm nhưng vẫn còn triệu chứng về hô hấp. Không có tử vong trong phẫu thuật,  nhưng trong thời gian hậu phẫu 2 ca bất thường ĐM phổi trái có hẹp khí quản đoạn dài tử vong trong bệnh  cảnh nhiễm trùng huyết và suy hô hấp. 

Kết luận: Ở những bệnh nhi có các triệu chứng hô hấp dai dẳng hoặc tái phát như thở rít, khò khè hay khó 

thở 2 thì, đặc biệt triệu chứng khởi phát sớm ở tuổi nhũ nhi, nên tìm những triệu chứng của bất thường bẩm  sinh vòng nhẫn mạch máu. CT scan có cản quang giúp chẩn đoán và xác định cấu trúc của vòng nhẫn mạch  máu. Phẫu thuật sớm ở những bệnh nhi có triệu chứng trong nhóm cung ĐMC đôi hiệu quả hơn nhóm bất  thường ĐM phổi trái. 

Từ khóa: vòng nhẫn mạch máu, tắc nghẽn đường hô hấp, khó thở 2 thì, khò khè kéo dài. 

ABSTRACT 

CHARACTERS OF VASCULAR RINGS ASSOCIATED WITH TRACHEAL STENOSIS  

AT PEDIATRIC HOSPITAL No 1 

Le Binh Bao Tinh, Phan Huu Nguyet Diem  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 256 ‐ 262 

Background  and  objectives:  Congenital  vascular  rings  (VR)  may  often  cause  unexplained  persistent 

respiratory symptoms in infants and young children. The diagnosis and treatment are often delayed. Up to now,  there  is  only  one  study  of  vascular  rings  with  9  patients  reported  in  Vietnam .  The  aim  of  this  study  was  to  describe the clinical, imaginary manifestations, and management at Pediatric hospital 1.  

* Khoa hô hấp, Bệnh viện Nhi Đồng 1 ** Bộ môn Nhi, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 

Trang 2

Results: From January 2009 through June 2013, 56 patients were enrolled. The mean age at diagnosis was 

13 month, 78.5% in infant. Respiratory manifestations were found in 52 patients, including stridor in 17.8%,  wheezing  in  19.6%  and  biphasic  dyspnea  in  57.1%.  Twenty  one  (37.5%)  showed  symptoms  in  the  neonatal 

period. Most patients were detected by prolonged wheezing (42.8%), prolonged stridor (12.5%), or by prolonged 

pneumonia (23.2%). Thoracic computerized tomography (CT) scan with three‐dimensional (3D) was performed 

in all patients. The anatomy of vascular rings were correctly identified by thoracic CT, including 39 pulmonary  artery sling (PAS), 8 double aortic arch (DAA), 7   anomalous innominate artery, 1   right aortic arch with aberrant  left subclavian artery and 1 circumflex aortic arch. Six of the 56 patients underwent surgery for repair of VR, 2  DAA and 4 PAS. Whereas 2 patients with DAA were completely relieved of symptoms, 2 patients with PAS  were  improved  but  still  had  persistent  respiratory  symptoms  after  surgery.  There  was  no  intraoperative  mortality, while 2 patients with a pulmonary sling and severe long‐segment tracheal stenosis died of sepsis and  respiratory failure in the postoperative period. 

Conclusions:  Patients,  with  recurrent  or  chronic  respiratory  symptoms  such  as  stridor,  wheezing  and 

biphasic dyspnea, especially whose the first onset of symptoms occurs in early infancy, should be examined for the  possible presence of congenital vascular rings. Contrast‐enhanced CT scan clearly defines the anatomy of vascular  rings. Early surgical management in symptomatic patients with DAA is more effective than PAS. 

Key words: vascular rings, tracheal stenosis, biphasic dyspnea, prolonged wheezing. 

MỞ ĐẦU 

Vòng nhẫn mạch máu là một dị tật bẩm sinh 

do  sự  hình  thành  bất  thường  của  cung  ĐMC 

và/hoặc  các  mạch  máu  lớn,  các  mạch  máu  này 

bao  quanh  và  chèn  ép  khí  quản  và  thực  quản, 

hình thành nên vòng mạch hoàn toàn hay không 

gặp, chiếm tỷ lệ khoảng 1% các bất thường của 

bệnh lý tim mạch(16,21,28,34).  

Nghiên  cứu  về  vấn  đề  này  tại  Việt  Nam, 

hiện  nay  chúng  tôi  ghi  nhận  duy  nhất  nghiên 

cứu của tác giả Trần Quỳnh Hương và Nguyễn 

Phương Hòa Bình tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 

năm 2001 đến năm 2006 được công bố với 9 ca 

vòng  nhẫn  mạch  máu.  Vẫn  có  những  trường 

hợp chẩn đoán  vòng  nhẫn  mạch  máu  bị  bỏ  sót 

dẫn tới điều trị kéo dài với các chẩn đoán khác 

như  hen  phế  quản,  viêm  phổi  kéo  dài,  trào 

ngược  dạ  dày  thực  quản ,  trong  khi  điều  trị  chủ 

yếu của bệnh này là can thiệp ngoại khoa. Chúng tôi 

tiến hành nghiên cứu này nhằm tìm ra các triệu 

chứng gợi ý giúp chẩn đoán  sớm,  đánh  giá  vai 

trò của chẩn đoán hình ảnh và khả năng điều trị 

bệnh lý này trong thực tế ở nước ta.  

Mục tiêu nghiên cứu 

Khảo sát các đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán  hình  ảnh  và  kết  quả  điều  trị  của  các  loại  vòng  nhẫn mạch máu gây tắc nghẽn đường hô hấp ở  trẻ  em  nhập  viện  Nhi  Đồng  1  từ  tháng  1  năm 

2009 đến tháng 6 năm 2013.  

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng nghiên cứu 

Tất cả bệnh nhi có chẩn đoán xác định vòng  nhẫn  mạch  máu  gây  chèn  ép  đường  thở  nhập  viện  tại  Bệnh  viện  Nhi  Đồng  1  từ  tháng  1/2009  tới tháng 6/2013. 

Thiết kế nghiên cứu 

Hồi cứu mô tả hàng loạt ca. 

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN  Tần suất mắc bệnh 

Trong thời gian 54 tháng, 56 trường hợp có  chẩn đoán vòng nhẫn mạch máu gây hẹp đường  thở tại bệnh viện Nhi Đồng 1 đủ tiêu chuẩn đưa  vào  nghiên  cứu.  Vòng  nhẫn  mạch  máu  là  một  bất thường bẩm sinh hiếm  gặp,  tỷ  lệ  mắc  bệnh  trong  dân  số  rất  khó  xác  định,  vì  có  những  trường  hợp  vòng  nhẫn  mạch  máu  không  biểu 

Trang 3

hiện  triệu  chứng.  Chúng  tôi  thấy  rằng  tần  suất 

bắt gặp bệnh của chúng  tôi  cao  hơn  so  với  báo 

cáo của  một  số  tác  giả  khác.  Tại  bệnh  viện  Nhi 

Đồng 2, theo báo cáo của Trần Quỳnh Hương có 

9  trường  hợp  bất  thường  mạch  máu  trong  5,5 

Shah báo cáo có 64 trường hợp được phẫu thuật 

Nhìn  ở  góc  độ  khác,  tác  giả  Nguyễn  Thị  Mai 

Hoàn  trong  4  năm  đã  ghi  nhận  62  ca  dị  dạng 

đường thở tại bệnh viện Nhi Trung ương, trong 

đó có 33 ca hẹp khí quản, trong số 33 ca này chỉ 

Đặc điểm dân số nghiên cứu 

Tỷ lệ mắc bệnh của nam cao hơn nữ 1,5 lần, 

điều  này  phù  hợp  nhận  định  giới  tính  nam 

thường chiếm ưu thế hơn so với nữ của đa số tài 

liệu khác(1,18,21,27,34,37,40).  

Bảy  trường  hợp  kèm  các  dị  tật  bẩm  sinh 

không  thuộc  tim  mạch  và  hô  hấp,  bao  gồm  3 

trường hợp bất sản hậu môn trực tràng và 1 bất 

thường  đốt  sống  ngực  trong  nhóm  bất  thường 

ĐM phổi trái, và 3 trường hợp với 3 dị tật khác 

nhau là bất sản thận trái, hội chứng Down và sứt 

môi chẻ vòm trong nhóm bất thường ĐM không 

tên. Vòng nhẫn mạch máu thường kèm theo các 

dị tật bẩm sinh ở nhiều cơ quan khác nhau, được 

nói đến với hội chứng VACTERL bao gồm các dị 

tật  bất  thường  đốt  sống,  bất  sản  hậu  môn,  bất 

thường  tim  mạch,  dò  khí  thực  quản  và  bất 

thường ở các chi(6,18,37). 

Đặc điểm lâm sàng 

Tuổi  chẩn  đoán  trung  bình  là  13  tháng, 

78,5% bệnh nhi có tuổi nhỏ hơn 1 tuổi, kết quả 

này  tương  tự  như  của  tác  giả  Ruzmetov  (71%) 

Có  78,6%  bệnh  nhi  của  chúng  tôi  có  tiền 

căn  khò  khè  hoặc  thở  rít  trước  đây,  trong  đó 

hơn  1/3  các  trường  hợp  (37,5%)  triệu  chứng 

khởi phát trong thời kỳ sơ sinh. Điều này cũng 

tương tự như báo cáo của các tác giả khác, cho 

thấy  tuổi  khởi  phát  triệu  chứng  thường  rất 

sớm, thường nhỏ hơn 12 tháng tuổi và có gần 

½ bệnh nhi triệu chứng có thể khởi phát trong  thời kỳ sơ sinh(5,6). 

Có 66,1% bệnh nhi có tiền căn nhập viện, với  chẩn  đoán  là  viêm  tiểu  phế  quản,  viêm  phổi,  viêm  thanh  khí  phế  quản,  suyễn  nhũ  nhi  và  mềm sụn thanh quản. Theo y văn, khoảng 50%  các trường hợp vòng nhẫn mạch máu có các đợt  nhiễm  trùng  hô  hấp  tái  phát.  Cá  biệt,  1  trường  hợp  nhập  viện  6  lần  được  chẩn  đoán  suyễn,  bệnh nhi này đã có điều trị dự phòng suyễn với  ICS, tình trạng suyễn không kiểm soát, bệnh nhi  được  thực  hiện  CT  scan  ngực  phát  hiện  bất  thường ĐM phổi trái. Tác giả Stoica cũng đã báo  cáo trường hợp 1 bệnh nhân cung ĐMC đôi có 

Đa  số  các  trẻ  nhập  viện  vì  bệnh  lý  hô  hấp,  chiếm  tỷ  lệ  92,9%.  Lâm  sàng  bao  gồm  những  triệu  chứng  không  đặc  hiệu  như  ho  (85,7%),  chảy  mũi  và/hoặc  nghẹt  mũi  (48,2%),  biểu  hiện  của  bệnh  lý  nhiễm  khuẩn  hô  hấp  cấp  tính.  Những triệu chứng đặc hiệu hơn thể hiện sự tắc  nghẽn đường thở như thở rít chiếm tỷ lệ 17,8%,  nhiều nghiên cứu của các tác giả khác nhau cho  thấy đây là biểu hiện nổi bật của bệnh, như của 

hay  86%  vòng  nhẫn  mạch  máu  có  thở  rít  theo 

khác, Wu nghiên cứu trên 92 bệnh nhi có thở rít,  phát hiện 7,7% trong số đó có bất thường mạch  máu(41).  Triệu  chứng  khò  khè  gặp  ở  19,6%  bệnh  nhi. Cả hai triệu chứng khò khè và thở rít là do  tình trạng tắc nghẽn khí quản với mức độ khác  nhau  tùy  thuộc  vị  trí  hẹp  trên  khí  quản.  Biểu  hiện  triệu  chứng  và  mức  độ  nặng  nhẹ  không  đồng nhất và không hằng định. Có những bệnh  nhi đã có tiền sử khó thở và thở rít, nhập viện 1  đến 2 lần được chẩn đoán là viêm thanh khí phế  quản,  sau  đó  hoặc  lần  nhập  viện  này  khò  khè  nổi trội được chẩn đoán viêm tiểu phế quản hay  suyễn.  Cũng  có  bệnh  nhi  trong  lần  nhập  viện  này, có 2 chẩn đoán song song: viêm thanh khí  phế quản và viêm tiểu phế quản hay suyễn, do  bệnh nhi có khó thở 2 thì, lúc thở rít rõ hơn ở thì 

Trang 4

hít  vào,  lúc  khò  khè  nổi  trội  hơn.  Những  bệnh 

nhi  lần  này  nhập  viện  có  cả  2  triệu  chứng  trên 

chúng tôi phân thành nhóm khó thở 2 thì, vì vậy 

nên tỷ lệ thở rít hoặc khò khè của chúng tôi thấp 

hơn  các  tác  giả  khác.  Khó  thở  2  thì  chiếm  tỷ  lệ 

cao, 57,1%, là triệu chứng đặc trưng rõ nhất của 

bệnh lý này trong nghiên cứu của chúng tôi.  

Phần  lớn  bệnh  nhi  được  chẩn  đoán  phát 

hiện vòng nhẫn mạch máu qua triệu chứng khò 

khè kéo dài (42,8%) thở rít kéo dài (12,5%), hay 

trong bệnh cảnh viêm phổi kéo dài đáp ứng kém 

điều trị (23,2%). Có 2 trường hợp được phát hiện 

vòng  nhẫn  mạch  máu  một  cách  ngẫu  nhiên, 

không  có  dấu  hiệu  gợi  ý.  Nhiều  trường  hợp 

vòng nhẫn mạch máu hoàn toàn không có triệu 

chứng,  được  phát  hiện  tình  cờ,  thậm  chí  phát 

hiện  ở  người  lớn  tuổi  khi  nhập  viện  vì  bệnh  lý 

mạch vành hay các bệnh khác(13,15,17,22,24,33,37).  

Cận lâm sàng 

X quang ngực  

Có  87,3%  có  hình  ảnh  bất  thường  trên  X 

quang  ngực  thẳng,  những  bất  thường  này  đa 

phần  không  đặc  hiệu,  trùng  lắp  với  biểu  hiện 

của  nhiều  bệnh  lý  khác  như:  ứ  khí  1  hoặc  2 

phổi, xẹp phổi, hoặc tổn thương nhu mô phổi. 

Hai  bệnh  nhi  có  hình  ảnh  khí  quản  lệnh  trái 

trên X‐Quang phổi và chẩn đoán cuối cùng là 

bất  thường  ĐM  phổi  trái.  Đây  là  xét  nghiệm 

thường qui được thực hiện đầu tiên đối với đa 

phần các bệnh lý hô hấp, nhưng có độ nhạy và 

độ  đặc  hiệu  thấp  trong  chẩn  đoán  vòng  nhẫn 

Siêu âm tim 

Tỷ lệ trẻ có bệnh tim kèm theo  là  35,7%,  so 

69,9%  bệnh  nhi  được  siêu  âm  tim,  vì  thế  tỷ  lệ 

bệnh tim kèm theo có thể cao hơn nữa.  

Trên siêu âm tim phát hiện 14 trường hợp có 

bất  thường  mạch  máu,  chiếm  tỷ  lệ  35,7%  số  ca 

siêu âm tim, và 25% tổng số ca trong lô nghiên 

cứu. Tỷ lệ này hơi thấp so với kết quả của một số 

40%(37), Humphrey 45%(18). 

CT scan ngực có cản quang 

Tất cả bệnh nhi trong nghiên cứu được thực  hiện  CT  scan  ngực  đa  lát  cắt  có  cản  quang,  kết  hợp với dựng hình 3D giúp xác định chẩn đoán.  Đây là một trong những phương tiện chẩn đoán  hình ảnh được ứng dụng rộng rãi trong việc xác  định vòng nhẫn mạch máu, khảo sát được nhiều  góc độ không gian, mối liên quan giữa khí quản,  thực quản và các cấu trúc khác của trung thất, 

từ  đó  hướng  dẫn  và  định  hướng  kế  hoạch  phẫu thuật.  

CT scan xác định được loại vòng nhẫn mạch  máu  của  tất  cả  56  trường  hợp,  bao  gồm  39  trường  hợp  bất  thường  ĐM  phổi  trái,  8  trường  hợp  cung  ĐMC  đôi,  7  trường  hợp  bất  thường 

ĐM  không  tên,  1  trường  hợp  cung  ĐMC  bên  phải  và  bất  thường  ĐMDĐ  bên  trái,  1  trường  hợp cung ĐMC vòng quanh.  

Bất  thường  ĐM  phổi  trái  là  nguyên  nhân  thường gặp nhất, chiếm tỷ lệ 69,6%. Điều này là  một sự khác biệt rất lớn với những nghiên cứu  trước  đây  ở  Việt  Nam  và  thế  giới.  Theo  Trần 

5,6% trong tổng số 54 ca vòng nhẫn mạch máu 

giả Yong trong 27 năm (1984‐2011) có 21 trường  hợp  loại  vòng  nhẫn  mạch  máu  này  được  phẫu 

lệ chính xác của bất thường  ĐM  phổi  trái  chưa  được  xác  định  do  số  trường  hợp  được  báo  cáo  còn  ít,  theo  số  ít  tác  giả,  bất  thường  này  có  thể 

Cung  ĐMC  đôi  Cùng  với  bất  thường  dạng  vòng  nhẫn  cung  ĐMC  bên  phải  với  dây  chằng 

ĐM bên trái, hai bất thường này chiếm khoảng  80%  ‐  95%  các  trường  hợp  trong  đa  số  các 

cứu của chúng tôi, cung ĐMC đôi chiếm tỷ lệ rất  thấp, 14,3%, đây cũng là một khác biệt mà chúng 

Trang 5

có thể lý giải được. 

Trong  nhóm  cung  ĐMC  bên  phải  và  bất 

thường  ĐMDĐ  bên  trái  chúng  tôi  có  1  trường 

hợp có túi phình Kommerell, chiếm tỷ lệ 12,5%, 

Tỷ lệ có bất thường khác kèm theo tại phổi là 

46,4%.  Trường  hợp  duy  nhất  bất  thường  ĐM 

không tên kèm theo bất sản phổi trái, các trường 

hợp bất thường còn lại thuộc nhóm bất thường 

ĐM  phổi  trái.  Hai  mươi  năm  bệnh  nhi  hẹp  khí 

quản  bẩm  sinh  kèm  theo  được  chẩn  đoán  dựa 

vào hình ảnh trên CT scan ngực, trong đó nhiều 

trường  hợp  đoạn  khí  phế  quản  hẹp  kéo  dài  ra 

ngoài vị trí chèn ép của vòng nhẫn mạch máu và 

hình ảnh khí quản dạng tròn của vòng sụn khí 

quản hoàn toàn. Theo báo cáo của nhiều tác giả, 

khoảng  1/2  tới  2/3  các  trường  hợp  bất  thường 

ĐM  phổi  trái  kèm  hẹp  khí  quản  đoạn  dài  với 

vòng  sụn  hoàn  toàn(2,7,11,19,28,29).  Để  mô  tả  sự  kết 

hợp  này,  tác  giả  Bendon  sử  dụng  thuật  ngữ 

cáo  của  tác  giả  Oshima,  71%  bệnh  nhân  có  bất 

thường ĐM phổi trái có hẹp khí quản đoạn dài, 

Phế quản‐khí quản bẩm sinh là trường hợp 

phế quản thùy trên phổi phải xuất phát trực tiếp 

từ 1/3 trên của khí quản. Chúng tôi có 10 ca có 

bất  thường  dạng  phế  quản‐khí  quản  bẩm  sinh, 

chiếm tỷ lệ 25,6% của bất thường ĐM phổi trái, 

tỷ  lệ  này  cao  hơn  so  với  tác  giả  Oshima 

phế quản bắt nguồn trực tiếp từ khí quản nhưng 

không  thông  nối  với  nhu  mô  phổi  được  gọi  là 

khí quản chột hay túi thừa khí  quản,  chúng  tôi 

có 1 trường hợp bất thường này, với nghiên cứu 

của các một số tác giả khác chúng tôi không thấy 

dạng  khác  hiếm  gặp  của  bất  thường  cây  khí 

quản, đó là khí quản chia 3.  

Mức  độ  hẹp  trung  bình  của  đường  thở 

46,1%, độ hẹp ít nhất là 20%, nhiều nhất 70,2%. 

Độ  hẹp  của  từng  nhóm  như  sau:  có  1  trường 

hợp cung ĐMC bên phải và bất thường ĐMDĐ 

trái  với  mức  độ  hẹp  23,4%,  1  cung  ĐMC  vòng  quanh  hẹp  50%,  độ  hẹp  trung  bình  của  nhóm  cung  ĐMC  chủ  đôi  gần  bằng  với  nhóm  bất  thường ĐM phổi trái lần lượt 48% và 48,6%, cao  hơn  nhiều  nhóm  bất  thường  ĐM  không  tên  37,9%,  tuy  nhiên  sự  khác  biệt  này  không  có  ý  nghĩa  thống  kê,  có  thể  do  số  bệnh  nhi  trong  nghiên  cứu  còn  ít  và  phân  bố  không  đồng  đều  giữa các nhóm vòng nhẫn mạch máu.  

CT scan đánh giá vị trí hẹp đường thở, vị trí  hẹp  đa  phần  là  khí  quản  đoạn  thấp,  đoạn  hẹp  kéo  dài  tới  gần  1/3  giữa  khí  quản  (64%),  hay  đoạn  hẹp  kéo  dài  tới  carina  kèm  theo  hẹp  phế  quản gốc 1 hoặc 2 bên (9%). Điều này có thể lý  giải  do  tỷ  lệ  bất  thường  ĐM  phổi  trái  trong  nghiên cứu của chúng tôi cao, chiếm tỷ lệ 69,6%. 

Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về vị trí hẹp  đường  thở  trong  các  nhóm  vòng  nhẫn  mạch  máu:  cung  ĐMC  đôi  và  bất  thường  ĐM  không  tên  đa  phần  gây  hẹp  1/3  trên  khí  quản,  bất  thường ĐM phổi trái thường gây hẹp khí quản  đoạn  thấp  đến  1/3  giữa  khí  quản  và  hẹp  khí  quản quanh carina kèm theo hẹp phế quản gốc  một  hoặc  hai  bên  (p  <  0,001).  Trường  hợp  hẹp  1/3 trên khí quản thường gây ra thở rít 1 thì, hẹp  khí  quản  1/3  giữa  gây  khó  thở  hai  thì,  hẹp  khí  quản  đoạn  thấp  gần  carina  kèm  theo  hẹp  phế  quản gốc 1 hoặc 2 bên chủ yếu gây khò khè.  

Độ  dài  trung  bình  của  đoạn  khí  quản  hẹp  22,6 ±13 mm( từ 4mm đến 65mm). Độ dài đoạn  hẹp của 3 nhóm thường gặp nhất khác nhau có 

ý nghĩa thống kê: nhóm bất thường ĐM không  tên có độ dài trung bình ngắn nhất (11,5mm), kế  đến  nhóm  cung  ĐMC  đôi  (17,2  mm)  và  nhóm  bất  thường  ĐM  phổi  trái  dài  nhất  (27,8mm).  Trong đó độ dài trung bình đoạn hẹp của nhóm  bất thường ĐM phổi trái khác nhau có  ý  nghĩa  thống  kê  với  2  nhóm  còn  lại,  còn  nhóm  bất  thường ĐM không tên và nhóm cung ĐMC đôi  không  khác  nhau  có  ý  nghĩa  thống  kê.  So  với  nghiên cứu của tác giả Chen, độ dài trung bình  của nhóm bất thường ĐM phổi trái trong nghiên 

Trang 6

Năm mươi bệnh nhi được điều trị nội khoa 

đơn thuần, 40 bệnh nhi cải thiện lâm sàng, xuất 

viện với tình trạng hết suy hô hấp, giảm khò khè 

và 10 ca tử vong. Trong số đó, 6 trẻ tử vong tại 

bệnh viện và 4  trẻ  có  bệnh  nặng  thân  nhân  xin 

về. Tử vong nhiều nhất ở nhóm bất thường ĐM 

phổi trái, 7 trường hợp. 

Sáu  bệnh  nhi  điều  trị  phẫu  thuật,  gồm  2/8 

trường hợp cung ĐMC đôi, và 4/39 trường hợp 

bất thường ĐM phổi trái, 3 bệnh nhi trong nhóm 

bất  thường  động  mạch  phổi  trái  được  phẫu 

thuật tạo hình cây khí quản. Sau phẫu thuật 2 ca 

cung  ĐMC  đôi  kết  quả  khỏi  hoàn  toàn,  bất 

thường ĐM phổi trái có 2 bệnh nhi tử vong và 2 

bệnh nhi cải thiện triệu chứng  khó  thở,  dù  vẫn 

còn khò khè. 

KẾT LUẬN 

Vòng nhẫn mạch máu là một bệnh lý hiếm, 

thường  gây  chèn  ép  khí  quản  hơn  thực  quản. 

Tỷ  lệ  mắc  bệnh  của  nam  cao  hơn  nữ  1,5  lần. 

Bệnh khởi phát sớm, tuổi chẩn đoán đa phần ở 

tuổi nhũ nhi. Khò khè, thở rít kéo dài, đặc biệt 

là khó thở 2 thì là triệu chứng gợi ý giúp chẩn 

đoán bệnh. 

X  quang  phổi  không  đặc  hiệu,  số  ít  trường 

hợp có dấu hiệu gợi ý chẩn đoán khi có hình ảnh 

đẩy lệch khí quản qua trái.  

Siêu âm tim phát hiện số ít có dấu hiệu bất 

thường nghi ngờ vòng nhẫn mạch máu, nhưng 

phát  hiện  tỷ  lệ  cao  trẻ  có  bệnh  tim  bẩm  sinh 

kèm theo. 

CT ngực đa lát cắt có cản quang phát hiện và 

phân loại bất thường vòng nhẫn mạch máu. bao 

gồm 39 trường hợp bất thường ĐM phổi trái, 8 

trường  hợp  cung  ĐMC  đôi,  7  trường  hợp  bất 

thường ĐM không tên, 1 trường hợp cung ĐMC 

bên  phải  và  bất  thường  động  mạch  dưới  đòn 

bên trái, 1 trường hợp  cung  ĐMC  vòng  quanh. 

Bất  thường  ĐM  phổi  trái  hẹp  khí  quản  nặng 

hơn,  độ  dài  đoạn  hẹp  dài  hơn  so  với  các  loại 

vòng  nhẫn  mạch  máu  còn  lại.  Bất  thường  ĐM 

phổi trái thường kèm theo dị tật bẩm sinh khác 

tại phổi, như hẹp khí quản bẩm sinh, phế quản‐ khí quản thùy trên phổi phải. 

 Điều  trị  phẫu  thuật  còn  ít,  gồm  2  trường  hợp cung ĐMC đôi và 4 trường hợp bất thường 

ĐM phổi trái. Kết quả sau phẫu thuật: 2 trường  hợp  cung  ĐMC  đôi  kết  quả  khỏi  hoàn  toàn,  ở  nhóm bất thường ĐM phổi trái có 2 bệnh nhi tử  vong  và  2  bệnh  nhi  cải  thiện  triệu  chứng  khó  thở, dù vẫn còn khò khè. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Backer  CL,  et  al.  (2005).  Trends  in  vascular  ring  surgery.  J  Thorac Cardiovasc Surg, 129(6): 1339‐47 

2 Backer  CL,  et  al.  (2012).  Pulmonary  artery  sling:  current  results  with  cardiopulmonary  bypass.  J  Thorac  Cardiovasc  Surg, 143(1): 144‐51 

3 Beekman  RP,  et  al.  (1998).  A  new  diagnostic  approach  to  vascular rings and pulmonary slings: the role of MRI. Magn  Reson Imaging, 16(2): 137‐45 

4 Berdon  WE  (2000).  Rings,  slings,  and  other  things:  vascular  compression  of  the  infant  trachea  updated  from  the  midcentury to the millennium‐ the legacy of Robert E. Gross, 

MD,  and  Edward  B.  D.  Neuhauser,  MD.  Radiology,  216(3):  624‐32 

5 Bernstein  (2011).  Other  congenital  heart  and  vascular  malformations  In:  Kliegman.  Nelson  Textbook  of  Pediatrics,  19th ed., 1596 ‐ 1599. Elsevier Saunders, Philadelphia 

6 Bonnard  A,  et  al  (2003).  Vascular  ring  abnormalities:  A  retrospective study of 62  cases.  Journal  of  Pediatric  Surgery,  38(4): 539‐543 

7 Browne LP (2009). What is the optimal imaging for vascular  rings and slings? Pediatr Radiol, 39 Suppl 2: S191‐5 

8 Chen  SJ,  et  al  (2007).  Left  pulmonary  artery  sling  complex:  computed  tomography  and  hypothesis  of  embryogenesis.  Ann Thorac Surg, 84(5): 1645‐50 

9 Davies  M,  et  al  (2003).  Developmental  abnormalities  of  the  great vessels of the thorax and their embryological basis. Br J  Radiol, 76(907): 491‐502 

10 Đỗ  Ngọc  Thanh,  Phạm  Thị  Minh  Hồng  (2008).  Khảo  sát  nguyên nhân khò khè ở trẻ từ 2 tháng đến 15 tuổi tại khoa hô  hấp bệnh viện Nhi Đồng 2 từ tháng 6/2007 ‐ 5/2008. Luận văn  bác sĩ chuyên khoa II. Đại học Y dược TPHCM 

11 Fiore AC, et al (2005). Surgical treatment of pulmonary artery  sling  and  tracheal  stenosis.  Ann  Thorac  Surg,  79(1):  38‐46;  discussion 38‐46 

12 Fleenor  JT,  et  al  (2003).  Vascular  rings  and  their  effect  on  tracheal geometry. Pediatr Cardiol, 24(5): 430‐5. 

13 Ganesh  V,  et  al  (2009).  Pulmonary  artery  sling:  an  unexpected finding on cardiac multidetector CT. Postgrad  Med J, 85(1001): 128 

14 Gormley PK, et al (1999). Congenital vascular anomalies and  persistent  respiratory  symptoms  in  children.  Int  J  Pediatr  Otorhinolaryngol, 51(1): 23‐31 

15 Gundavaram MS, Gaba RC (2012). Asymptomatic pulmonary  artery sling: a rare congenital vascular anomaly. Heart Lung  Circ, 22(4): 297‐9 

16 Hernanz‐Schulman  M  (2005).  Vascular  rings:  a  practical  approach to imaging diagnosis. Pediatr Radiol, 35(10): 961‐79 

Trang 7

17 Higashikuni  Y,  et  al  (2008).  Right  aortic  arch  with  mirror 

image  branching  and  vascular  ring.  International  Journal  of 

Cardiology, 130(1): e53‐e55 

18 Humphrey C, et al (2006). Decade of experience with vascular 

rings at a single institution. Pediatrics, 117(5): e903‐8 

19 Kagadis  GC,  et  al  (2007).  Preoperative  evaluation  of  the 

trachea  in  a  child  with  pulmonary  artery  sling  using  3‐

dimensional  computed  tomographic  imaging  and  virtual 

bronchoscopy. J Pediatr Surg, 42(5): E9‐13. 

20 Kanne  JP  et  al  (2010).  Right  aortic  arch  and  its  variants. 

Journal  of  Cardiovascular  Computed  Tomography,  4(5): 

293‐300. 

21 Kellenberger  CJ  (2010).  Aortic  arch  malformations.  Pediatr 

Radiol, 40(6): 876‐84 

22 Kir M, et al (2012). Vascular Rings: Presentation, Imaging 

Strategies,  Treatment,  and  Outcome.  Pediatr  Cardiol. 

Apr;33(4):607‐17 

23 Kocis KC, et al (1997). Aortic arch complex anomalies: 20‐year 

experience  with  symptoms,  diagnosis,  associated  cardiac 

defects, and surgical repair. Pediatr Cardiol, 18(2): 127‐32 

24 Kypson  AP,  et  al  (2008).  Double  aortic  arch  in  an  adult 

undergoing coronary bypass surgery: a therapeutic dilemma? 

European Journal of Cardio‐Thoracic Surgery, 34(4): 920‐921 

25 Lee  EY  (2007).  MDCT  and  3D  evaluation  of  type  2 

hypoplastic pulmonary artery sling associated with right lung 

agenesis,  hypoplastic  aortic  arch,  and  long  segment  tracheal 

stenosis. J Thorac Imaging, 22(4): 346‐50 

26 Ma GQ, et al (2007). Congenital vascular rings: a rare cause of 

respiratory distress in infants and children. Chin Med J (Engl), 

120(16): 1408‐12 

27 Marmon LM, et al (1984). Vascular rings and slings: long‐term 

follow‐up of pulmonary function. J Pediatr Surg, 19(6): 683‐92 

28 McLaren CA, et al (2008). Vascular compression of the airway 

in children. Paediatr Respir Rev, 9(2): 85‐94 

29 Newman  B,  Cho  Y  (2010).  Left  pulmonary  artery  sling‐

anatomy and imaging. Semin Ultrasound CT MR, 31(2): 158‐

70 

30 Nguyễn Thị Mai Hoàn, Đào Minh Tuấn (2010). Đặc điểm lâm 

sàng và hình thái của các dị dạng đường thở bẩm sinh ở trẻ 

em  tại  bệnh  viện  Nhi  Trung  ương  2006‐2010.Tạp  chí  y  học 

thực hành: 37‐39 

31 Oshima  Y,  et  al  (2008).  Management  of  pulmonary  artery  sling  associated  with  tracheal  stenosis.  Ann  Thorac  Surg,  86(4): 1334‐8 

32 Ruzmetov M, et al (2009). Follow‐up of surgical correction of  aortic  arch  anomalies  causing  tracheoesophageal  compression: a 38‐year single institution experience. J Pediatr  Surg, 44(7): 1328‐32 

33 Sariaydin  M,  et  al  (2010).  Asymptomatic  double  aortic  arch.  Int Med Case Rep J, 3: 63‐6 

34 Shah  RK,  et  al  (2007).  The  presentation  and  management  of  vascular  rings:  An  otolaryngology  perspective.  International  Journal of Pediatric Otorhinolaryngology, 71(1): 57‐62 

35 Singh  C,  et  al  (2006).  Compression  of  trachea  due  to  double  aortic  arch:  demonstration  by  multi‐slice  CT  scan  (MSCT).  Heart Lung Circ, 15(5): 332‐3 

36 Stoica  SC,  et  al  (2002).  Double  aortic  arch  masquerading  as  asthma for thirty years. Respiration, 69(1): 92‐5 

37 Suh YJ, et al (2012). Clinical course of vascular rings and risk  factors associated with mortality. Korean Circ J, 42(4): 252‐8 

38 Trần Quỳnh Hương, Nguyễn Phương Hòa Bình (2006). Đặc  điểm  của  dị  dạng  vòng  mạch‐băng  treo  mạch  tại  bệnh  viện  Nhi  Đồng  II  từ  1/2001  đến  6/2006.  Y  Học  TP.Hồ  Chí  Minh:  124‐127 

39 Turner  A,  et  al  (2005).  Vascular  rings  ‐  presentation,  investigation and outcome. Eur J Pediatr, 164(5): 266‐70 

40 Woods  RK,  et  al  (2001).  Vascular  anomalies  and  tracheoesophageal compression: a single institutionʹs 25‐year  experience. Ann Thorac Surg, 72(2): 434‐8; discussion 438‐9 

41 Wu  JM,  et  al  (1996).  Upper  airway  obstruction  caused  by  vascular anomalies in children. Zhonghua Min  Guo  Xiao  Er 

Ke Yi Xue Hui Za Zhi, 37(2): 122‐7 

42 Yilmaz  M,  et  al  (2003).  Vascular  anomalies  causing  tracheoesophageal  compression:  a  20‐year  experience  in  diagnosis and management. Heart Surg Forum, 6(3): 149‐52 

43 Yong  MS,  et  al  (2013).  Surgical  management  of  pulmonary  artery  sling  in  children.  J  Thorac  Cardiovasc  Surg,  145(4):  1033‐9 

  Ngày nhận bài báo: 01/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo: 05/11/2013  Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 19:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm