1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu thiết lập qui trình chẩn đoán di truyền tiền làm tổ trên phôi người

6 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 279,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đề tài này với mục tiêu nhằm nghiên cứu thiết lập qui trình xác định lệch bội nhiễm sắc thể (NST) trên phôi người làm TTTON bằng kĩ thuật FISH trên 5 NST (13, 18, 21 và X, Y) trong PGD: Qui trình được xây dựng dựa trên các thử nghiệm trên 101 phôi có chất lượng xấu.

Trang 1

NGHIÊN CỨU THIẾT LẬP QUI TRÌNH CHẨN ĐOÁN DI TRUYỀN

TIỀN LÀM TỔ TRÊN PHÔI NGƯỜI

Trương Thị Thanh Bình * , Nguyễn Thị Thu Lan*, Bùi Võ Minh Hoàng**, Đặng Quang Vinh***,

Hồ Mạnh Tường***, Trương Đình Kiệt**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Thiết lập qui trình xác định lệch bội nhiễm sắc thể (NST) trên phôi người làm TTTON bằng kĩ

thuật FISH trên 5 NST (13, 18, 21 và X, Y) trong PGD

Phương pháp: Qui trình được xây dựng dựa trên các thử nghiệm trên 101 phôi có chất lượng xấu Việc

sinh thiết phôi được thực hiện trên phôi ngày 3 sau khi mở lỗ trên zona pellucida bằng hệ thống laser Sau khi cố định phôi bào, quá trình lai được thực hiện với các mẫu dò ADN bằng phương pháp FISH Các tín hiệu từ kính hiển vi huỳnh quang của các nhiễm sắc thể khảo sát được ghi nhận Hiệu quả của qui trình được đánh giá trên kết quả thực hiện PGD trên 39 phôi có chất lượng tốt

Kết quả: Tỷ lệ phôi còn nguyên vẹn, tỷ lệ nhân tế bào còn sau cố định, tỷ lệ nhân tế bào có tín hiệu FISH

lần lượt là 92,3%; 94,9% và 92,3% Kết quả cho thấy 46,2% phôi có bất thường ở 1 trong 5 nhiễm sắc thể khảo sát

Kết luận: Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam thành công trong việc xây dựng qui trình sinh thiết

phôi người giai đoạn ngày 3 sau thụ tinh và qui trình thực hiện FISH đơn bào để chẩn đoán lệch bội NST

Từ khóa: Thụ tinh ống nghiệm, chẩn đoán di truyền tiền làm tổ, FISH, lệch bội nhiễm sắc thể

ABSTRACT

ESTABLISHING THE PROTOCOL FOR PREIMPLANTATION GENETIC DIAGNOSIS

IN HUMAN EMBRYOS

Truong Thi Thanh Binh, Nguyen Thi Thu Lan, Bui Vo Minh Hoang, Dang Quang Vinh,

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 169 - 174

Objective: To establish the protocol for preimplantation genetic diagnosis in human embryos, using

fluorescence in situ hybridization (FISH) in 5 chromosomes (13, 18, 21 and X, Y)

Methods: The protocol was established through trials on 101 embryos with poor quality Embryo biopsy was

performed on day 3 through an opening on zona pellucida by laser After fixing, hybridization was done with 5 probes The signal of 5 chromosomes was detected under fluorescence microscope The effectiveness of the established protocol was assessed based the application of PGD on 39 good quality embryos

Results: The rate of fully intact embryos after biopsy, intact cell after fixation and cells with FISH signals

were 92.3%; 94.9% and 92.3%, respectively There were 46.2% embryos with abnormal chromosomes

Conclusion: The protocol for embryo biopsy and fluorescent in situ hybridization on day 3 human embryos

to diagnose aneuploidy was successfully established in Vietnam in this experimental study

Key words: invitro fertilization (IVF), preimplantation diagnosis genetics (PGD), fluorescence in situ

* IVF Vạn Hạnh, **ĐH Y Dược TPHCM, *** Trung tâm nghiên cứu Di truyền và Sức khỏe sinh sản, khoa Y-ĐHQG TpHCM và Hội Nội tiết sinh sản và Vô sinh TpHCM

Trang 2

hybridization (FISH), aneuploidy

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thuật ngữ “chẩn đoán di truyền tiền làm

tổ” được dịch từ tiếng Anh “Preimplantation

Genetic Diagnosis”, viết tắt là PGD Năm

1990, PGD được thực hiện đầu tiên với phôi

từ thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) nhằm

sàng lọc di truyền trên đối tượng phôi người

Kĩ thuật PGD dựa trên việc phát hiện các bất

thường di truyền ở phôi và chỉ cấy trở lại vào

buồng tử cung các phôi không có các bất

thường về di truyền đã được chẩn đoán Kĩ

thuật này cho phép các cặp vợ chồng có nguy

cơ truyền các bệnh lý di truyền cho con có cơ

hội sinh con không mắc bệnh, mà không phải

bỏ thai khi phát hiện bệnh lý thông qua chẩn

đoán tiền sản

Hiện nay, nhiều trường hợp có chỉ định

PGD để chẩn đoán bất thường số lượng và cấu

trúc NST, cũng như một số bệnh lý đơn gen hay

di truyền theo giới tính ở Việt Nam phải ra nước

ngoài điều trị, với chi phí điều trị và chẩn đoán

cho một trường hợp hơn 20.000 - 30.000 đô la

Mỹ Việc xây dựng qui trình PGD, tạo cơ sở cho

việc nghiên cứu triển khai áp dụng, có thể đáp

ứng nhu cầu của nhân dân và góp phần cung

cấp các dịch vụ y tế hiện đại đến được nhiều đối

tượng bệnh nhân ở Việt Nam với chi phí thấp

hơn và giảm hiện tượng “chảy máu” ngoại tệ do

việc người dân phải đi nước ngoài để chẩn đoán

và điều trị

Sự phát triển của PGD gắn liền với các kĩ

thuật hỗ trợ sinh sản Hiện nay, ngành hỗ trợ

sinh sản ở Việt Nam đã có những bước tiến

lớn và theo kịp trình độ các nước trong khu

vực trong hầu hết các kĩ thuật Tuy nhiên, cho

đến nay, chưa có nghiên cứu nào xây dựng

thành công qui trình PGD trong điều kiện

Việt Nam Cùng với sự phát triển mạnh của

các kĩ thuật hỗ trợ sinh sản ở Việt Nam, việc

xây dựng qui trình kĩ thuật PGD ở Việt Nam

sẽ mở ra nhiều ứng dụng trong chẩn đoán di

truyền, nâng cao chất lượng dân số và phát

triển các công nghệ y - sinh học liên quan,

góp phần đáp ứng nhu cầu của xã hội và sự phát triển của các lãnh vực liên quan ở Việt Nam Nghiên cứu này được thực hiện nhằm thiết lập qui trình chẩn đoán di truyền phôi người giai đoạn tiền làm tổ Đây là đề taì nghiên cứu cấp thành phố, do Sở Khoa học và Công nghệ TpHCM quản lý Đơn vị chủ trì thực hiện là Đại học Y Dược TPHCM Đơn vị phối hợp thực hiện bao gồm Hội Nội tiết Sinh sản và Vô sinh TPHCM và Bệnh viện Vạn Hạnh

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trên các phôi thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) không sử dụng cho mục đích điều trị, tại khoa Hiếm muộn, bệnh viện Vạn Hạnh (IVF Vạn Hạnh) và được bệnh nhân đồng ý cho phôi bằng văn bản trong thời gian từ tháng 03/2009 đến tháng 08/2010

Cỡ mẫu

Tỷ lệ bất thường NST ở phôi có chất lượng kém là 80%

Độ tin cậy 95%

Độ chính xác tuyệt đối là 10%

Cỡ mẫu trong nghiên cứu là 61 phôi

Chọn mẫu theo phương pháp tuần tự cho đến khi đủ mẫu

Nguồn thu thập là những phôi có chất lượng kém hay ngưng phát triển Bệnh nhân sau khi được tư vấn và giải thích mục đích của nghiên cứu, nếu đồng ý cho phôi sẽ được hướng dẫn ký giấy đồng ý cho phôi, sau đó, phôi sẽ được đưa vào nghiên cứu

Phôi được đánh giá chất lượng vào ngày thứ

ba sau thụ tinh trên kính hiển vi đảo ngược với

độ phóng đại 300 lần Theo đó, phôi được xem

là có chất lượng xấu khi có từ 6 - 8 tế bào và tỉ lệ phân mảnh bào tương ≥ 15% thể tích phôi Các phôi có 3 - 5 tế bào vào thời điểm kiểm tra được xem là phôi ngưng phát triển

Trang 3

Phương pháp tiến hành

Thiết lập qui trình

Qui trình sinh thiết phôi được xây dựng tại

IVF Vạn Hạnh Qui trình thực hiện FISH đơn

bào gồm 4 công đoạn là (1) cố định tế bào, (2) lai

tế bào, (3) rửa sau lai và (4) phân tích kết quả lai

Trong đó, công đoạn cố định tế bào được thực

hiện tại IVF Vạn Hạnh, các công đoạn còn lại (từ

số 2 đến 4) được xây dựng tại Phòng xét nghiệm

di truyền, Đại học Y Dược TpHCM

Sinh thiết phôi

Chuyển phôi cần sinh thiết từ đĩa nuôi cấy

vào các giọt môi trường ISM1

Đặt đĩa sinh thiết lên bệ ấm của kính

Kích hoạt hệ thống tạo laser để tạo một lỗ

thủng có kích thước 30 - 40µm trên màng trong

suốt của phôi

Đưa kim sinh thiết áp vào phần lỗ thủng và

hút từ từ 1 phôi bào cho đến khi phôi bào được

hút hoàn toàn ra khỏi phôi

Nhả phôi bào vừa hút vào môi trường

Rửa phôi sau sinh thiết một vài lần trong

môi trường ISM1, chuyển phôi vào môi trường

cấy để tiếp tục theo dõi khả năng sống và phát

triển

Thực hiện FISH đơn bào

Cố định phôi bào

Dùng Pasteur pipette chuyển phôi bào vào

giếng thứ 1 của hộp 4 giếng chứa dung dịch

nhược trương trong 5 - 10 giây

Chuyển phôi bào sang giếng thứ 2 chứa

dung dịch trải trong 30 giây

Chuyển phôi bào lên vị trí đã đánh dấu trên

lam kính, cùng với 2-3µl dung dịch trải, để khô

tự nhiên

Nhỏ từng giọt dung dịch cố định lên vùng

có phôi bào Lặp lại vài lần đến khi phần bào

tương tan hoàn toàn, chỉ còn lại nhân tế bào

Nhúng lam mẫu vào dung dịch 2xSSC trong

2 phút

Nhúng lam mẫu lần lượt vào dung dịch ethanol 70%, 85% và 100% lạnh (4oC) trong 2 phút/dung dịch

Để khô hoàn toàn trong không khí

Quan sát vị trí của nhân dưới kính hiển vi có vật kính phản pha

Lai tế bào

Lấy mẫu dò ADN MultiVysion từ -20oC và

để ở nhiệt độ phòng 5-10 phút trước khi sử dụng

Cho 1µl dung dịch mẫu dò lên vùng nhân tế bào trên lam kính

Phủ một miếng lam phủ 3x3mm2 và 1 miếng parafilm 5x5mm2

Đặt các lam mẫu và lam mẫu đối chứng vào máy lai và khởi động chương trình lai

Khi chương trình kết thúc, lấy các lam mẫu

ra khỏi máy

Rửa sau lai

Tháo bỏ parafilm và lam phủ, nhúng lam mẫu vào lọ coplin chứa dung dịch rửa I (0,4xSSC /0,3% NP-40) ở 73oC trong 2 phút Chuyển lam mẫu sang lọ coplin chứa dung dịch rửa II (2xSSC /0,1% NP-40) ở nhiệt độ phòng trong 1 phút

Lấy lam mẫu ra và đặt lam dựng đứng trong vùng tối cho đến khi khô hoàn toàn

Nhỏ 2µl Antifade II lên vùng có nhân tế bào, đặt miếng lam phủ 5x5mm2 lên

Hàn các mép của lam phủ bằng sơn móng tay không màu

Phân tích kết quả

Đặt lam mẫu lên kính và tìm vị trí của tế bào bằng vật kính phản pha có độ phóng đại thấp Bật nguồn sáng huỳnh quang và sử dụng lọc màu xanh lơ (Spectrum Aqua)

Chuyển qua vật kính x100 và điều chỉnh ốc

vi cấp của kính để tìm lại vị trí của nhân tế bào Phân tích tín hiệu màu xanh lơ (NST 18) Đổi lọc màu lần lượt để phân tích các tín hiệu màu xanh dương (NST X), màu vàng (NST

Trang 4

Y), màu xanh lá cây (NST 21) và màu đỏ (NST

13)

KẾT QUẢ

Trong quá trình xây dựng qui trình kĩ thuật,

chúng tôi nhận được 101 phôi có chất lượng xấu

hoặc ngưng phát triển Trong nghiên cứu,

chúng tôi đã lần lượt thực hiện qui trình cố định

tế bào theo phác đồ của đại học Chiangmai, Thái

Lan (phác đồ A), phác đồ của trung tâm Shady

Grove (phác đồ B) và phác đồ cải tiến của chúng

tôi (phác đồ C) Kết quả cho thấy phác đồ C cho

thấy tỷ lệ nhân tế bào có tín hiệu sau FISH cao

hơn (62,5% so với 47,5% và 33,3%) Ngoài ra,

nhiều qui trình chi tiết trong các bước thực hiện

PGD cũng đã được hoàn thiện trong các thực

nghiệm này

Ngoài 101 phôi chất lượng xấu hoặc ngưng

phát triển theo tiêu chuẩn nhận mẫu, chúng tôi

cũng thu thập được 39 phôi có chất lượng khá

và tốt Đây là những phôi có chất lượng khá/tốt

được trữ lạnh và bệnh nhân đồng ý cho nghiên

cứu vì không còn nhu cầu sử dụng Chúng tôi

tiến hành sinh thiết tế bào và thực hiện qui trình

FISH đơn bào theo phác đồ đã được chuẩn hóa

trước đó nhằm đánh giá hiệu quả qui trình kĩ

thuật đã được xây dựng Các chỉ số kĩ thuật

chuyên môn được trình bày trong bảng 1

Bảng 1: Hiệu quả qui trình kĩ thuật

Số lượng Tỉ lệ (%)

Số phôi có phôi bào còn nguyên

Số phôi tiếp tục phát triển sau sinh

Số phôi bào nguyên vẹn sau sinh

Số nhân tế bào có tín hiệu sau

Tỉ lệ lệch bội NST được tính trên tổng số 80

nhân tế bào có tín hiệu, với 46,2% phôi được ghi

nhận có số lượng NST bất thường (bảng 2)

Bảng 2: Tỉ lệ bất thường NST ở các nhóm phôi khác

nhau

Số lượng bất thường NST Tỉ lệ

BÀN LUẬN

PGD là một qui trình phức tạp, gồm nhiều công đoạn, kết hợp nhiều kĩ thuật, công nghệ cao và đòi hỏi kiến thức cũng như kỹ năng thuần thục của các chuyên gia thuộc lãnh vực

hỗ trợ sinh sản và chẩn đoán di truyền Đây là

đề tài đầu tiên được thực hiện nhằm thiết lập qui trình kĩ thuật trong chẩn đoán di truyền tiền làm tổ (PGD) các phôi TTTON trong điều kiện thực tế của Việt Nam Trong phần bàn luận này, các vấn đề như nguồn vật liệu sử dụng cho PGD, phương pháp sinh thiết phôi, các phác đồ

cố định tế bào, hiệu quả của qui trình kĩ thuật được xây dựng, và ý nghĩa của đề tài sẽ được lần lượt đề cập

Nguồn vật liệu di truyền

Việc tiến hành chẩn đoán di truyền có thể được thực hiện thông qua sinh thiết (1) thể cực của noãn, (2) tế bào từ phôi đang phân chia vào ngày 3 hay (3) tế bào lá nuôi của phôi nang vào ngày 5 sau thụ tinh Số liệu báo cáo từ những nghiên cứu lớn trên thế giới về PGD cho thấy có trên 90% các chu kỳ PGD được thực hiện thông qua việc sinh thiết phôi ngày 3 sau thụ tinh(2,4,5,7) Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời điểm này cũng thuận lợi cho nghiên cứu trong việc lấy mẫu do các trung tâm TTTON ở Việt Nam đều chuyển phôi vào ngày 2/3 sau khi thụ tinh, do

đó, một khi được đưa vào áp dụng sẽ mang tính thực tế và phù hợp với tình hình hiện nay của chúng ta

Sinh thiết phôi

Để có thể lấy tế bào ra ngoài tiến hành chẩn đoán di truyền, một lỗ thủng trên màng trong suốt (ZP) cần được hình thành Có 3 phương pháp tạo lỗ thủng trên ZP: (1) laser không tiếp xúc, (2) dung dịch Tyrode có tính acid và (3) xé

Trang 5

màng bằng kim vi thao tác Laser không tiếp xúc

hiện nay là phương pháp được khuyến khích do

tính đơn giản, chính xác và an toàn của kĩ

thuật(4,5,7) Việc sử dụng tia laser gặp nhiều thuận

lợi do chúng tôi có nhiều kinh nghiệm trong

việc áp dụng kĩ thuật hỗ trợ phôi thoát màng

bằng hệ thống laser cho các qui trình điều trị

thường qui của thụ tinh trong ống nghiệm

Qui trình thực hiện FISH đơn bào

Qui trình thực hiện FISH trong PGD bao

gồm (1) cố định, (2) lai tế bào, (3) rửa sau lai và

(4) phân tích kết quả lai Mục tiêu của cố định tế

bào là nhằm loại bỏ các tế bào chất xung quanh,

chuẩn bị cho nhân có điều kiện tốt nhất để phản

ứng lai xảy ra Khác với chẩn đoán tiền sản từ tế

bào nước ối, trong PGD, chúng ta chỉ có 1 tế bào

để tiến hành chẩn đoán di truyền, do đó không

để mất và xử lý tế bào tốt là điều cần thiết

Trong giai đoạn đầu thực hiện, các phôi

bào sau khi sinh thiết được cố định hoàn toàn

theo phác đồ của Đại học Chiangmai, Thái lan

(phác đồ A) và trung tâm Shady Grove, Mỹ

(phác đồ B) Tuy nhiên, tỷ lệ nhân tế bào có

tín hiệu sau FISH thu được rất thấp (33,3% và

47,5%) Do đó, chúng tôi đã điều chỉnh qui

trình dựa trên hai phác đồ trên (phác đồ C)

Với phác đồ C, có 62,5% phôi bào có tín hiệu

sau FISH Sự khác biệt giữa ba phác đồ này

chủ yếu nằm ở khâu khử nước

Hiệu quả qui trình

Cỡ mẫu tối thiểu được tính là 61 phôi chất

lượng kém/ngưng phát triển, tuy nhiên, chúng

tôi đã sử dụng 101 phôi vào nghiên cứu nhằm

xây dựng qui trình Việc đánh giá hiệu quả qui

trình kĩ thuật được chúng tôi thực hiện trên 39

phôi có chất lượng khá/tốt sau trữ lạnh Chúng

tôi chủ yếu đối chiếu các thông số kĩ thuật của

nghiên cứu với báo cáo lần thứ X về tình hình

thực hiện PGD trên toàn châu Âu, ESHRE(3) Đây

được xem là số liệu về PGD lớn nhất hiện nay

trên thế giới

Qui trình sinh thiết phôi

Hiệu quả của qui trình được đánh giá thông qua (1) tỉ lệ phôi bào còn nguyên sau sinh thiết, (2) tỉ lệ phôi còn sống sau sinh thiết và (3) tỉ lệ phôi tiếp tục phát triển sau 24 tiếng

Kết quả cho thấy tỉ lệ phôi và tỉ lệ tế bào còn nguyên sau sinh thiết lần lượt là 97,4% và 97,4% Theo báo cáo của ESHRE, tỉ lệ tế bào còn nguyên sau sinh thiết là 98,7%(3) Chúng tôi tiếp tục nuôi cấy phôi 24 tiếng trong điều kiện 37oC, 6% CO2 và nồng độ oxy sinh lý Có

36 phôi tiếp tục phát triển đến giai đoạn 10-12

tế bào hay bắt đầu có hiện tượng nén (compacting), đạt tỉ lệ 92,3% Tỉ lệ này tương đương với khả năng phôi phát triển in vitro

và không thực hiện sinh thiết phôi trước đó

Qui trình FISH đơn bào

Để đánh giá hiệu quả qui trình kĩ thuật thực hiện FISH đơn bào, chúng tôi dựa vào tỉ lệ tế bào còn sau cố định và tỉ lệ nhân tế bào có tín hiệu sau FISH

Nghiên cứu cho thấy tỉ lệ nhân tế bào còn sau cố định là 94,9% Kết quả của một số báo cáo lớn cho thấy tỉ lệ này dao động trong khoảng 93,9% - 99%(1,6,8) Kết quả nghiên cứu cho thấy 92,3% nhân tế bào có tín hiệu FISH Con số này trong một nghiên cứu trên 1,255 phôi của Marquez và cộng sự năm 2000 là 93% Theo báo cáo ESHRE trên tổng số 125,187 phôi sinh thiết, con số này là 94,1%(3) Các số liệu trên cho thấy qui trình kĩ thuật thực hiện FISH đơn bào của chúng tôi đạt hiệu quả cao tương đương các báo cáo lớn trên thế giới

Ý nghĩa ứng dụng của đề tài

Đây là đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm xây dựng qui trình kĩ thuật trong chẩn đoán di truyền tiền làm tổ các phôi TTTON trong tình hình thực tế của Việt Nam Sự thành công của đề tài đã góp phần khẳng định khả năng của đội ngũ các nhà khoa học Việt Nam trong việc tiếp cận các kĩ thuật điều trị tiên tiến hiện đại trên thế giới Ngoài ra, việc liên kết, tập hợp được các chuyên viên, nhà khoa học đầu ngành tại Việt Nam trong các lãnh vực liên quan, cũng như việc phối hợp được cơ sở, thiết

Trang 6

bị vật chất của nhiều phòng thí nghiệm tại các

đơn vị khác nhau (đại học Y Dược TpHCM, Hội

Nội tiết Sinh sản và Vô sinh TpHCM, IVF Vạn

Hạnh) để thực hiện đề tài là một thành công lớn

của nhóm thực hiện đề tài

Một khi được phép ứng dụng vào cho điều

trị, PGD có thể giúp cho các cặp vợ chồng có

tiền sử sanh con bất thường di truyền, tiền căn

sảy thai liên tiếp hay những phụ nữ có nguy cơ

cao… có thể có con bình thường Khi đó, gánh

nặng chi phí điều trị cho bệnh nhân sẽ được

giảm đáng kể, cũng như hạn chế tình trạng chảy

máu ngoại tệ do bệnh nhân phải đi điều trị ở

nước ngoài

Đề tài đã được hội đồng khoa học của Sở

Khoa học Công nghệ TpHCM nghiệm thu vào

tháng 01/2011 Tuy nhiên, việc triển khai PGD

trong thực tế lâm sàng cần phải đuợc hết sức

được lưu ý và cân nhắc Để có thể có nguồn vật

liệu cho việc chẩn đoán di truyền, điều kiện tiên

quyết là phải xây dựng được một qui trình

TTTON ổn định và hiệu quả cao Kỹ năng thao

tác của nhân viên trong hai qui trình sinh thiết

phôi và cố định tế bào đóng vai trò quan trọng

Các phôi sau sinh thiết sẽ được theo dõi tiếp và

chuyển vào buồng tử cung của người phụ nữ,

do đó, quá trình sinh thiết phôi phải được thực

hiện nghiêm ngặt để không ảnh hưởng đến tính

toàn vẹn của các phôi bào còn lại

Theo hướng dẫn của hiệp hội PGD thuộc

Hội Sinh sản người và Phôi học châu Âu năm

2011, cần có những điều kiện qui định cho nhân

viên thực hiện sinh thiết phôi và FISH đơn

bào(4,5) Ngoài ra, việc thực hiện PGD cũng có thể

gặp phải một tỉ lệ sai số nhất định Ngay cả một

trung tâm PGD hiệu quả cũng có tỉ lệ sai số vào

khoảng 10%(7) Điều này có thể dẫn đến tình

trạng bỏ sót phôi hay chuyển lầm phôi cho bệnh

nhân Do đó, việc giáo dục sức khỏe sộng đồng

và thông tin cho cán bộ y tế về phạm vi và khả

năng ứng dụng, cũng như hậu quả của các sai

số có thể xảy ra của kĩ thuật… là rất cần thiết

trước khi có thể áp dụng triển khai PGD tại Việt nam

KẾT LUẬN

Nghiên cứu đã thành công trong việc xây dựng qui trình sinh thiết phôi người ở giai đoạn phân chia và qui trình thực hiện kĩ thuật FISH đơn bào để chẩn đoán lệch bội nhiễm sắc thể 13,

18, 21, X và Y Các thông số kĩ thuật của các qui trình được xây dựng đều tương đương và phù hợp với các số liệu báo cáo lớn nhất về PGD trên

y văn thế giới Thành công của đề tài đã mở ra một hướng đi mới cho ngành y sinh học nước nhà trong việc mở rộng ứng dụng của các chẩn đoán di truyền hiện đại vào chẩn đoán sớm trước khi phôi làm tổ Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay ở Việt nam, việc triển khai PGD vào lâm sàng cần phải hết sức cân nhắc giữa lợi ích và các nguy có thể có của kỹ thuật Đồng thời trước khi áp dụng, cần có những qui định kiểm soát chặt chẽ về qui trình kỹ thuật cũng như về pháp lý

TÀI LIỆU THAM KHẢO

aneuploidy screening for repeated implantation failure and unexplained recurrent miscarriage Reprod BioMed Online; 13:38 - 46

20 years Reprod Biomed Online; 21:280-282

Consortium data collection IX: cycles from January to December

2007 with pregnancy follow-up to October 2008 Hum Reprod; 25:2685-2707

Wilton L (2011a) ESHRE PGD consortium best practice guidelines for fluorescence in situ hybridization-based PGD Hum Reprod; 26:25-32

Harper JC (2011b) ESHRE PGD Consortium/Embryology Special Interest Group—best practice guidelines for polar body

diagnosis/screening (PGD/PGS) Hum Reprod; 26:41-46

Chromosome abnormalities in 1255 cleavage stage human embryos Reprod Biomed Online 1:17-27

preimplantation genetic diagnosis to improve assisted reproduction outcomes Fertil Steril; 94: 408-430

fixation method for preimplantation genetics diagnosis for fluorescent in-situ hybridization J Assist Reprod Genet 13:570-4

Ngày đăng: 21/01/2020, 19:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm