1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

So sánh hiệu quả điều trị khô mắt trong bệnh lý hốc mắt liên quan tuyến giáp của nước mắt nhân tạo và thuốc nhỏ mắt cyclosporin 0,05%

9 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 323,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung nghiên cứu có mục tiêu sau: Xác định hiệu quả điều trị khô mắt của nước mắt nhân tạo ở bệnh nhân bệnh hốc mắt liên quan tuyến giáp trong vòng 4 tháng theo dõi; xác định hiệu quả điều trị khô mắt của cyclosporin 0,05% ở bệnh nhân bệnh hốc mắt liên quan tuyến giáp trong vòng 4 tháng theo dõi, và 3 và so sánh hiệu quả điều trị khô mắt của hai loại thuốc này qua 4 tháng theo dõi điều trị.

Trang 1

SO SÁNH HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ KHÔ MẮT TRONG BỆNH LÝ HỐC MẮT

LIÊN QUAN TUYẾN GIÁP CỦA NƯỚC MẮT NHÂN TẠO

VÀ THUỐC NHỎ MẮT CYCLOSPORIN 0,05%

Lê Ngọc Hùng*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Bệnh hốc mắt liên quan tuyến giáp (BHMLQTG) là một bệnh rối loạn tự miễn tại hốc mắt bệnh nhân Triệu chứng khô mắt là một trong những triệu chứng thường gặp của bệnh này Trên thế giới nước mắt nhân tạo và thuốc nhỏ mắt cyclosporin 0,05% đã được sử dụng phổ biến vì tính an toàn và hiệu quả của hai loại thuốc này trong điều trị khô mắt Tuy nhiên tại Việt Nam hiện chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả của hai loại thuốc này cũng như so sánh hiệu quả của chúng trong điều trị khô mắt, đặc biệt là khô mắt trong BHMLQTG

Mục tiêu: 1 Xác định hiệu quả điều trị khô mắt của nước mắt nhân tạo ở bệnh nhân BHMLQTG trong vòng 4 tháng theo dõi, 2 Xác định hiệu quả điều trị khô mắt của cyclosporin 0,05% ở bệnh nhân BHMLQTG trong vòng 4 tháng theo dõi, và 3 So sánh hiệu quả điều trị khô mắt của hai loại thuốc này qua 4 tháng theo dõi điều trị

Phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng được tiến hành tại bệnh viện Mắt thành phố Hồ Chí Minh từ 1/8/2011 đến ngày 1/8/2012 Tổng cộng 36 bệnh nhân được phân bố ngẫu nhiên vào 2 nhóm điều trị trong đó nhóm 1 gồm 16 bệnh nhân sử dụng nước mắt nhân tạo và nhóm 2 gồm 20 bệnh nhân sử dụng cyclosporin 0,05% Cả hai nhóm được đo lường ba chỉ số chính đánh giá khô mắt là Schirmer test, TBUT và OSDI theo ba mốc thời gian: chưa điều trị, điều trị 2 tháng, điều trị 4 tháng

Kết quả: Có sự cải thiện đáng kể cả ba chỉ số Schirmer test, TBUT và OSDI ở nhóm bệnh nhân sử dụng nước mắt nhân tạo Cụ thể chỉ số OSDI giảm rõ rệt từ 54,4 ± 5,4 lúc chưa điều trị xuống còn 33 ± 3,5 sau 2 tháng điều trị (p < 0,001) và 32,6 ± 3,2 sau 4 tháng điều trị (p < 0,001) Chỉ số Schirmer test tăng từ 7,7 ± 4,6 lúc chưa điều trị lên 10,7 ± 2,8 sau 2 tháng điều trị (p < 0,001) và 12,1 ± 2,8 sau 4 tháng điều trị (p < 0,001) Chỉ số TBUT tăng lên từ 3,7 ± 1,5 lúc chưa điều trị lên 7,7 ± 1,5 sau 2 tháng điều trị (p < 0,001) và 8,5 ± 1,6 sau 4 tháng điều trị (p < 0,001) Cyclosporin 0,05% cũng có hiệu quả tương tự khi chỉ số OSDI giảm từ 53,7 ± 6 lúc chưa điều trị xuống còn 29,9 ± 5,2 sau 2 tháng điều trị (p < 0,001) và 28,4 ± 5 sau 4 tháng điều trị (p < 0,001) Chỉ số Schirmer test tăng có ý nghĩa thống kê từ 9,6 ± 7,9 lúc chưa điều trị lên 11,6 ± 3,9 (p < 0,001) sau 2 tháng và 12,9 ± 3,9 sau 4 tháng điều trị (p < 0,001) Chỉ số TBUT tăng lên

từ 4,1 ± 1,3 lúc chưa điều trị lên 9,3 ± 1,2 sau 2 tháng điều trị (p < 0,001) và 10,4 ± 1,4 sau 4 tháng điều trị (p < 0,001) Khi so sánh hiệu quả của hai loại thuốc này, kết quả nghiên cứu cho thấy cả hai đều có hiệu quả làm giảm chỉ số OSDI và tăng chỉ số Schirmer như nhau (p = 0,09 và p = 0,21) Tuy nhiên cyclosporin lại

có hiệu quả tốt hơn nước mắt nhân tạo trong việc cải thiện chỉ số TBUT (p < 0,001)

Kết luận: Nghiên cứu đã cho thấy cả hai loại thuốc đều có hiệu quả cải thiện như nhau trong việc làm tăng chỉ số Schirmer test và giảm chỉ số OSDI của bệnh nhân, do đó nên sử dụng hai loại thuốc này trong điều trị khô mắt ở bệnh nhân BHMLQTG Vì cyclosporin 0,05% có hiệu quả cải thiện chỉ số TBUT tốt hơn nước mắt nhân tạo, do đó nên sử dụng cyclosporin 0,05% trong việc điều trị các trường hợp khô mắt nặng do BHMLQTG

Từ khóa: BHMLQTG, hiệu quả điều trị, Schirmer test, TBUT, OSDI

* Bệnh viện Nhân Dân Gia Định

Trang 2

ABSTRACT

ARTIFICIAL TEAR DROPS AND CYCLOSPORIN 0.05%: A RANDOMISED CONTROLLED TRIAL ON DRY-EYE TREAMENT EFFECTIVENESS AMONG THYROID ORITOPATHY PATIENTS

Le Ngoc Hung * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - Supplement of No 1 - 2013: 254 - 262

Background: Thyroid orbitopathy (TO) is an organ-specific autoimmune disorder that occurs in orbital tissues Dry eye symptoms are one of the most common symptoms of TO For recent years, artificial tear drops and cyclosporin 0.05% have been accepted all over the world because of their effectiveness and safety on dry eye treatment However, until now there are not any studies on effectiveness of these two kinds of drug on dry eye treatment, especially dry eye on thyroid orbitopathy patients in Vietnam

Objectives: 1 To determine the dry eye treatment effectiveness of artificial tear drops on thyroid orbitopathy patient within four month of follow-up, 2 To determine the dry eye treatment effectiveness of cyclosporin 0.05%

on thyroid orbitopathy patients within four month of follow-up, and 3 To compare their effectiveness within four month of follow-up

Methods: A randomized controlled trial was conducted at Eye Hospital, Ho Chi Minh city from 1 August

2011 to 1 August 2012 There were a total of 36 patients in which 16 of them were randomized into group 1 which using artificial tear drops and the rest were randomized into group 2 which using cyclosporin 0.05% Both two groups were measured three dry eye indicators including Schirmer test, TBUT (Tear Breakup-time) and OSDI (Ocular Surface Disease Index) at three different periods of time: at baseline, after 2 month follow-up, and 4 month follow-up

Result: There was a significant improvement of Schirmer test, TBUT, and OSDI in group 1 Namely, the mean OSDI decreased from 54.5 ± 5.4 at baseline to 33 ± 3.5 after 2 month follow-up (p < 0.001) and 32.6 ± 3.2 after 4 month follow-up (p < 0.001) The mean Schirmer, on the other hand, increased significantly from 7.7 ± 4.6

at baseline to 10.7 ± 2.8 after 2 month follow-up (p < 0.001) and 12.1 ± 2.8 after 4 month follow-up (p < 0.001) The mean TBUT also increased from 3.7 ± 1.5 at baseline to 7.7 ± 1.5 after 2 month follow-up (p < 0.001) and 8.5

± 1.6 after 4 month follow-up (p < 0.001) In group 2, cyclosporin 0.05% also had similar effectiveness The mean OSDI decreased from 53.7 ± 6 at baseline to 29.9 ± 5.2 after 2 month follow-up (p < 0.001) and 28.4 ± 5 after 4 month follow-up (p < 0.001) The mean Schirmer test increased from 9.6 ± 7.9 at baseline to 11.6 ± 3.9 (p < 0.001) after 2 month follow-up, and 12.9 ± 3.9 after 4 month follow-up (p < 0.001) The mean TBUT also increased from 4.1 ± 1.3 at baseline to 9.3 ± 1.2 after 2 month follow-up (p < 0.001) and 10.4 ± 1.4 after 4 month follow-up (p < 0.001) As compared the effectiveness of these two drugs, there were not statistically difference found with the mean OSDI and Schirmer test (p = 0.09 and p = 0.21) However, cyclosporin 0.05% had a better improvement than artificial tear drops with the mean TBUT (p < 0.001)

Conclusion: The findings showed that two drugs have the same improvement of Schirmer test and OSDI on thyroid orbitopathy patients, so it is recommended to use both drug on dry eye treatment on thyroid orbitopathy patients As a result of better improvement on TBUT, cyclosporin 0.05 should be used for patient with severe dry eye in thyroid orbitopathy

Key words: Thyroid Orbitopathy, effectiveness, Schirmer test, TBUT, OSDI

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh hốc mắt liên quan tuyến giáp

(BLHMLQTG) là một rối loạn tự miễn tại hốc

các phản ứng viêm, phù nề và xơ hóa tại mô hốc mắt cũng như các cơ ngoại nhãn tại hốc mắt Các dấu chứng và triệu chứng của BLHMLQTG là kết quả của sự tăng thể tích do

Trang 3

tiết glycosaminoglycans và sự tăng thể tích các

mô mỡ

Triệu chứng khô mắt là một triệu chứng

thường gặp ở những bệnh nhân mắc

BLHMLQTG Cơ chế chủ yếu là sự tăng bay

hơi của phim nước mắt ở những bệnh nhân

này, gây nên bệnh khô mắt do tăng bay hơi

(Evaporative dry eye – EDE) Đây là kết quả

của sự tăng thể tích của các phần trong hốc

mắt khiến nhãn cầu bị đẩy ra trước và tăng độ

mở rộng khe mi Các bằng chứng gần đây đã

minh họa thêm cho các cơ chế khả dĩ có thể

góp phần vào cơ chế bệnh sinh của triệu

chứng khô mắt Theo các giả thuyết này, bệnh

khô mắt do tăng bay hơi có thể gây ra những

đặc điểm của bệnh khô mắt do thiếu hụt nước

mắt (Aqueous-deficient dry eye – ADDE)

Nước mắt nhân tạo từ lâu là một trong nhiều

loại thuốc được sử dụng phổ biến trên thế giới

cũng như tại Việt Nam trong điều trị khô mắt

Tuy nhiên, trong những năm gần đây có một

loại thuốc nhỏ mắt mới là cyclosporin 0,05% đã

được đưa vào sử dụng trong điều trị khô mắt

vừa và nặng ở các bệnh lý liên quan hốc mắt

Tính hiệu quả và độ an toàn của cyclosporin

0,05% cũng đã được chứng minh qua một số

nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng Mặc dù vậy,

việc so sánh hiệu quả giữa hai loại thuốc nhỏ

mắt này vẫn chưa được chứng minh cụ thể, do

đó khó có thể biết được cyclosporin 0,05% hiệu

quả hơn nước mắt nhân tạo trong điều trị khô

mắt hay không

Tại Việt Nam, cho đến thời điểm khảo sát

chưa có nghiên cứu nào đánh giá được hiệu quả

điều trị khô mắt của cyclosporin 0,05% trong

bệnh lý hốc mắt, đặc biệt là BHMLQTG Bên

cạnh đó cũng chưa có nghiên cứu nào so sánh

được hiệu quả điều trị khô mắt của nước mắt

nhân tạo và cyclosporin 0,05%

Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu “So sánh hiệu quả điều trị khô mắt

trong bệnh lý hốc mắt liên quan tuyến giáp của

nước mắt nhân tạo và thuốc nhỏ mắt cyclosporin 0,05%”

Mục tiêu đề tài

Xác định hiệu quả điều trị khô mắt của nước mắt nhân tạo ở bệnh nhân BHMLQTG thông qua sự thay đổi các chỉ số Schirmer, TBUT và OSDI của bệnh nhân trong 4 tháng điều trị Xác định hiệu quả điều trị khô mắt của cyclosporin 0,05% ở bệnh nhân BHMLQTG thông qua sự thay đổi các chỉ số Schirmer, TBUT

và OSDI của bệnh nhân trong 4 tháng điều trị

So sánh hiệu quả điều trị khô mắt của cyclosporin 0,05% và nước mắt nhân tạo thông qua việc so sánh sự thay đổi các chỉ số Schirmer, TBUT và OSDI trong 4 tháng điều trị

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Những bệnh nhân BHMLQTG đến khám tại Bệnh viện Mắt Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ 01/08/2011 đến 01/08/2012

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng

Tiêu chí đưa vào của nghiên cứu: 1) bệnh nhân được chẩn đoán BHMLQTG theo tiêu chuẩn Bartley và mắc BHMLQTG trong giai đoạn không hoạt tính theo tiêu chuẩn CAS, 2) bệnh nhân được chẩn đoán khô mắt dựa vào TBUT và Schirmer test trong đó Test Schirmer I trong 5 phút ≤ 10 mm và Test TBUT ≤ 10 s

Có tổng cộng 36 bệnh nhân phù hợp với các tiêu chí đưa vào của nghiên cứu được chia thành hai nhóm: nhóm 1 gồm 16 bệnh nhân được cho

sử dụng nước mắt nhân tạo và nhóm 2 gồm 20 bệnh nhân sử dụng cyclosporin 0,005% Cả hai nhóm sử dụng thuốc trong thời gian 4 tháng Các chỉ số chính bao gồm TBUT, OSDI và Schirmer test sẽ được đo tại 3 mốc thời gian: lúc chưa điều trị, điều trị hai tháng, điều trị 4 tháng

Trang 4

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Đặc điểm dịch tễ học của mẫu nghiên cứu

Bảng 1: Đặc điểm dịch tễ học ở hai nhóm nghiên cứu trước điều trị

Biến số Nhóm 1 (n = 16) Nhóm 2 (n = 20) p Tuổi (TB ± ĐLC (KGT)) 47,9 ± 15,8 (21-72) 42,4 ± 12,8 (23-71) 0,24a

Nghề nghiệp (n (%))

Nông dân Buôn bán Công nhân, viên chức

Nội trợ Khác

3 (18,8)

2 (12,5)

3 (18,8)

2 (12,5)

6 (37,5)

2 (10)

0 (0)

1 (5)

2 (10)

15 (75)

0,14c

Khu vực sinh sống (n (%))

Đông Nam Bộ

Tây Nam Bộ

Khác

11 (61,1)

4 (22,2)

3 (16,7)

9 (50)

4 (22,2)

5 (27,8)

0,9c

Từ viết tắt: TB-Trung bình, ĐLC - độ lệch chuẩn, KGT-Khoảng giá trị a: phép kiểm Wilcoxon-Mann-Whitney b:phép kiểm chi bình phương c: phép kiểm Fisher’s exact

Về độ tuổi, giữa hai nhóm không có sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê về độ tuổi trung bình (p

= 0,24) Nếu xét toàn bộ mẫu nghiên cứu đỉnh

tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 48-57 tuổi (34%)

Đỉnh tuổi này phù hợp với nhiều y văn nghiên

cứu về độ tuổi dễ mắc BHMLQTG(11)

Tỷ lệ nữ/nam của toàn bộ mẫu nghiên cứu là

26/10 = 2,6 thấp hơn một số nghiên cứu trên thế

giới trong đó tỷ lệ nữ mắc bệnh cao gấp 6 lần

nam(3,4) Có thể lý giải điều này do mẫu nhỏ nên

chưa thể hiện được đặc điểm giới tính của

BHMLQTG là thường xảy ra ở nữ

Về nghề nghiệp mặc dù nhóm khác có tỷ lệ

cao nhất (37,5% ở nhóm 1 và 75% ở nhóm 2)

nhưng các nghề nghiệp khác như lao động phổ

thông, lao động tự do… lại chiếm tỷ lệ rất thấp,

do đó thực chất nhóm nghề nghiệp chiếm tỷ lệ

cao nhất là nông dân (18,8% ở nhóm 1 và 10% ở

nhóm 2)

Về khu vực sinh sống đa số bệnh nhân sống

tại khu vực Đông Nam Bộ (61,1% ở nhóm 1 và

50% ở nhóm 2) Điều này phản ánh đúng thực tế

vì BHMLQTG, một bệnh lý thường đi kèm với

bệnh cường giáp, mà bệnh cường giáp lại có tần

suất mắc tại các tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nam

Bộ cao hơn so với các khu vực khác

Khi tìm hiểu sự khác biệt giữa hai nhóm về các yếu tố dịch tễ học, không thấy có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Điều này cho thấy

có sự phân bố ngẫu nhiên các đối tượng vào hai nhóm

Đặc điểm lâm sàng của mẫu nghiên cứu

Bảng 2: Đặc điểm lâm sàng của hai nhóm nghiên cứu trước khi điều trị

Biến số Nhóm 1

(n = 16)

Nhóm 2 (n=20) p Tình trạng chức năng tuyến

giáp (n (%)) Cường giáp Nhược giáp Bình giáp

13 (90)

1 (3,5)

2 (6,5)

17 (91) 1(2,4)

2 (5,6)

0,9a

Triệu chứng lâm sàng BHMLQTG

Co trợn mi (TB ± ĐLC (KGT))

(mm)

6,2 ± 0,7 (5,5-7,5)

6,4 ± 0,8 (5,5-8)

0,29b Lồi mắt (TB ± ĐLC (KGT)) (mm) 17,1 ± 3,3

(9-23)

17,3 ± 2,8 (12-24)

0,86b Ảnh hưởng cơ vận nhãn (n(%) 9 (55,3) 15 (75) 0,29a

Từ viết tắt: TB-Trung bình, ĐLC - độ lệch chuẩn, KGT-Khoảng giá trị; a: phép kiểm Fisher’s exact; b: phép kiểm Wilcoxon-Mann-Whitney

Tỷ lệ bệnh nhân cường giáp ở cả hai nhóm đều chiếm tỷ lệ cao (nhóm 1: 90%, nhóm 2: 91%) Kết quả này tương tự như trong các y văn kinh điển nghiên cứu về BHMLQTG cho thấy

Trang 5

BHMLQTG thường xảy ra trên 80-90% bệnh

nhân cường giáp(3,4,6)

Kết quả đo cơ trợn mi ở bệnh nhân hai nhóm

cho thấy, 100% mắt của 36 bệnh nhân (72 mắt)

đều bị co trợn mi Kết quả này phù hợp với y

văn thế giới trong đó triệu chứng co trợn mi

trong BHMLQTG xuất hiện ở > 75% các ca

bệnh(3) Giá trị trung bình co trợn mi của hai

nhóm không có sự chênh lệch lớn (nhóm 1: 6,2 ±

0,7, nhóm 2: 6,4 ± 0,8) và sự khác biệt này không

có ý nghĩa thống kê (p = 0,43)

Về triệu chứng lồi mắt, giá trị trung bình lồi mắt của bệnh nhân ở hai nhóm lần lượt là 17,1 ± 3,3 và 17,3 ± 2,8, và sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p = 0,86) Tỷ lệ bệnh nhân lồi mắt ở cả hai bên của toàn bộ mẫu nghiên cứu lên đến 93% Kết quả này cũng phù hợp với các tổng quan y văn trên thế giới khi cho biết có từ 80-90% số bệnh nhân bị lồi mắt cả ở hai bên(3)

Triệu chứng khô mắt của mẫu nghiên cứu

Bảng 3: Triệu chứng cơ năng và thực thể của hai nhóm nghiên cứu trước khi điều trị

Biến số Nhóm 1 (n = 16) Nhóm 2 (n = 20) p

Triệu chứng cơ năng Chỉ số OSDI (TB ± ĐLC (KGT)) 54,1 ± 5,4 (39,28-60,71) 53,7 ± 6 (31,25-62,5) 0,83a Phân độ OSDI (n(%)) Nhẹ

Vừa Nặng Rất nặng

1 (6,2)

15 (93,8)

0 (0)

0 (0)

1 (5)

19 (95)

0 (0)

0 (0)

1b

Triệu chứng thực thể Chỉ số Schirmer (TB ± ĐLC (KGT)) (mm) 7,7 ± 4,6 (2-25) 9,6 ± 7,9 (1-35) 0,66a Phân độ Schirmer (n(%) Nhẹ

6 (18,8)

16 (50)

9 (28,1)

1 (3,1)

8 (20)

15 (37,5)

15 (37,5)

2 (5)

0,74b

Chỉ số TBUT (TB ± ĐLC (KGT)) (s) 3,7 ± 1,5 (1-7) 4,1 ± 1,3 (1-7) 0,15a Phân độ Schirmer (n (%)) Nhẹ

Vừa Nặng Rất nặng

0 (0)

4 (12,5)

28 (87,5)

0 (0)

0 (0)

6 (15)

34 (85)

0 (0)

1b

Từ viết tắt: TB-Trung bình, ĐLC - độ lệch chuẩn, KGT-Khoảng giá trị a: phép kiểm Wilcoxon-Mann-Whitney; b: phép kiểm Fisher’s exact

Kết quả thống kê cho thấy chỉ số trung

bình OSDI của hai nhóm không có sự khác

biệt lớn (nhóm 1: 54,1 ± 5,4 và nhóm 2: 53,7 ± 6)

và sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê

(p = 0,83) Về phân độ OSDI, cả hai nhóm đều

không có bệnh nhân phân độ nặng và rất

nặng Mặc dù có sự khác biệt giữa phân độ

vừa và nhẹ giữa hai nhóm nhưng không có ý

nghĩa thống kê (p = 0,74)

Chỉ số Schirmer trung bình của cả hai nhóm

trước khi điều trị không có sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê (p = 0,66) trong đó nhóm 1 là 7,7 ±

4,6 và nhóm 2 là 9,6 ± 7,9 Về phân độ Schirmer,

bảng 3 cho thấy ở cả hai nhóm đều có bệnh nhân

thuộc các phân độ khác nhau Như vậy có thể thấy các bệnh nhân trong nghiên cứu này đều có hiện tượng viêm tuyến lệ Chính điều này ảnh hưởng đến sự tiết nước mắt ở bệnh nhân

Chỉ số TBUT của cả hai nhóm mặc dù có sự khác biệt (nhóm 1: 3,7 ± 1,5 và nhóm 2: 4,1 ± 1,3) nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống

kê (p = 0,15) Về phân độ TBUT, cả hai nhóm đều

có tỷ lệ bệnh nhân phân độ nặng rất cao (nhóm 1: 87,5%, nhóm 2: 85%) Như vậy có thể thấy mặc

dù hầu hết các bệnh nhân trong giai đoạn không hoạt tính nhưng các phản ứng tự miễn trong các

mô và tổ chức hốc mắt làm chết nhiều tế bào đài

và tế bào biểu mô và viêm tuyến lệ Khi tế bào

Trang 6

đài và tuyến lệ bị viêm sẽ dẫn đến sự mất ổn

định của màn phim nước mắt Điều này được

phản ánh qua chỉ số TBUT và Schirmer của bệnh nhân sẽ xuống thấp

Hiệu quả điều trị của nước mắt nhân tạo

Bảng 4: Sự thay đổi các chỉ số khô mắt qua 4 tháng điều trị nước mắt nhân tạo ở nhóm 1

TB ± ĐLC (KGT) Chỉ số đo lường khô mắt

Chưa điều trị Điều trị 2 tháng Điều trị 4 tháng

p* Chỉ số OSDI 54,1 ± 5,4 (39,28-60,71) 33 ± 3,5 (25-39,28) 32,6± 3,2 (25-39,28) < 0,001 Chỉ số Schirmer’s test (mm) 7,7 ± 4,6 (2-25) 10,7 ± 2,8 (6-18) 12,1 ± 2,8 (7-19) < 0,001 Chỉ số BUT (s) 3,7 ± 1,5 (1-7) 7,7 ± 1,5 (5-10) 8,5 ± 1,6 (5-11) < 0,001

Từ viết tắt: mm - milimet; s -giây; TB-Trung bình, ĐLC- độ lệch chuẩn, KGT-Khoảng giá trị

*: phép kiểm ANOVA lập lại một chiều

Kết quả cho thấy sau khi điều trị 2 tháng chỉ

số OSDI giảm xuống 21,1 điểm từ 54,1 ± 5,4 còn

33 ± 3,5 (p < 0,001) và sau 4 tháng giảm tiếp 0,4

điểm (p < 0,001) Như vậy, nước mắt nhân tạo có

hiệu quả làm giảm chỉ số OSDI theo thời gian,

hay nói cách khác có thể cải thiện chỉ số OSDI

theo thời gian điều trị

Đối với chỉ số Schirmer, kết quả phân tích

cho thấy sau 2 tháng sử dụng nước mắt nhân

tạo, chỉ số Schirmer của bệnh nhân nhóm 1 tăng

3 điểm từ 7,7 ± 4,6 lên 10,7 ± 1,5 (p < 0,001) Kết

quả này cũng tương tự như trong nghiên cứu

của Altimapak(1) Đến tháng thứ 4, chỉ số

Schirmer của bệnh nhân nhóm 1 tiếp tục tăng lên

12,1 ± 2,8 (p < 0,001) Như vậy nước mắt nhân tạo

có hiệu quả thực sự trong việc tăng chỉ số

Schirmer theo thời gian điều trị

Sự cải thiện đáng kể chỉ số Schirmer ở bệnh

nhân sử dụng nước mắt nhân tạo có thể lý giải

phần lớn là do cơ chế tác dụng của nước mắt

nhân tạo Nước mắt nhân tạo khi sử dụng trong

điều trị khô mắt sẽ đóng vai trò cung cấp lớp

nước cho phim nước mắt cũng như làm giảm

dần áp suất thẩm thấu trên bề mặt nhãn cầu, cắt

đứt được chu trình viêm có thể diễn ra sau đó

Test Schirmer là một test đo lường mức độ tiết

xuất nước mắt ở bệnh nhân Do đó việc cải thiện

chỉ số Schirmer của bệnh nhân đã phản ánh

được cơ chế tác dụng chính của nước mắt nhân

tạo trong điều trị khô mắt

Sau hai tháng điều trị chỉ số TBUT cũng cải

thiện khi tăng 4 điểm từ 3,7 ± 1,5 lên 7,7 ± 1,5 (p <

0,001) và 8,5 ± 1,6 sau 4 tháng điều trị (p < 0,001) Kết quả của nghiên cứu này tương tự như trong nghiên cứu của Aragona và Altiparmak(1,2)

Hiệu quả điều trị của cyclosporin 0,05%

Bảng 5: Sự thay đổi các chỉ số khô mắt qua 4 tháng điều trị cyclosporin 0,05% ở nhóm 2

TB ± ĐLC (KGT) Chỉ số đo

lường khô mắt Chưa điều

trị

Điều trị 2 tháng

Điều trị 4 tháng

p*

Chỉ số Schirmer’s test (mm)

9,6 ± 7,9 (1-35)

11,6 ± 3,9 (4 -22)

12,9 ± 3,9 (6-23)

< 0,001 Chỉ số BUT (s) 4,1 ± 1,3

(1-7)

9,3 ± 1,2 (7-12)

10,4 ± 1,4 (9-14)

< 0,001 Chỉ số OSDI 53,7 ± 6

(31,25-62,5)

29,9 ± 5,2 (15,62-39,28)

28,4± 5 (15,62-37,5)

< 0,001

Từ viết tắt: mm - milimet; s -giây; TB-Trung bình, ĐLC- độ lệch chuẩn, KGT-Khoảng giá trị

*: phép kiểm ANOVA lập lại một chiều

Sau khi điều trị 2 tháng chỉ số OSDI giảm xuống 23,8 điểm từ 52,7 ± 6 còn 29,9 ± 5,2 (p < 0,001) Kết quả này tương tự nghiên cứu của Canan(5) Đến tháng thứ 4, chỉ số OSDI tiếp tục giảm 1,5 điểm (p < 0,001) Như vậy, sau 4 tháng điều trị cyclosporin 0,05% có hiệu quả làm giảm chỉ số OSDI theo thời gian, hay nói cách khác có thể cải thiện chỉ số OSDI theo thời gian điều trị Đối với chỉ số Schirmer, kết quả phân tích cho thấy sau 2 tháng chỉ số Schirmer của bệnh nhân nhóm 2 tăng 2 điểm từ 9,6 ± 7,9 lên 11,6 ± 3,9 (p < 0,001) Kết quả này cũng tương tự như trong nghiên cứu của Canan(5) Đến tháng thứ 4, chỉ số Schirmer của bệnh nhân nhóm 2 tiếp tục

Trang 7

0,05% làm tăng có ý nghĩa thống kê chỉ số

Schirmer theo thời gian điều trị

Cyclosporin 0,05% cũng có hiệu quả cải thiện

chỉ số TBUT Sau hai tháng điều trị chỉ số TBUT

tăng 5,2 điểm từ 4,1 ± 1,3 lên 9,3 ± 1,2 (p < 0,001)

Đến tháng thứ 4, chỉ số TBUT tiếp tục tăng lên

10,4 ± 1,4 (p < 0,001) Nghiên cứu của Canan

cyclosporin 0,05% làm tăng chỉ số TBUT của

bệnh nhân ngay trong 2 tháng đầu, và sau đó

tiếp tục cải thiện chỉ số này trong vòng 2 tháng

tiếp theo

Việc lý giải sự thay đổi có ý nghĩa thống kê

của cả chỉ số Schirmer test và TBUT của bệnh

nhân sử dụng cyclosporin 0,05% cũng dựa vào

cơ chế tác động của nó lên cơ chế sinh bệnh học

của khô mắt trong BHMLQTG Cyclosporin

0,05% ức chế hoạt động của lymphocytes T từ đó

làm giảm sự sản xuất các cytokines tiền viêm

Khi đó các cytokine sẽ không thể ức chế vòng

phản xạ tiết nước mắt, và kết quả là vòng phản

xạ tiết nước mắt được tái lập lại như bình

thường Bên cạnh đó cyclosporin 0,05% ức chế

sự chết của tế bào đài sản xuất lớp mucin của

phim nước mắt Các tế bào đài được khôi phục

sẽ tạo nên lớp mucin từ đó ổn định được phim

nước mắt Hệ quả này được phản ánh thông qua

sự tăng chỉ số TBUT của các bệnh nhân sử dụng

cyclosporin 0,05%

So sánh hiệu quả điều trị của hai nhóm

Bảng 6 Sự thay đổi chỉ số OSDI theo thời gian điều

trị ở hai nhóm

Chỉ số OSDI Nhóm 1

TB ± ĐLC (KGT)

Nhóm 2

TB ± ĐLC (KGT)

p*

Chỉ số OSDI lúc

chưa điều trị

54,1 ± 5,4 (39,28-60,71)

53,7 ± 6 (31,25-62,5) Chỉ số OSDI lúc

điều trị 2 tháng

33 ± 3,5 (25-39,28)

29,8 ± 5,2 (15,62-39,28) Chỉ số OSDI lúc

điều trị 4 tháng

32,6 ± 3,2 (25-39,28)

28,4 ± 5 (15,62-37,5)

0,09

Từ viết tắt: TB- trung bình, ĐLC - độ lệch chuẩn;

KGT-khoảng giá trị *:phép kiểm ANOVA lập lại hai chiều

Kết quả khảo sát cho thấy cả hai loại thuốc

đều có hiệu quả về thời gian khi chỉ số OSDI

giảm dần theo thời gian điều trị (p < 0,001) Về hiệu quả điều trị, cả hai nhóm có hiệu quả như nhau trong việc cải thiện chỉ số OSDI của bệnh nhân (p = 0,09) Đối với hiệu quả điều trị theo thời gian, kết quả phân tích cho thấy trong hai tháng đầu cả hai loại thuốc đều có hiệu quả như nhau trong việc làm giảm chỉ số OSDI của bệnh nhân ở hai nhóm (p = 0,4), tuy nhiên trong giai đoạn từ 2 tháng đến 4 tháng cyclosporin 0,05% lại có hiệu quả tốt hơn nước mắt nhân tạo (p = 0,02) Điều này có thể giải thích do cơ chế tác động của cyclosporin 0,05% trong điều trị khô mắt là loại trừ hiện tượng viêm trên bề mặt nhãn cầu do đó trong thời gian điều trị lâu dài có thể duy trì được hiệu quả điều trị, trong khi đó cơ chế tác động của nước mắt nhân tạo chủ yếu là

bù lượng nước mắt hao hụt do bốc hơi nước mắt gây ra chứ không loại trừ được hiện tượng viêm của bệnh nhân do đó nếu điều trị trong thời gian dài mặc dù có sự cải thiện chỉ số OSDI nhưng không hiệu quả bằng cyclosporin 0,05%

Bảng 7 Sự thay đổi chỉ số Schirmer theo thời gian điều trị ở hai nhóm

Chỉ số Schirmer test Nhóm 1

TB ± ĐLC (KGT)

Nhóm 2

TB ± ĐLC (KGT)

p*

Chỉ số Schirmer lúc chưa điều trị (mm)

7,7 ± 4,6 (2-25)

9,6 ± 7,9 (1-35) Chỉ số Schirmer lúc điều

trị 2 tháng (mm)

10,7 ± 2,8 (6-18)

11,6 ± 3,9 (4-22) Chỉ số Schirmer lúc điều

trị 4 tháng (mm)

12,1 ± 2,8 (7-19)

12,9 ± 3,9 (6-23)

0,21

Từ viết tắt: TB-trung bình, ĐLC - độ lệch chuẩn, KGT-khoảng giá trị, mm-millimet *:phép kiểm ANOVA lập lại hai chiều

Kết quả phân tích cho thấy cả hai loại thuốc đều có hiệu quả thời gian tức là làm tăng chỉ số Schirmer ở bệnh nhân theo thời gian điều trị (p < 0,001) Về hiệu quả điều trị, cyclosporin 0,05% và nước mắt nhân tạo có hiệu quả như nhau trong việc làm tăng chỉ số Schirmer ở bệnh nhân (p = 0,21) Kết quả phân tích hiệu quả điều trị theo thời gian cho thấy ở cả hai giai đoạn điều trị (chưa điều trị - điều trị 2 tháng, điều trị 2 tháng – điều trị 4 tháng) cả hai loại thuốc đều có hiệu quả điều trị không khác biệt (p = 0,39 và p = 0,96)

Trang 8

Bảng 8 Sự thay đổi chỉ số TBUT theo thời gian điều

trị ở hai nhóm

Chỉ số TBUT Nhóm 1

TB ± ĐLC (KGT)

Nhóm 2

TB ± ĐLC (KGT)

p*

Chỉ số TBUT lúc

chưa điều trị (s)

3,7 ± 1,5 (1-7) 4,1 ± 1,3 (1-7) Chỉ số TBUT lúc

điều trị 2 tháng (s)

7,7 ± 1,5 (5-10) 9,3 ± 1,2

(7-12) Chỉ số TBUT lúc

điều trị 4 tháng (s)

8,5 ± 1,6 (5-11) 10,4 ± 1,4

(9-14)

< 0,001

Từ viết tắt: TB-trung bình, ĐLC - độ lệch chuẩn,

KGT-khoảng giá trị, s-giây *:phép kiểm ANOVA lập lại hai chiều

Khi so sánh hiệu quả về thời gian của

cyclosporin 0,05% và nước mắt trong việc cải

thiện chỉ số TBUT, chúng tôi nhận thấy cả hai

điều có hiệu quả làm tăng chỉ số TBUT theo thời

gian điều trị Khi so sánh hiệu quả điều trị,

cyclosporin 0,05% có hiệu quả điều trị tốt hơn,

tức làm tăng chỉ số TBUT của bệnh nhân cao hơn

có ý nghĩa thống kê so với nước mắt nhân tạo (p

< 0,01) Về hiệu quả điều trị theo thời gian,

cyclosporin 0,05% đều có hiệu quả tốt hơn nước

mắt nhân tạo ở cả hai giai đoạn (p < 0,001) Kết

quả này cũng phản ánh đúng với bản chất cơ chế

tác động của cyclosporin 0,05% và nước mắt

nhân tạo

Điểm mạnh của đề tài

Mặc dù điều trị khô mắt bằng cyclosporin

0,05% không mới, nhưng dùng cyclosporin

0,05% điều trị khô mắt trong BHMLQTG là một

ý tưởng mới chưa được thử nghiệm ở Việt Nam

Đây là một nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng

ngẫu nhiên có nhóm chứng so sánh vì vậy kết

quả thu được có độ tin cậy cao

Điểm hạn chế của đề tài

Nghiên cứu có cỡ mẫu nhỏ, do đó việc suy

diễn kết quả cho toàn bộ dân số nghiên cứu có

thể không chính xác

Trong việc đo lường chỉ số OSDI, chúng tôi

sử dụng bộ câu hỏi OSDI phiên bản tiếng Anh

dịch sang tiếng Việt chính vì vậy khi áp dụng bộ

câu hỏi cho các bệnh nhân đến khám tại bệnh

viện Mắt thành phố Hồ Chí Minh có thể cho kết

quả không chính xác vì bệnh nhân có thể hiểu sai hoặc hiểu không rõ ý nghĩa câu hỏi

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

Sử dụng nước mắt nhân tạo trong vòng 2 tháng điều trị đã mang lại hiệu quả cải thiện cao Nếu tiếp tục sử dụng nước mắt nhân tạo để điều trị khô mắt thì vẫn có hiệu quả cải thiện chỉ số Schirmer, TBUT và OSDI nhưng hiệu quả này không cao như hai tháng điều trị ban đầu

Sử dụng cyclosporin 0,05% trong vòng 2 tháng đầu điều trị đã mang lại hiệu quả cải thiện cao Nếu tiếp tục sử dụng cyclosporin 0,05% để điều trị khô mắt thì vẫn có hiệu quả cải thiện chỉ

số Schirmer, TBUT và OSDI nhưng hiệu quả này không cao như hai tháng điều trị ban đầu Cyclosporin 0,05% và nước mắt nhân tạo có hiệu quả cải thiện chỉ số OSDI giống nhau (p = 0,09) Cả hai loại thuốc đều cùng cải thiện chỉ số OSDI theo thời gian điều trị

Cyclosporin 0,05% và nước mắt nhân tạo có hiệu quả cải thiện chỉ số Schirmer giống nhau (p

= 0,29) Cả hai loại thuốc đều cùng cải thiện chỉ

số Schirmer theo thời gian điều trị

Cyclosporin 0,05% có hiệu quả cải thiện chỉ

số TBUT tốt hơn so với nước mắt nhân tạo theo thời gian điều trị (p < 0,001)

Với kết quả như trên, chúng tôi đưa ra một

số đề xuất như sau:

Tiếp tục sử dụng nước mắt nhân tạo và cyclosporin 0,05% là thuốc điều trị đặc hiệu khô mắt trong BHMLQTG tại các bệnh viện mắt hoặc các chuyên khoa mắt của các bệnh viện trên địa bàn thành phố

Đối với các bệnh nhân có tình trạng khô mắt nặng thì nên điều trị bằng cyclosporin 0,05% vì cyclosporin 0,05% có hiệu quả tốt hơn nước mắt nhân tạo trong việc cải thiện chỉ số TBUT, mà TBUT chính là chỉ số chính phản ánh sự ổn định của phim nước mắt

Cần tiến hành các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng so sánh

Trang 9

để từ đó có thể làm rõ thêm hiệu quả của

cyclosporin 0,05% trong điều trị khô mắt ở bệnh

nhân BHMLQTG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Altiparmak UE, Acar DE, Ozer PA, Emec SD, Kasim R, Ustun

H, Duman S (2010) "Topical cyclosporine A for the dry eye

findings of thyroid orbitopathy patients" Eye, 24, 1044–1050

2 Aragona P, Di Stefano G, Ferreri F, Spinella R, Stilo A (2002)

"Sodium hyaluronate eye drops of different osmolarity for the

treatment of dry eye in Sjögren’s syndrome patients" Br J

Ophthalmol, 86, 879–884

3 Bartley GB, Fatourechi V, Kadrmas EF, et al (1996) "Chronology

of Graves’ ophthalmopathy in an incidence cohort" Am J

Ophthalmol, 1996, 121, 426-434

4 Bartley GB, Fatourechi V, Kadrmas EF, Jacobsen SJ, Ilstrup DM, Garrity JA, et al (1995) "The incidence of Graves'

ophthalmopathy in Olmsted County, Minnesota" Am J

Ophthalmol, Oct 1995, 120, (4), 511-7

5 Canan G, İpek G, Özge S, İpek GO, Tamer T, İzzet C (2010)

"Topical Cyclosporine in Thyroid Orbitopathy-Related Dry Eye: Clinical Findings, Conjunctival Epithelial Apoptosis, and

MMP-9 Expression" Current Eye Research, 35, (9), 771–777

6 Vikram DD, et al (2006) "Clinical Features and Treatment of

Graves Ophthalmopathy in Pediatric Patients Ophthalmic

Plastic and Reconstructive Surgery, 22, (1), pp 7–12

Ngày đăng: 21/01/2020, 19:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w