1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiện tượng kháng có liên quan đến tiến trình chậm làm sạch ký sinh trùng plasmodium falciparum sau điều trị thuốc dihydroartemisinin‐piperaquine tại một vùng sốt rét lưu hành có giao lưu

6 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 410,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm đánh giá hiệu lực thuốc phối hợp dihydroartemisinin‐piperaquine (DHA‐PPQ) trong điều trị sốt rét do P. falciparum chưa biến chứng. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

 CHẬM LÀM SẠCH KÝ SINH TRÙNG PLASMODIUM FALCIPARUM 

SAU ĐIỀU TRỊ THUỐC DIHYDROARTEMISININ‐PIPERAQUINE   TẠI MỘT VÙNG SỐT RÉT LƯU HÀNH CÓ GIAO LƯU BIÊN GIỚI 

CAMPUCHIA, 2013 

Huỳnh Hồng Quang*, Nguyễn Văn Chương* 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Sốt rét (SR) hiện vẫn là vấn đề y tế công cộng tại các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, kể cả Việt 

Nam. Sự xuất hiện kháng thuốc artemisinins do Plasmodium falciparumtại Campuchia, Thái Lan, Việt Nam và  Mianma gần đây có thể đe dọa chiến lược loại trừ và các thành quả vốn đạt được trong phòng chống sốt rét.  

Mục  tiêu:  Nghiên cứu tiến hành nhằm đánh giá hiệu lực thuốc phối hợp dihydroartemisinin‐piperaquine 

(DHA‐PPQ) trong điều trị sốt rét do P. falciparum chưa biến chứng.  

Phương pháp: Thiết kế thử nghiệm lâm sàng không ngẫu nhiên, tự chứng đánh giá hiệu lực theo phân loại 

của Tổ chức Y tế thế giới: Đáp ứng lâm sàng và ký sinh trùng đầy đủ (ACPR), thất bại điều trị sớm (ETF), thất  bại lâm sàng muộn (LCF), thất bại ký sinh trùng muộn (LPF) và tỷ lệ ký sinh trùng dương tính ngày D 3  như  một chỉ điểm kháng thuốc.  

Kết quả: Toàn bộ dữ liệu cho thấy tỷ lệ chữa khỏi của DHA‐PPQ là 100%, không có ca thất bại điều trị sớm 

(ETF), thất bại lâm sàng muộn (LCF) và thất bại ký sinh trùng muộn (LPF). Đặc biệt, tỷ lệ tồn tại ký sinh trùng  ngày D 3  là 26,1% như một chỉ điểm nguy cơ kháng thuốc cao (thông qua đường cong làm sạch ký sinh trùng).  

Kết luận: Hiệu lực thuốc DHA‐PPQ rất cao, lý tưởng cho điều trị sốt rét do P. falciparum, nhưng sự làm 

sạch ký sinh trùng chậm đáng kể sau điều trị DHA‐PPQ, cho thấy hoặc là đã xuất hiện kháng thuốc DHA‐PPQ  tại điểm Đăk Nông, hoặc lan rộng kháng thuốc đến điểm này từ nguồn biên giới Campuchia. Phác đồ thuốc này  cần phải giám sát hiệu lực để có thay đổi chính sách thuốc tốt hơn. Điều này cho thấy cần có những nỗ lực ngăn  chặn kháng theo Hướng dẫn của Mạng lưới kháng thuốc sốt rét toàn cầu.  

Từ khóa: Plasmodium falciparum, kháng thuốc, hiệu lực. 

ABSTRACT 

DRUG RESISTANCE ASSOCIATED WITH DELAYED CLEARANCE OF PLASMODIUM 

FALCIPARUM FOLLOWING DIHYDROARTEMISININ‐PIPERAQUINE TREATMENT  

IN MALARIAL ENDEMIC ZONE IN THE VIETNAM‐CAMBODIA BORDER, 2013 

Huynh Hong Quang, Nguyen Van Chuong  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 247 ‐ 252 

Background:  Malaria  in  the  tropics  and  subtropics  regions,  including  Vietnam,  remains  a  public  health 

problem. The recent emergence of artemisinin resistant Plasmodium falciparum malaria in Cambodia, Thailand,  Vietnam, and Myanmar (WHO, 2013) could threaten the prospects of malaria elimination and the achievements 

in malaria control program.  

Objectives:  The  study  aims  to  determine  whether  the  efficacy  of  dihydroartemisinin‐piperaquine  (DHA‐

* Viện Sốt rét KST‐CT Quy Nhơn 

Tác giả liên lạc: Ts. Huỳnh Hồng Quang    ĐT: 0905103496  Email: huynhquangimpe@yahoo.com 

Trang 2

PPQ) for the treatment of patients with uncomplicated P. falciparum malaria in an endemic zone on the Vietnam‐ Cambodia border.  

Methods:  A  non‐randomized  controlled  clinical  trial  of  in  vivo  was  applied.  Outcome  of  treatment  was 

defined  according  to  WHO  classification,  including  primary  outcome  of  ACPR  (Adequate  clinical  and  parasitological  response),  ETF  (Early  treatment  failure),  LTF  (Late  treatment  failure,  including  LPF_Late  parasitological failure and LCF_Late clinical treatment) and secondary outcome of proportion of positive asexual  parasite on day 3 as an indirect clinical resistant marker.  

Results: The overall data showed that the cure rate of DHA‐PPQ was 100% in Daknong sentinel, without 

case  in  ETF, LCF,  and  LPF.  Particularly,  with  26.1%  positive  parasite  on  or  after  D 3   after  commencement  of  ACTs treatment as indirect clinical marker for resistance high risk (by parasite clearance slope).  

Conclusion:  DHA‐PPQ  was  efficacious  and  it  seemed  as  a  potential  candidate  for  first‐line  treatment  of 

uncomplicated P. falciparum malaria. Delayed Plasmodium falciparum clearance following DHA‐PPQ treatment  suggested the emergence of DHA‐PPQ resistance in Daknong, Vietnam or the spread of it from Cambodia to this  location. Therefore, the efforts to prevent resistance according to the Worldwide Antimalarial Resistance Network 

guidelines are needed.  

Key words: Plasmodium falciparum, drug resistance, efficacy 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Sốt  rét  ‐  bệnh truyền  nhiễm  tiếp tục đe dọa 

đến nhân loại với gánh nặng bệnh tật và tử vong 

cao hàng năm. Thành công của phòng chống sốt 

rét  không  thể  không  kể  đến  sự  đóng  góp  quan 

trọng  của  thuốc  có  hiệu  lực  cao(7).  Thuốc  phối 

hợp  có  gốc  artemisinin  (ACTs_artemisinin 

combination therapies) là lựa chọn đầu tay trong 

điều  trị  SR  do  Plasmodium  falciparum  đa  kháng 

thuốc, góp phần giảm đi con số tử vong và tỷ lệ 

chuyển sang sốt rét ác tính đáng kể do đặc tính 

thuốc  tác  động  nhanh  trên  thể  vô  tính  và  phân 

liệt. Song, gần đây xuất hiện chủng P. falciparum 

kháng thuốc artemisinine tại các vùng biên giới 

Việt Nam ‐ Campuchia ‐ Thái Lan ‐ Mianma như 

một mối đe dọa quan trọng(7), có thể làm thất bại 

nhiều  thành  quả  đạt  được  trước  đây  và  sẽ  là 

thách  thức  lớn  trong  quản  lý  ca  bệnh  do  thuốc 

mới  và  vắc‐xin  vẫn  còn  đang  trong  giai  đoạn 

nghiên cứu.  

Nhiều kinh nghiệm cho thấy kháng thuốc sẽ 

dẫn đến rút ngắn tuổi thọ thuốc, nếu không áp 

dụng  các  biện  pháp  ngăn  chặn  thì  việc  đầu  tư 

phát triển thuốc mới là vô nghĩa. Việt Nam chia 

sẻ  một  dải  dài  biên  giới  Campuchia  –  quốc  gia 

tập  trung  chủng  P. falciparum  đa  kháng,  nên  sẽ 

có “cơ hội” chia sẻ và lan rộng động lực kháng 

thuốc  sớm.  Do  vậy,  việc  nghiên  cứu  phát  hiện  sớm  thực  trạng  nhạy  kháng  thuốc  là  cần  thiết  nhằm thay đổi chính sách thuốc quốc gia(1,2). Đề  tài này tiến hành nhằm mục tiêu đánh giá hiệu  lực  thuốc  phối  hợp  dihydroartemisinin‐

piperaquine trong điều trị sốt rét do P. falciparum 

chưa biến chứng. 

ĐỐI  TƯỢNG ‐  PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Địa điểm và thời gian 

Địa điểm: xã Đăk Drong và Cư Knia, huyện 

Cư Jut, tỉnh Đăk Nông;  

Thời gian: từ tháng 3/2013 ‐ 12/2013. 

Thiết kế nghiên cứu 

Thử nghiệm lâm sàng không ngẫu nhiên, tự  chứng  theo  đề  cương  Mạng  lưới  kháng  thuốc  toàn cầu (WWARN, 2012)(6). 

Cỡ mẫu 

Trong  nghiên  cứu  này,  tỷ  lệ  thất  bại  thuốc  phối hợp DHA‐PPQ theo một nghiên cứu trước  đây là 10%, thì tỷ lệ thất bại lâm sàng quần thể  ước  tính  là  p  (10%),  CI:  95%,  độ  chính  xác  (d):  10%.  Khi  đó  cỡ  mẫu  tối  thiểu  cần  nghiên  cứu  đánh giá: n  50 bệnh nhân. 

Trang 3

Tiêu chuẩn chọn bệnh và loại trừ (5,6) 

Tiêu chuẩn chọn 

Các bệnh nhân tuổi từ 15 trở lên đến dưới 70 

tuổi,  nhiễm  đơn  loài  P.  falciparum,  mật  độ  ký 

sinh  trùng  sốt  rét  (KSTSR)  thể  vô  tính  P. 

falciparum  trong  máu  từ  1.000  ‐  100.000/μl  máu, 

nhiệt  độ  nách  hoặc  tai  ≥  37,5°C  hoặc  nhiệt  độ 

dưới lưỡi/ đại tràng ≥ 38°C, chưa dùng một loại 

thuốc SR nào (kiểm tra qua thử nước tiểu), bệnh 

nhân,  hoặc  người  thân,  hoặc  giám  hộ  đồng  ý 

hợp tác nghiên cứu. 

Tiêu chuẩn loại 

Phụ nữ đang có thai, hoặc đang cho con bú, 

người  đang  có  bệnh  rối  loạn  tâm  thần  kinh, 

động kinh, nôn mửa, tiêu chảy trầm trọng hoặc 

thể  trạng  không  hấp  thu  được  thuốc,  sốt  rét  có  biến chứng hoặc mắc các bệnh nhiễm trùng phối 

hợp.  Nhiễm  sốt  rét  phối  hợp  P.  falciparum  +  P. 

vivax  hoặc  loài  khác,  bệnh  nhân  đã  dùng  TSR 

hoặc kháng sinh có hoạt tính chống sốt rét trong 

48 giờ trước đó. 

Phân tích và xử lý số liệu 

Kết quả nghiên cứu thu thập được tổng hợp, 

phân tích và xử lý theo phần mềm in vivo phiên 

bản 7.1 Pascal Ringwald, TCYTTG (2009). 

Thời  gian  sạch  KSTSR  (được  định  nghĩa  là  khoảng thời gian tính bằng giờ kể từ liều điều trị  đầu  tiên  cho  đến  khi  xét  nghiệm  có  2  lam  máu 

liên tiếp âm tính với thể vô tính P. falciparum). 

Đánh giá về mặt hiệu lực theo Tổ chức Y tế thế giới (2009) 

Bảng 1: Phân loại kết quả về đánh giá hiệu lực thuốc (TCYTTG, 2009) 

Phân loại đánh giá hiệu quả điều trị theo tiêu chuẩn TCYTTG (2009)

Thất bại điều trị sớm

(ETF_Early Treatment Failure)

Xuất hiện các dấu chứng của sốt rét nguy hiểm hoặc nghiêm trọng vào ngày D 1 , xuất hiện D 2

hoặc D 3 , kèm có mặt KSTSR trong máu KSTSR vào ngày D 2 cao hơn D 0 bất kể thân nhiệt Xuất hiện KSTSR trong máu vào ngày D 3 đi kèm thân nhiệt ≥ 37,5ºC KSTSR trong máu vào ngày D 3 ≥ 25% so với mật độ KSTSR ngày D 0

Thất bại điều trị muộn

(LTF_Late Treatment Failure), (LCF_Late Clinical Failure) Thất bại lâm sàng muộn Xuất hiện các dấu chứng sốt rét nặng và nguy hiểm vào bất kỳ ngày nào từ D 4 đến D 42 với sự có mặt của KSTSR trong máu,

không có tiêu chuẩn nào của ETF trước đó

Có mặt KSTSR trong máu và thân nhiệt ≥ 37,5ºC hoặc có tiền sử sốt trong vùng sốt rét lan truyền thấp đến trung bình ở bất kỳ ngày nào từ D 4 đến D 42 , không có bất kỳ dấu hiệu nào của ETF trước

đó

Thất bại ký sinh trùng muộn (LPF_Late Parasitological

Failure)

Có mặt KSTSR trong máu vào bất kỳ ngày nào từ D 7 đến D 42 và thân nhiệt < 37,5ºC, không có bất kỳ tiêu chuẩn nào của ETF và

LCF trước đó

Đáp ứng lâm sàng, KST đầy đủ

(ACPR_Adequate Clinical and

Parasitological Response)

- Không có xuất hiện KSTSR trong máu vào D 42 , bất luận nhiệt độ nách thế nào và không có

bất kỳ tiêu chuẩn nào của ETF, LCF và LPF trước đó

KẾT QUẢ 

Đặc  điểm  chung  về  lâm  sàng  và  cận  lâm 

sàng nhóm bệnh nhân nghiên cứu. 

Về mặt lâm sàng, phần lớn số ca có sốt hoặc 

có  tiền  sử  bị  sốt  trong  48  giờ  trước  khi  vào 

nghiên cứu, lần lượt 58,7% và 34,8%; thân nhiệt 

trung bình là 38,20C. Số ngày có sốt trung bình là 

2,5 ngày. Số ca có lách lớn chủ yếu là độ I và độ 

II chiếm 26,1%. Mật độ thể vô tính trung bình P. 

falciparum là 26.274/ L máu, số ca có giao bào là 

8,7%. 

Bảng 2: Đặc điểm lâm sàng và ký sinh trùng trên 

bệnh nhân nghiên cứu 

Đặc điểm nhóm bệnh nhân Thời điểm bắt đầu nghiên cứu n (%)

Thân nhiệt ( 0 C)

- Số bệnh nhân có sốt trên 37,50C 27 (58,7%)

- Số ca có sốt trong vòng 48 giờ 16 (34,8%)

- Không có tiền sử/ hoặc sốt hiện tại 3 (6,5%)

Trang 4

Đặc điểm nhóm bệnh nhân Thời điểm bắt đầu nghiên cứu n (%)

- Số ngày có sốt trung bình trước

D 0

2,5 (ngày)

Tình trạng lách

Mật độ thể vô tính P falciparum

- Mật độ KSTSR thể vô tính/L (TB

± ĐLC)

26.274

- Số bệnh nhân có giao bào ngày

D 0

4 (8,7%)

Hiệu  lực  phác  đồ  DHA‐PPQ  trong  điều  trị 

bệnh nhân sốt rét do P. falciparum 

Hiệu lực phác đồ thuốc Dihydroartemisinine ‐ 

piperaquine phosphate 

Bảng 3: Phân loại hiệu lực phác đồ DHA‐PPQ đối 

với sốt rét P. falciparum 

Chỉ số đánh giá Số lượng Tỷ lệ (%)

Tổng số nghiên cứu 46

Nhận xét: phân tích 46 trường hợp, có 1 ca rút 

khỏi nghiên cứu  và 12  ca mất  theo dõi từ ngày 

D4  trở  đi.  Tỷ  lệ  đáp  ứng  lâm  sàng  và  ký  sinh 

trùng  đầy  đủ  là  tuyệt  đối  100%  trong  số  33  ca 

phân  tích  đến  42  ngày,  chưa  phát  hiện  ca  nào 

thất bại điều trị.  

Hiệu lực làm sạch ký sinh trùng và cắt sốt của 

thuốc DHA‐PPQ 

Bảng 4: Hiệu lực cắt sốt và làm sạch KSTSR P. 

falciparum của DHA‐PPQ 

Kết quả phân tích Thông số thời

gian(giá trị trung bình) Tổng số ca phân tích (n = 46)

Số ngày sốt TB trước nghiên cứu 2,5 ± 1,5 ngày

Mật độ KSTSR trung bình ngày D 0 26.274/L (12.121 - 49.862)

Thời gian sạch KSTSR trung bình

Nhiệt độ cơ thể TB ngày Do 38,2 0 C (36,2 - 40,5)

Thời gian cắt sốt trung bình (FCT) 30,7 giờ (29,0-32,4)

Nhận  xét:  với  46  ca  phân  tích  hiệu  lực  làm 

sạch  KSTSR  và  cải  thiện  sốt  cho  thấy  thời  gian  cắt  sốt  trung  bình  là  30  giờ;  thời  gian  làm  sạch  KST trong 36 giờ. 

Bảng 5: Số ca tồn tại KSTSR P. falciparum sau 3 

ngày điều trị 

Kết quả phân tích Giá trị các thông số

Số trường hợp tồn tại KSTSR

ngày D 3

Số trường hợp còn tồn tại KSTSR

sau D 3

1 2,17% Vô tính +

giao bào

Nhận  xét:  Số  liệu  có  12/46  ca  sau  điều  trị 

thuốc  DHA‐PPQ  liệu  trình  3  ngày  vẫn  còn  tồn 

tại  thể  vô  tính  P. falciparum  và  1  ca  còn  tồn  tại 

đến ngày D4 và sang D5 mới sạch hoàn toàn.  

Bảng 6: Tỷ lệ tồn tại ký sinh trùng thể vô tính P. 

falciparum sau điều trị 3 ngày 

Mã bệnh nhân Diễn tiến làm sạch KSTSR

P falciparum

STT Code Tuổi D 0 D 1 D 2 D 3 D 4 D 5

Phác đồ DHA-PPQ (Arterakine)

3 08DNAK 45 15.450 5.228 459 28 0 0

MĐKSTSRtrung bình

D 0 /L 34.170 11.882 814 105 2 0

Sự  tồn  tại  và  giảm  dần  mật  độ  KSTSR  theo  từng ngày qua mỗi 24 giờ đã giảm dần, không có  phản ứng tăng KSTSR sau điều trị, nhất là ngày 

D1, song tốc độ giảm chậm. Tính trung bình, mật 

độ  KSTSR  thể  vô  tính  giảm  theo  từng  ngày  34.170    11.882    814    105    2    0/  mm3  máu  ngoại  vi  (từ  ngày  D0   D1   D2   D3   ngày D4). 

Trang 5

Đặc điểm chung về lâm sàng và ký sinh trùng 

trên nhóm nghiên cứu 

Về mặt lâm sàng, nhóm bệnh nhân đưa vào 

nghiên  cứu,  phần  lớn  có  biểu  hiện  sốt  hiện  tại 

hoặc/ và có tiền sử bị sốt trong vòng 48 giờ trước 

khi  đưa  vào  nghiên  cứu.  Số  bệnh  nhân  có  sốt 

trên 37,50C hiện tại là 27 ca (58,7%), số ca có tiền 

sử  sốt  trong  vòng  48  giờ  qua  là  16  (34,8%)  và 

thân  nhiệt  trung  bình  của  bệnh  nhân  là  38,20C. 

Số ngày có sốt trung bình trước khi điều trị là 2,5 

ngày,  điều  này  cho  thấy  sự  tiếp  cận  của  bệnh 

nhân với cơ sở y tế vẫn còn chậm, dễ dẫn đến sốt 

rét ác tính nếu không can thiệp kịp thời. Số bệnh 

nhân  có  lách  lớn  chủ  yếu  là  lách  độ  I  và  độ  II 

chiếm 26,1% và số ca có lách trong giới hạn bình 

thường là 73,9%, chưa phát hiện bệnh nhân nào 

cắt lách, kể cả qua siêu âm bụng kiểm tra.  

Liên  quan  đến  KSTSR  thể  vô  tính  P. 

falciparum, mật độ trung bình của thể vô tính là 

26.274/  L  máu  ngoại  vi,  số  bệnh  nhân  có  giao 

bào  là  4  trường  hợp  (8,7%)  với  mật  độ  trung 

bình của giao bào thấp chỉ là 25 (6 ‐ 44), cho thấy 

mật độ như thế là lý tưởng trong đánh giá hiệu 

lực trên thử nghiệm in vivo và ở đây chỉ số giao 

bào chỉ là thông số mô tả chứ không nhằm mục 

đích  đánh  giá  hiệu  lực  của  nó  trong  việc  làm 

sạch  giao  bào  vì  bản  thân  thuốc  DHA‐PPQ 

không giết giao bào.  

Hiệu lực phác đồ DHA‐PPQ trong điều trị SR 

do P. falciparum 

Qua  phân  tích  đánh  giá  46  trường  hợp  P. 

falciparum  chưa  biến  chứng  điều  trị  bằng  thuốc 

phối  hợp  arterakine,  liệu  trình  3  ngày.  Số  liệu 

cũng cho thấy có 1 ca rút khỏi nghiên cứu và 12 

trường hợp mất theo dõi từ ngày D4 trở đi, điều 

này cho thấy các nghiên cứu in vivo hiện nay rất 

khó khăn trong vấn đề theo dõi đủ liệu trình cần 

thiết tối thiểu. Tỷ lệ đáp ứng lâm sàng và ký sinh 

trùng đầy đủ cao, tuyệt đối 100% trong số 33 ca 

phân  tích  đủ  liệu  trình  đến  42  ngày,  chưa  phát 

hiện ca nào thất bại điều trị sớm (ETF), thất bại 

lâm sàng muộn (LCF) hay thất bại ký sinh trùng  muộn (LPF).  

Vì tất cả 46 ca đều theo dõi được đến D4, sau 

đó mới có 12 ca mất theo dõi nên tất cả đều đưa  vào phân tích hiệu lực làm sạch KSTSR và cắt sốt  đầy  đủ.  Với  46  trường  hợp  phân  tích  hiệu  lực  làm sạch KSTSR và cắt sốt, cải thiện triệu chứng  lâm sàng cho thấy số ngày trung bình bệnh nhân 

có sốt ở nhà là 2,5 ± 1,5 ngày, thân nhiệt ngày Do 

là 38,20C và sau khi dùng thuốc, có thời gian cắt  sốt  khoảng  30  giờ.  Đồng  thời  mật  độ  KSTSR  ngày D0 chỉ 28.244/ L, sau đó hiệu lực làm sạch  KST trong 36 giờ, nghĩa là chưa đến 2 ngày.  Trong số 46 ca, có đến 12 ca sau điều trị liều  thuốc đặc hiệu DHA‐PPQ đầu tiên kéo dài liệu 

trình  3  ngày  vẫn  còn  tồn  tại  thể  vô  tính  của  P. 

falciparum với nhiều mức độ khác nhau và trong 

số đó có 1 ca còn tồn tại thể vô tính đến ngày D4 

và sang ngày D5 mới sạch hoàn toàn thể vô tính  (ở đây không đánh giá sự làm sạch giao bào). Sự  tồn tại và giảm dần của mật độ KSTSR theo từng  ngày qua mỗi 24 giờ, không có ca nào phản ứng  tăng  KSTSR  sau  điều  trị,  nhất  là  từ  D0  chuyển  sang ngày D1, song tốc độ giảm chậm đến ngày 

D3.  Tính  trung  bình  chung,  cho  thấy  mật  độ  KSTSR thể vô tính giảm của các bệnh nhân giảm  theo từng ngày từ D0 đến D4 như sau: 34.170   11.882  814  105  2  0/ mm3 máu ngoại vi  (từ  ngày  D0   D1   D2   D3   ngày  D4).  Điều  này  chỉ  ra  một  nguy  cơ  cao  phát  triển  kháng  thuốc  do  áp  lực  thuốc  trong  vùng  này  (tại  chỗ)  hoặc  có  nguồn  gốc  từ  chủng  ký  sinh  trùng  Campuchia sang. 

Thử nghiệm in vivo về hiệu lực DHA‐PPQ là 

hỗ trợ cho các kết quả dựa trên chứng cứ nhằm  thay đổi chính sách thuốc tại Việt Nam. Số liệu ở  đây  chỉ  ra  thuốc  DHA‐PPQ  đang  sử  dụng  tại  Việt Nam như lựa chọn ưu tiên có hiệu lực cao 

và  dung  nạp  tốt.  Theo  định  nghĩa  của  Chương  trình  sốt  rét  toàn  cầu  của  Tổ  chức  Y  tế  thế  giới  (WHO/Global  Malaria  Programme)  và  Mạng  lưới  kháng  thuốc  sốt  rét  toàn  cầu  (World  wide  antimalarial  drug  resistance 

Trang 6

Network_WWARN)  định  nghĩa  sự  tồn  tại  ký 

sinh  trùng  dương  tính  ngày  D3  như  một  chỉ 

điểm  lâm  sàng  gián  tiếp  kháng  thuốc  (WHO, 

2011).  Hơn  nữa,  gần  đây  TCYTTG  đã  sử  dụng 

một định nghĩa: (i) Một sự gia tăng thời gian làm 

sạch ký sinh trùng khi bằng chứng có hơn 10% 

số  ca  còn  tồn  tại  ký  sinh  trùng  ở  ngày  D3  sau 

điều trị ACTs (nghi ngờ kháng); hoặc (ii) Một sự 

thất bại điều trị có bằng chứng có tồn tại ký sinh 

trùng  ngày  D3 và  hoặc  có  tồn  tại  ký  sinh  trùng 

vào D7 hoặc tái phát lại sau ngày D7 trong vòng 

42 ngày theo dõi, sau điều trị cùng với nồng độ 

thuốc trong máu đủ (xác định kháng). Như thế, 

trong  phân  tích  này,  tỷ  lệ  ký  sinh  trùng  dương 

tính  vào  ngày  D3  ≈  21,6%  (>  10%),  do  thiếu  dữ 

liệu phân tích về mặt dược động học cũng như 

gen học để xác định các locus kháng nên những 

ca  này  còn  khẳng  định  các  đột  biến  sau  khi  có 

kết quả phân tích từ TCYTTG(8,4).  

Trong  nghiên  cứu  này  chưa  phát  hiện  ca 

nào tồn tại thể vô tính sau 72 giờ có liên quan 

đến  bất  thường  lách,  nên  có  thể  do  một  lý  do 

khác,  chẳng  hạn  dung  nạp  ký  sinh  trùng 

chăng?  Vì  trường  hợp  thất  bại  điều  trị  có  liên 

quan đến lách bất thường nên có thể khiến cho 

quá trình chậm làm sạch ký sinh trùng vì lách 

vốn  dĩ  là  “mồ  chôn”  các  hồng  cầu  nhiễm  và 

không nhiễm. Điều này có thể phù hợp với các 

nghiên cứu trước đây bởi Teuscher (2010) cho 

thấy sau điều trị với artesunate – dẫn suất của 

artemisinins, các thể nhẫn của P. falciparum trở 

nên  “ngủ”  và  khoảng  0,001–1,313%  số  ca  hồi 

phục  phát  triển  tùy  thuộc  vào  chủng  và  liều 

thuốc. Hơn nữa, trong sốt rét, các hồng cầu bị 

ký  sinh  nhưng  thực  tế  không  chứa  KST  tìm 

thấy  trong  hệ  thống  tuần  hoàn.  Điều  này  có 

thể  có  sự  gia  tăng  nhờ  vào  sự  loại  bỏ  do  lách 

với  các  KST  trong  hồng  cầu  bị  tổn  thương  và 

nhìn thấy phần lớn hồng cầu nguyên vẹn. 

KẾT LUẬN 

Với hiệu lực DHA‐PPQ hiện đang như một 

thuốc ưu tiên trong điều trị SR do P.falciparum là 

tuyệt đối 100%, nhưng sự tồn tại KST thể vô tính 

ở thời điểm sau 72 giờ (ngày D3) cao (26,1%) sau  điều  trị  DHA‐PPQ  như  một  chỉ  điểm  kháng  thuốc cao. Do vậy, việc cần thiết là nỗ lực giám  sát  thường  quy  hiệu  lực  thuốc  tại  vùng  SRLH  như ở Đăk Nông để sớm cảnh báo về tình trạng  kháng thuốc cũng như thay đổi chính sách thuốc  theo từng giai đoạn. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Huỳnh Hồng Quang, Triệu Nguyên Trung và cs. (2011). Hiệu  lực  thuốc  sốt  rét  phối  hợp  Arterakine  và  Artequick‐

primaquine  trong  điều  trị  sốt  rét  P.  falciparum  chưa  biến 

chứng: Một nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng thăm dò liều tại 

Gia Lai. 2010”. Tạp chí y học thực hành. 796. 125‐133. 

2 Huỳnh  Hồng  Quang,  Triệu  Nguyên  Trung,  Li  Guoqiao  và  cs.(2008).Đánh  giá  hiệu  lực  các  thuốc  phối  hợp  có  gốc 

artemisinine  (ACTs)  trong  điều  trị  sốt  rét  do  P.  falciparum 

chưa  biến  chứng  tại  vùng  SRLH.  miền  Trung‐Tây  Nguyên. 

Việt Nam (2004‐2008). Tạp chí y học TP. Hồ Chí Minh. 12(4)28‐

34. 

Jacob  CG,  et  al  (2013).  Genetic  loci  associated  with  delayed  clearance  of  Plasmodium  falciparum  following  artemisinin  treatment in Southeast Asia. PNAS. 110(1) 240‐245. 

4 Valecha  N, et al.  (2010).  An  open‐label.  randomised  study  of 

dihydroartemisinin‐piperaquine  versus  artesunate  + 

mefloquine  for  falciparum  malaria  in  Asia.  PLoS  ONE  5(7): 

e11880. 

5 WHO  (2010).  Global  report  antimalarial  drugs  efficacy  and 

drugs resistance 2000‐2010. Geneva. Pp. 34‐78. 

6 WHO (2011). Methods and technique for assessing exposure 

to  antimalarial  drugs  in  clinical  field  studies.  Informal  consultation  organized  by  the  WHO  with  the  technical  supports  of  the  world  wide  antimalarial  resistance  network 

(WWARN). Geneva. Pp. 103‐123. 

7 WHO (2013). Emergency response to artemisinin resistance in  the greater Mekong subregion. Regional framework for action 

2013‐2015. Geneva. Pp. 230‐254. 

8 Zwang J, Ashley EA, Karema C, DʹAlessandro U, et al(2008). 

Safety  and  efficacy  of  Dihydroartemisinin‐Piperaquine  in  falciparum  malaria:  A  prospective  multi  ‐  centre  individual  patient  data  analysis.  PLoS  ONE  4(7):  e6358.  doi:10.1371/journal.pone.0006358. 

Ngày nhận bài báo:       9/5/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   11/6/2014  Ngày bài báo được đăng:     14/11/2014   

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 19:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w