1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thay huyết tương trong điều trị ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối hội chứng urê huyết tán huyết: Nhân ba trường hợp thành công

6 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 271,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được thực hiện với mục tiêu mô tả áp dụng thay huyết tương trong điều trị ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối hội chứng urê huyết tán huyết (thrombotic thrombocytopenic purpura - hemolytic uremic syndrome, TTPHUS).

Trang 1

THAY HUYẾT TƯƠNG TRONG ĐIỀU TRỊ BAN XUẤT HUYẾT

GIẢM TIỂU CẦU HUYẾT KHỐI/HỘI CHỨNG URÊ HUYẾT TÁN HUYẾT:

NHÂN BA TRƯỜNG HỢP THÀNH CÔNG

Nguyễn Minh Tuấn*, Đỗ Chí Thanh*, Nguyễn Thị Mỹ Hương*, Trần Thị Thùy Dương*, Nguyễn Hồng Ánh Mai*, Dương Toàn Trung*, Trần Thanh Tùng**, Lại Thị Thanh Thảo**,

Lê Phước Đậm**, Nguyễn Thành Tâm***

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả áp dụng thay huyết tương trong điều trị ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối-hội

chứng urê huyết tán huyết (Thrombotic thrombocytopenic purpura – hemolytic uremic syndrome, TTP- HUS)

Phương pháp: Báo cáo trường hợp

Kết quả: Ba trường hợp (hai nam, một nữ) được chẩn đoán TTP-HUS nhờ vào giảm tiểu cầu và có mảnh

vỡ hồng cầu trên phết máu ngoại biên, được điều trị thành công bằng thay huyết tương phối hợp với corticoid tĩnh mạch

Kết luận: Thành công của thay huyết tương mở ra triển vọng tốt trong điều trị hội chứng này trong hoàn

cảnh lâm sàng hiện nay

Từ khóa: Thay huyết tương, hội chứng ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối/hội chứng urê huyết tán

huyết

ABSTRACT

PLASMA EXCHANGE IN THE TREATMENT OF THROMBOTIC THROMBOCYTOPENIC PURPURA/HEMOLYTIC UREMIC SYNDROME: THREE SUCCESSFUL CASES

Nguyen Minh Tuan, Do Chi Thanh, Nguyen Thi My Huong, Tran Thi Thuy Duong, Nguyen Hong Anh Mai, Duong Toan Trung, Tran Thanh Tung, Lai Thi Thanh Thao, Le Phuoc Dam,

Nguyen Thanh Tam * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 3 - 2012: 104 - 109

Objective: Describe the clinical use of plasma exchance (PE) in the treatment of thrombotic

thrombocytopenic purpura/hemolytic uremic syndrome (TTP/HUS)

Method: Case report

Result: Three patients (2 men, 1 woman), diagnosed with TTP/HUS due to thrombocytopenia and

schistocytes in peripheral blood smear, were treated successully with PE combined with intravenous corticoid

Conclusion: The success of these case opens up positive perspective in the treatment of this syndrome in our

actual clinical setting

Keywords: Plasma exchange, thrombotic thrombocytopenic purpura-hemolytic uremic syndrome

(TTP-HUS)

* Khoa Thận Nhân Tạo, bệnh viện Chợ Rẫy ** Khoa Huyết Học, bệnh viện Chợ Rẫy

*** Khoa Thận Nhân Tạo, bệnh viện Nguyễn Tri Phương

Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Thị Mỹ Hương ĐT: 0909798743 Email: baohuong9113@yahoo.com

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ban xuất huyết TTP - HUS ở người lớn là

bệnh lý ít gặp nhưng có tầm quan trọng đặc

biệt vì tỉ lệ tử vong cao hơn 90% nếu không

được điều trị chuyên biệt Thay huyết tương

làm giảm tỉ lệ tử vong xuống còn 10-15%

Thành công của phương pháp điều trị tại TP

Hồ Chí Minh đã từng báo cáo ở một trường

hợp TTP - HUS trước đây Trong bài này,

chúng tôi báo cáo thêm ba trường hợp TTP -

HUS được cứu sống thành công nhờ thay

huyết tương

TRÌNH BÀY TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG

Trường hợp 1

Bệnh nhân nam 35 tuổi, ngư dân, không

có tiền căn gì bệnh lý hay dùng thuốc gì, một

tuần ở nhà mệt mỏi, vàng da và mắt, đến

khám tại y tế địa phương thì được phát hiện

thiếu máu và giảm tiểu cầu nên chuyển bệnh

viện Truyền Máu Huyết Học TP Hồ Chí

Minh Tại đây, bệnh nhân được truyền tiểu

cầu Trong lúc truyền tiểu cầu, bệnh nhân lên

cơn co giật nên được chuyển đến BV Chợ Rẫy

Lúc nhập viện, bệnh nhân lơ mơ, co giật 2- 3

lần mỗi ngày, vàng da, vàng mắt sậm, không

xuất huyết da niêm, tiểu khoảng 3000 mL/24

giờ Cận lâm sàng cho thấy tiểu cầu 95 G/L,

Hct 19,3%; LDH 5360 U/L, test Coomb trực

tiếp âm tính; phết máu ngoại biên có nhiều

mảnh vỡ hồng cầu, chức năng thận bình

thường (bảng 1) Bệnh nhân được chẩn đoán

TTP - HUS Bệnh nhân được thay huyết tương

đợt một gồm một lần mỗi ngày trong liên tục

8 ngày kèm methylprednisone 80 mg/ngày,

sau đó nghỉ ba ngày do gặp trục trặc về màng

tách huyết tương, rồi tiếp tục được thay huyết

tương đợt hai gồm một lần mỗi ngày trong

liên tục 4 ngày kèm methylprednisone 250

mg/ngày (bảng 3) Lúc xuất viện, bệnh nhân

tỉnh táo, số lượng tiểu cầu về bình thường và

ổn định (dao động 242 - 359 000 G/L) và LDH

về bình thường (428 U/L)

Trường hợp 2

Bệnh nhân nam 41 tuổi, thợ sửa xe, không

có tiền căn gì bệnh lý hay dùng thuốc gì, một tuần nay bị sốt, đau đầu, xuất huyết da dạng chấm ở hai chân rồi xanh xao dần, tay chân yếu, nôn ói, nói sảng, ngất nên nhập bệnh viện Đa Khoa An Giang, được chẩn đoán xuất huyết giảm tiểu cầu, thiếu máu nặng, được truyền 4 đơn vị máu, chuyển bệnh viện Truyền Máu Huyết Học TP Hồ Chí Minh Bệnh nhân được chẩn đoán được chẩn đoán thiếu máu tán huyết vi mạch, được chuyển sang bệnh viện 115 để thay huyết tương Tại đây, bệnh nhân được thay huyết tương bốn lần thì lên cơn co giật, được đặt nội khí quản, bóp bóng giúp thở Thân nhân xin cho bệnh nhân xuất viện trong tình trạng nặng Về đến nhà, sau rút nội khí quản thì bệnh nhân dần tỉnh lại, ăn uống được nên người nhà đem bệnh nhân đến nhập viện bệnh viện Chợ Rẫy Lúc nhập viện, bệnh nhân tỉnh, mở mắt không tiếp xúc (Glasgow 7 điểm), xuất huyết niêm mạc miệng và bầm máu ở da, vàng da, yếu hai chân hơn hai tay, tiểu khoảng 1000 mL/24 giờ Cận lâm sàng cho thấy tiểu cầu 11 G/L, Hct 24,7%; LDH 4360 U/L, test Coomb trực tiếp

âm tính; phết máu ngoại biên có nhiều mảnh

vỡ hồng cầu, creatinin máu 1,2 mg/dl (tăng lên 1,6 mg/dL sau bốn ngày) (bảng 1) Bệnh nhân được chẩn đoán TTP - HUS Bệnh nhân được thay huyết tương một lần mỗi ngày trong liên tục 8 ngày kèm methylprednisone

250 mg/ngày (bảng 3) Lúc xuất viện, bệnh nhân tỉnh táo, hết yếu chi, tiểu cầu 182 G/L, LDH 583 UI/L

Trường hợp 3

Bệnh nhân nữ, 31 tuổi, nội trợ, tiền căn tăng huyết áp trong thai kỳ cách đây 4 năm, cách nhập viện một tuần bị sốt 38 độ, phù toàn thân, đến khám tại BV Hoàn Mỹ có giảm phù ít, còn kèm thêm đau họng, đau hông lưng âm ỉ hai bên, tiểu máu nên xin chuyển bệnh viện Chợ Rẫy Trong vòng một tháng nằm viện, bệnh nhân sốt liên tục, dao động từ

Trang 3

38 – 41 độ, thoạt đầu có tiêu chảy 10 lần/ngày

rồi ổn, tiểu máu tự giới hạn, xuất hiện vàng

da, lượng nước tiểu bình thường nhưng sau

dần dần trở nên thiểu niệu Diễn tiến cận lâm

sàng trong một tháng cho thấy tiểu cầu từ 57

G/L giảm thấp nhất là 9 G/L rồi tăng lên 24

G/L (có truyền tiểu cầu), Hct từ 40% giảm dần

còn 26%; bạch cầu dao động 10 - 20 (G/L),

creatinin máu từ 0,89 mg/dL tăng dần lên 1,65

mg/dL, ANA (-) hai lần thử, antidsDNA 11

UI/mL (âm tính: 0,5-10, dương tính: 50-107),

TPTNT có protein 30 mg/dL và hồng cầu

250/µl, đạm niệu 24 giờ 0,7 gam, X quang

phổi thâm nhiễm phổi phải, tủy đồ giảm

dòng hồng cầu và tiểu cầu kèm tủy đáp ứng

kém Bệnh nhân được chẩn đoán tạm thời là

lupus đỏ hệ thống và viêm phổi, được xử trí

truyền tổng cộng 5 khối tiểu cầu, kháng sinh

ciprofloxacine và ceftazidime, về sau đổi thành piperacillin

Một tháng sau nhập viện, tình trạng lâm sàng bệnh nhân rất nặng, bao gồm thiếu máu nặng, giảm tiểu cầu nặng, sốt cao, thiểu niệu (bảng 1) Lúc này bệnh nhân được thử thêm phết máu ngoại biên phát hiện có mảnh vỡ hồng cầu, LDH 692 UI/L, nên được chẩn đoán

là TTP - HUS , ngay sau đó được thay huyết tương một lần mỗi ngày trong liên tục 7 ngày kèm methylprednisone 250 mg/ngày (bảng 3) Vào ngày thay huyết tương cuối cùng, tiểu cầu là 37 G/L Bệnh nhân được chẩn đoán là TTP - HUS đáp ứng kém với thay huyết tương nên được ngưng thay huyết tương, dùng cyclophosphamide 150 mg/ngày đường uống trong một tuần rồi xuất viện Lúc xuất viện, bệnh nhân tỉnh táo, giảm phù rất nhiều, tiểu cầu 110 G/L, LDH 502 UI/L

Bảng 1: Các đặc điểm của bệnh nhân ngay trước thời điểm được thay huyết tương

Lâm sàng

Triệu chứng thần kinh Lơ mơ, co giật sau truyền

tiểu cầu

Nói sảng, ngất, co giật, yếu tay chân

Co giật sau truyền tiểu

cầu

Mảnh vỡ hồng cầu ở phết

Bilirubin (mg/dL)

Cận lâm sàng

Bảng 2: Các đặc điểm của bệnh nhân khi chấm dứt thay huyết tương

Thể tích huyết tương sử dụng

trung bình/ngày (ml)

Triệu chứng thần kinh Tỉnh táo, hết co giật Tỉnh táo, hết co giật, không yếu liệt chi Tỉnh táo, hết co giật

Trang 4

Bảng 3: Các thông số dùng trong thay huyết tương

Máy Diapact CRRT Màng lọc Plasmaflo 0,5 Đường máu ra về: tĩnh mạch đùi hoặc tĩnh mạch cảnh

trong Vận tốc bơm máu: 180 ml/phút

Vận tốc huyết tương: 30 ml/phút

Kháng đông: heparin (bolus 2000 đơn vị, duy trì 1000 đơn

vị/giờ) Thể tích huyết tương bệnh nhân ước tính theo công thức

Kaplan: Vp = [0,065 x trọng lượng cơ thể (kg)] x (1 – Hct)

Thể tích huyết tương thay thế: theo tỷ lệ 1:1,5 trong ba ngày

đầu và tỷ lệ 1: 1 trong các ngày tiếp theo

Chế phẩm thay thế: huyết tương tươi đông lạnh

BÀN LUẬN

Tại thành phố Hồ Chí Minh, thay huyết

tương đã được dùng trong điều trị từ nhiều năm

nay, song các báo cáo chính thức về lĩnh vực

này vẫn còn rất ít ỏi, nhất là ứng dụng trong

điều trị TTP - HUS.Báo cáo của chúng tôi mô tả

quá trình chúng tôi bước đầu sử dụng thay

huyết tương trong điều trị TTP - HUS cũng như

nhằm góp thêm vào y văn trong nước về lĩnh

vực này

Bảng 4: Nguyên nhân hội chứng TTP – HUS

1) Di truyền: thiếu men ADAMTS 13

2) Tự phát: có kháng thể với men ADAMTS 13 mắc phải

3) Nhiễm trùng: vi khuẩn (E Coli O 157: H7, Shigella,

Salmonella, Campylopacter…), virus (CMV, EBV, HIV,…)

4) Do thuốc: tacrolimus, cyclosporine, ticlopidine,

clopidogrel, quinin, mitomicin C, gemcitabine, cisplatin,

kháng thể đơn dòng OKT3, bevacizumab, sunitinib,

sorafenib

5) Bệnh tự miễn: lupus đỏ, hội chứng kháng thể

antiphospholipid

6) Khác: có thai, bệnh lý ác tính, ghép tủy xương

TTP - HUS là hội chứng được gây ra bởi tổn

thương lan tỏa tế bào nội mạc mao mạch dẫn

đến hiện tượng tăng phóng thích các yếu tố von

Willebrand đa trùng hợp kích thước lớn hơn so

với bình thường Một cơ chế khác của hiện

tượng này là giảm hoạt tính men ADAMTS 13 là

men cắt yếu tố von Willebrand đa trùng hợp

Hậu quả của tăng yếu tố von Willebrand là hình

thành vi huyết khối ở mao mạch và tiểu động

mạch ở nhiều cơ quan Tán huyết xảy ra do

hồng cầu đi xuyên qua các vi huyết khối Giảm

tiểu cầu do tăng tiêu thụ Triệu chứng của hệ

thần kinh và suy thận cấp xuất phát từ các vi huyết khối ở mạch máu não và thận Truyền tiểu cầu làm nặng thêm triệu chứng của hệ thần kinh và thận vì làm xuất hiện vi huyết khối mới hoặc làm to thêm vi huyết khối có sẵn Nguyên nhân của bệnh trình bày ở bảng 4(2,3)

Tiêu chuẩn chẩn đoán của TTP - HUS là bệnh nhân có đủ năm triệu chứng: giảm tiểu cầu, thiếu máu tán huyết, bất thường thần kinh, suy thận cấp và sốt (3) Vì diễn tiến của bệnh thường nặng nhanh chóng và vì thay huyết tương làm giảm tỉ lệ tử vong từ 90% xuống dưới 20% nên khuyến cáo hiện nay là không nên chờ bệnh nhân có đủ các triệu chứng trên, nên khởi

sự thay huyết tương ngay khi bệnh nhân có bằng chứng của giảm tiểu cầu và tán huyết do bệnh lý vi mạch (có mảnh vỡ hồng cầu ở phết máu ngoại biên) chưa giải thích được bằng bệnh

lý khác Nếu sau này có chẩn đoán khác (nhiễm trùng hệ thống, bệnh ác tính di căn, tăng huyết

áp ác tính) thì có thể ngưng thay huyết tương

Về chẩn đoán xác định hội chứng, cả ba trường hợp của chúng tôi đều có giảm tiểu cầu

và mảnh vỡ hồng cầu ở phết máu ngoại biên Tuy nhiên, chỉ có trường hợp 2 là được chẩn đoán thiếu máu tán huyết vi mạch và được thay huyết tương khá sớm (ngay từ lúc ở bệnh viện 115), hai trường hợp còn lại đều được chẩn đoán muộn, riêng trường hợp thứ 3 được chẩn đoán sau gần một tháng nằm viện Hậu quả là hai trường hợp này đều bị biến chứng của một xử trí không được khuyến cáo của TTP – HUS là truyền tiểu cầu, gây nặng thêm triệu chứng thần kinh (lơ mơ, co giật) và thận (suy thận cấp) Thực tế, hội chứng này khó chẩn đoán vì hai lý do: bệnh ít gặp (tần suất mới mắc ở Mỹ là 4-11/1 triệu người), triệu chứng lâm sàng lại không đặc hiệu và thay đổi(2)

Nguyên nhân của hội chứng TTP – HUS đã không được xác định trong cả ba bệnh nhân Đối với trường hợp 1 và 2, chúng tôi nghi ngờ nguyên nhân là thiếu men ADAMTS 13 nguyên phát do hai bệnh nhân không có tiền căn bệnh lý hay dùng thuốc gì đặc biệt, tuy nhiên chúng tôi

Trang 5

không đo được nồng độ men ADAMTS 13 và

tìm kháng thể kháng men này trong máu do

phòng thí nghiệm chưa làm được Trường hợp

thứ 3 có tiêu chảy, là một triệu chứng gợi ý

nguyên nhân nhiễm E Coli 157:H7 là nguyên

nhân kinh điển của hội chứng TTP - HUS(1)

Đáng tiếc là chúng tôi cũng đã không khảo sát

nguyên nhân này vì không nghĩ đến hội chứng

này từ đầu và bệnh nhân chỉ được chẩn đoán

xác định TTP – HUS sau một tháng nằm viện

Chúng tôi hy vọng trong tương lai việc thầy

thuốc quen với việc nhận diện hội chứng thì sẽ

tạo thuận lợi cho khảo sát nguyên nhân

Những bệnh lý có thể được điều trị bằng

thay huyết tương được chia làm bốn nhóm, độ

mạnh của chỉ định giảm dần từ I đến IV Chỉ

định thay huyết tương trong hội chứng TTP –

HUS thuộc nhóm I(5) Chúng tôi đã tiến hành

thay huyết tương cho các bệnh nhân theo các

thông số kỹ thuật được khuyến cáo hiện nay

Việc dùng kèm corticoid chưa có bằng chứng từ

thử nghiệm lâm sàng, tuy nhiên hầu hết các

chuyên gia đều khuyên sử dụng Có thể nói chế

độ điều trị này đã cứu sống ba bệnh nhân một

cách ngoạn mục Tình trạng lâm sàng cũng như

các chỉ số cận lâm sàng đã cải thiện tốt khi chấm

dứt thay huyết tương (bảng 2) Đặc biệt, trường

hợp thứ 3 do chẩn đoán khá trễ nên tình trạng

bệnh nhân rất nặng khi bắt đầu thay huyết

tương, tuy nhiên sau đó bệnh nhân cũng hồi

phục và xuất viện được mười ngày sau khi

ngưng thay huyết tương Vì chỉ có ba trường

hợp nên chúng tôi chưa kết luận được về tỉ lệ tử

vong của phương pháp điều trị này tại bệnh

viện chúng tôi Báo cáo khác ở 51 bệnh nhân

TTP - HUS được thay huyết tương cho thấy tỉ lệ

tử vong tức thời khoảng 3% và sau 6 tháng là

21%(4) Do đó, bệnh nhân cần được theo dõi về

lâu dài, đặc biệt những trường hợp giảm men

ADAMTS 13 thường hay tái phát

Chỉ định ngưng thay huyết tương trong

điều trị hội chứng TTP – HUS là tiểu cầu và

LDH về bình thường Chúng tôi cũng thực hiện

điều này và ghi nhận tiểu cầu tăng dần sau khi

ngưng thay huyết tương Các bệnh nhân đều

xuất viện với tiểu cầu > 100 G/L, qua đó cho thấy thay huyết tương thực sự có hiệu quả trong chấm dứt quá trình bệnh lý, giúp bệnh nhân hồi phục Riêng đối với trường hợp 3, chúng tôi chấm dứt thay huyết tương khi tiểu cầu chỉ tăng đến 37 G/L vì vào thời điểm đó có ý kiến cho rằng bệnh nhân kém đáp ứng với thay huyết tương nên cần ngưng thay huyết tương và thêm thuốc ức chế miễn dịch cyclophosphamide Tuy nhiên, trong vòng một tuần sau đó tiểu cầu tăng trên 100 G/L, cho thấy đây có lẽ là có đáp ứng thay huyết tương nhưng mà là đáp ứng chậm, chứ không phải tiểu cầu tăng do hiệu quả của cyclophosphamide đường uống (vốn khó có tác dụng nhanh như vậy sau một tuần) Nguyên nhân của tiểu cầu tăng chậm sau bảy lần thay huyết tương có lẽ do tình trạng bệnh quá nặng sau một tháng chẩn đoán trễ, chế độ thay huyết tương lẽ ra nên tích cực hơn, chẳng hạn như hai lần mỗi ngày thay vì một lần mỗi ngày hoặc tăng số lần thay huyết tương Ngoài ra, chúng tôi đã không đánh giá được nồng độ men ADAMTS 13 ở bệnh nhân này, vì những bệnh nhân có nồng độ này ở mức trung bình kèm kháng thể kháng ADAMTS 13 âm tính là dạng kháng với thay huyết tương Cuối cùng, một số tác giả khuyên có thể dùng rituximab cho những bệnh nhân ít đáp ứng với thay huyết tương

KẾT LUẬN

Thay huyết tương trong điều trị hội chứng TTP – HUS được áp dụng thành công ở ba trường hợp ban đầu của chúng tôi, qua đó cho thấy triển vọng tốt trong điều trị bệnh lý này Trong tương lai, chúng tôi cần hoàn thiện hơn ở các khâu chẩn đoán, đánh giá nguyên nhân, theo dõi đáp ứng điều trị ngắn hạn lẫn dài hạn, đánh giá biến chứng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Dundas S, Murphy J, Soutar RL (1999) Effectiveness of therapeutic plasma exchange in the 1996 Lanarkshire Escherichia coli O157:H7 outbreak Lancet; 354:1327

2 George JN (2006) Thrombotic thrombocytopenic purpura N Engl

J Med; 354:1927

Trang 6

3 Polito MG, Kirsztajn GM (2010) Thrombotic microangiopathies:

thrombotic thrombocytopenic purpura/hemolytic uremic

syndrome J Bras Nefrol;32(3):303-15

4 Rock GA, Shumak KH, Buskard NA, (1991) Comparison of

plasma exchange with plasma infusion in the treatment of

thrombotic thrombocytopenic purpura Canadian Apheresis Study Group N Engl J Med; 325:393

5 Smith JW, Weinstein R, Hillyer KL (2003) Therapeutic apheresis: a summary of current indication categories endorsed by the AABB and the American Society for Apheresis Transfusion ;43(6):820

Ngày đăng: 21/01/2020, 18:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w