1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật u tủy tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

5 81 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 313,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

U tuỷ sống là những tổn thương có nguồn gốc từ tế bào thần kinh hoặc do di căn đến gây chèn ép rễ thần kinh và tuỷ sống. Tuỳ thuộc vào vị trí và bản chất u mà có biểu hiện lâm sàng và kết quả phẫu thuật khác nhau. Đề tài này nhằm mục tiêu mô tả biểu hiện lâm sàng và kết quả phẫu thuật u tuỷ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.

Trang 1

U TỦY TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI 

Nguyễn Vũ*, Kiều Đình Hùng* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: U tuỷ sống là những tổn thương có nguồn gốc từ tế bào thần kinh hoặc do di căn đến gây chèn ép 

rễ thần kinh và tuỷ sống. Tuỳ thuộc vào vị trí và bản chất u mà có biểu hiện lâm sàng và kết quả phẫu thuật khác  nhau. Đề tài này nhằm mục tiêu mô tả biểu hiện lâm sàng và kết quả phẫu thuật u tuỷ tại Bệnh viện Đại học Y 

Hà Nội.  

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả tiến cứu một loạt ca bệnh, 18 bệnh nhân được phẫu thuật 

u tuỷ sống trong thời gian 4/2013‐9/2014.  

Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ nữ/nam là 1,57/1. Tuổi trung bình là 54,22 (24‐83), độ tuổi gặp nhiều nhất là 

60‐69. Biểu hiện lâm sàng với 61,1% chèn ép rễ, 38,9% chèn ép tuỷ, 16,7% chèn ép cả tuỷ và rễ thần kinh; với  100% có rối loạn cảm giác, 66,7% rối loạn vận động, đặc biệt có 16,7% rối loạn cơ tròn. Vị trí u tuỷ được phân  bố: 22,2% u vùng cổ, 33,3% u vùng ngực và 44,5% u vùng thắt lưng. Phân loại theo giải phẫu bệnh: Neurinome  (38,9%), Ependymome (22,2%), Meningioma (27,8%), chordoma (5,55%) và U di căn (5,55%). Kết quả phẫu  thuật chung: Tốt (55,6%), trung bình (27,8%) và xấu (16,6%), tiên lượng tốt nhất với u vùng thắt lưng cùng  với bản chất là neurinome, tiên lượng kém với u vùng ngực hay cổ với bản chất là u di căn và ependymome.  

Kết luận: Biểu hiện lâm sàng của u tuỷ là triệu chứng của cả chèn ép rễ và chèn ép tuỷ. Điều trị phẫu thuật 

u tuỷ cho kết quả tốt đặc biệt là neurinome ở vùng thắt lưng, kết quả kém hơn khi u ở vùng cổ‐ngực với bản chất 

là u di căn hay ependymone. 

Từ khóa: U tủy. 

ABSTRACT 

CLINICAL CHARACTERISTICS AND SURGICAL TREATMENT OUTCOMES  

OF SPINAL TUMORS IN HANOI MEDICAL UNIVERSITY HOSPITAL 

Nguyen Vu, Kieu Dinh Hung * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 86 – 90 

Objects:  Spinal  tumors  are  abnormal  lesions  that  originate  from  neurons  or  metastatic  tumors  and  can 

cause compression to the neural roots and spinal cords. Depending on the location and type of tumors, clinical  features  and  treatment  results vary  considerably.  This study  was  aimed  to  describe  clinical  characteristics and  surgical outcomes of spinal cord tumors in  

Materials  and  methods:  This  was  a  descriptive  and  prospective  study  of  18  consecutive  patients  who 

underwent surgical procedures for spinal cord tumors from April 2013 to September 2014.  

Results:  Sex  ratio:  Female/male:  1.57/1.  Mean  age:  54.22  years  (24‐83),  most  common  age:  60‐69  years. 

Clinical  features:  61.1%  nerve  root  compression,  38.9%  spinal  cord  compression,  16.7%  both  nerve  root  and  spinal cord compression in these 100% with sensory disorder, 66.7% with motor dysfunction and 16.7% with  vesicorectal  disorder.  Distribution  of  tumor  locations:  22.2%  in  cervical  region,  33.3%  in  thoracic  region  and  44.5%  in  lumbar  region.  Histological  classification:  neurinoma  (38.9%),  ependymoma  (22.2%),  meningioma  (27.8%), chordoma (5.55%) and metastatic origin (5.55%). General surgical outcomes: Good (55.6%), moderate  (27.8%),  bad  (16.6%).  Prognosis  was  good  for  patients  with  tumors  in  the  lumbar  area  and  with  the  type  of 

* Bệnh viện Đại học Y Hà Nội 

Tác giả liên lạc: ThS. Nguyễn Vũ,    ĐT: 0936182005;  Email: drvu29@gmail.com 

Trang 2

neurinoma;  prognosis  was  bad  for  those  with  tumors  in  the  cervical  or  thoracic  region  and  with  the  type  of  ependymoma or metastatic cancer.  

Conclusions:  Clinical  features  of  spinal  tumors  were  the  symtoms  of  nerve  root  and/or  spinal  cord 

compression. Generally, surgical outcomes were efficient, especially for patients with neurinoma in the lumbar  region and surgical results were deficient for patients with ependymoma or metastatic tumor in the cervical or  thoracic region. 

Keyword: Spinal tumors 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

U  tuỷ  sống  là  những  tổn  thương  tăng  sinh 

trong ống tuỷ có nguồn gốc từ tế bào thần kinh 

hoặc từ nơi khác di căn đến gây chèn ép cấu trúc 

xung quanh như rễ thần kinh hay tuỷ sống gây 

ra các biểu hiện rối loạn vậy động, cảm giác hay 

mất chức năng của tuỷ sống. Năm 1888, Horsley 

và  Gowers  báo  cáo  về  một  trường  hợp  u  trong 

màng cứng ngoài tủy được mổ thành công đầu 

tiên.  Năm  1941  Greengood  đã  mổ  thành  công 

một trường hợp lấy hết u nội tủy, bệnh nhân này 

sau đó hồi phục hoàn toàn về mặt thần kinh và 

35 năm sau vẫn chưa bị tái phát, đặc biệt sự phát 

minh  kính  hiển  vi  phẫu  thuật  bởi  Kurze  vào 

năm 1964 giúp cho việc điều trị phẫu thuật u tuỷ 

phát triển vượt bậc.  

Biểu hiện lâm sàng của u tuỷ thường là bệnh 

cảnh  chung  của  chèn  ép  rễ  ở  giai  đoạn  đầu  và 

chèn ép tuỷ‐thương tổn tuỷ ở giai đoạn tiếp theo. 

Tuy nhiên, triệu chứng thường không điển hình 

mà chủ yếu dựa vào biểu hiện lâm sàng để chẩn 

đoán  định  khu  và  chụp  cộng  hưởng  từ  là  tiêu 

chuẩn vàng để chẩn đoán xác định u tuỷ sống. 

Trong các nhóm lớn u tủy sống, thường gặp 

nhất  là  u  bao  dây  thần  kinh  (Schwannoma  và 

Neurofibroma)  chiếm  30%,  u  màng  não  tủy 

(Meningioma)  chiếm  22%,  đại  đa  số  là  u  lành 

tính  và  ngoài  tuỷ,  với  những  loại  u  này,  việc 

phẫu thuật lấy triệt để u là biện pháp điều trị lý 

tưởng  nhất   nhằm tránh tái  phát.  Ngoài  ra  u  tế 

bào màng lót ống nội tủy (Ependymoma) chiếm 

13% và ít hơn nữa là u tế bào sao (Astrocytoma). 

Đây  là  những  loại  u  thường  nội  tuỷ,  nên  ngoài 

việc  cố  gắng  lấy  u  tối  đa  thì  tạo  hình  ống  sống 

cũng  giúp  cho  việc  cải  thiện  triệu  chứng  cũng 

như  kéo  dài  thời  gian  biểu  hiện  bệnh  trở  lại… 

Bên  cạnh  đó  còn  một  số  loại  u  tuỷ  ít  gặp  khác  như u di căn, u mỡ, u nguyên bào mạch máu, u  dây sống… 

Chúng  tôi  tiến  hành  nghiên  cứu  này  bước  đầu mô tả đặc điểm lâm sàng và bước đầu đánh  giá  kết  quả  phẫu  thuật  u  tuỷ  tại  Bệnh  viện  Đại  học Y Hà Nội. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng nghiên cứu 

Tất  cả  18  trường  hợp  bệnh  nhân  được  chẩn  đoán xác định, tiến hành phẫu thuật và có kết quả  giải phẫu bệnh là u tuỷ trong thời gian từ 4/2013  đến 9/2014 tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.  Không  có  các  bệnh  lý  thoái  hoá  kèm  theo  (thoát vị đĩa đệm, trượt đốt sống, hẹp ống sống do  phì đại xương…) làm ảnh hưởng đến chẩn đoán. 

Phương pháp nghiên cứu 

+  Mô tả tiến cứu một loạt ca bệnh  +  Các thông tin nghiên cứu cần thu thập: 

•  Thông tin chung của người bệnh: tuổi, giới 

•  Biểu hiện lâm sàng của người bệnh 

•  Vị trí khối u, kích thước khối u 

•  Kết quả mô bệnh học 

•  Kết quả phẫu thuật và các biến chứng 

•  Đánh  giá  kết  quả  phẫu  thuật:  chúng  tôi  dựa  vào  sự  tiến  triển  phục  hồi  của  các  triệu  chứng lâm sàng (vận động, cảm giác, cơ tròn…)  sau phẫu thuật khi bệnh nhân ra viện  

+  Chúng tôi phân loại kết quả sau mổ: 

•  Tốt:  Tự  đi  lại,  hoạt  động  tương  đối  bình  thường 

•  Trung  bình:  Cần  có  sự  hỗ  trợ  một  phần  trong đi lại, hoạt động hàng ngày 

Trang 3

•  Xấu: Liệt hoàn toàn, tử vong 

Ngoài ra chúng tôi so sánh lâm sàng trước và 

sau mổ theo phân loại của Nurick:  

Độ HC CE rễ HC CE tuỷ Đi lại Việc làm

0 Có Không Không bị ảnh

hưởng Có thể làm được

1 Có Có Không bị ảnh

hưởng Có thể làm được

2 Có Có Bị ảnh hưởng

ít

Có thể làm được

3 Có Có Bị ảnh hưởng

nhiều

Không thể làm được

4 Có Có Chỉ đi với trợ

giúp Không thể làm được

5 Có Có Liệt giường Không thể

làm được

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 

Trong  17  tháng  chúng  tôi  tiến  hành  phẫu 

thuật được 18 bệnh nhân u tuỷ với các thể khác 

nhau thu được kết quả như sau: 

Tuổi và giới tính 

Tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng 

tôi là 54,22, với tuổi nhỏ nhất là 24, tuổi lớn nhất 

là 83, gặp nhiều nhất trong nhóm tuổi 60‐69. Các 

nghiên  cứu  của  Lương  Viết  Hoà,  Phạm  Anh 

Tuấn, Sam Safavi‐Abbasi, Piero Conti cũng thấy 

chủ yếu gặp ở người trưởng thành tuy nhiên độ 

tuổi thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi(3,4,5,1). 

Nữ  giới  gặp  nhiều  hơn  nam  trong  nghiên 

cứu  này  với  tỷ  lệ  nữ/nam=1,57/1.  Nghiên  cứu 

của Lương Viết Hoà cũng cho kết quả tương tự, 

còn  nghiên  cứu  của  Sam  Safavi‐Abbasi,  Piero 

Conti gặp nam nhiều hơn nữ(5,1). 

Thời  gian  biểu  hiện  bệnh  và  triệu  chứng 

lâm sàng 

Đa  số  bệnh  nhân  đều  đến  viện  muộn  khi 

đã  có  cả  biểu  hiện  chèn  ép  rễ  và  chèn  ép  tuỷ, 

bệnh nhân thường lựa chọn các phương pháp 

dân  gian  để  điều  trị  trước  khi  đến  cơ  sở  y  tế 

chuyên  khoa  để  chụp  phim  chẩn  đoán.  Trong 

nghiên cứu của chúng tôi thời gian trung bình 

từ lúc biểu hiện bệnh đến lúc được chẩn đoán 

là 16,72 tháng, sớm nhất là 12 tháng và muộn 

nhất là 28 tháng. 

Biểu hiện triệu chứng lâm sàng khi vào viện 

là  100%  bệnh  nhân  có  chèn  ép  tuỷ  và  rễ  thần  kinh với 61,1% chèn ép rễ đơn thuần, 38,9% chèn 

ép tuỷ đơn thuần và 16,7% có cả triệu chứng của  chèn ép rễ và chèn ép tuỷ. 66,7% bệnh nhân có  rối  loạn  vận  động  trong  đó  có  3  bệnh  nhân  không  tự  đi  lại  được.  Rối  loạn  cảm  giác  chúng  tôi gặp ở 100% bệnh nhân từ cảm giác nông đến  cảm  giác  sâu  bao  gồm  cả  cảm  giác  dị  cảm  kiến  bò‐tê bì của chèn ép rễ và mất cảm giác nông sâu  của chèn ép cột sau tuỷ sống. Đặc biệt có 3 bệnh  nhân  (16,7%)    có  biểu  hiện  rối  loạn  cơ  tròn. 

Nghiên  cứu  của  Lương  Viết  Hoà  tỷ  lệ  rối  loạn  vận động là 66,7%, rối loạn cảm giác 77,8%(3). 

Đặc điểm của u tuỷ trong nghiên cứu 

Phân loại u tuỷ theo vị trí khối u 

Trong nghiên cứu của chúng tôi: U tuỷ có ở  mọi vị trí, 4 bệnh nhân (22,2%) u nằm ở vùng tuỷ  cổ; 6 bệnh nhân (33,3%) u nằm ở vùng tuỷ ngực 

và 8 bệnh nhân (44,5%) u nằm ở vùng thắt lưng  cùng.  Nghiên  cứu  của  Piero  Conti  vùng  cổ  (18,4%), ngực (33%), thắt lưng cùng (48,6%)(1).  Kích thước của khối u trong nghiên cứu của  chúng  tôi  cũng  cho  thấy  đa  số  bệnh  nhân  đến  viện  muộn  khi  khối  u  đã  lớn,  với  55,6%  bệnh  nhân  khối  u  >2cm,  27,8%  bệnh  nhân  khối  u  1‐

2cm và chỉ có 16,6% bệnh nhân khối u <1cm. 

Phân loại u tuỷ theo giải phẫu bệnh  Bảng 3.1: Phân loại u tủy theo giải phẫu 

NeurinomeEpendynome Chordoma Meningioma U di

căn

Đa  phần  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  gặp là u màng não tuỷ và u bao dây thần kinh,  đặc  biệt  có  2  trường  hợp  u  vùng  chóp  tuỷ  là  ependynome.  Nghiên  cứu  của  Herbert  H  Engelhard  gặp:  meningioma  (24,4%),  ependymoma  (23,7%)  và  schwannoma  (21,2%)…(2). 

Đa  phần  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  neurinome gặp ở u vùng thắt lưng cùng, u màng 

Trang 4

não tuỷ thường gặp ở vùng cổ còn ependymome 

gặp ở vùng tuỷ ngực. Với mỗi loại u khác nhau 

thì  mức  độ  hồi  phục  và  tiến  triển  bệnh  cũng 

khác nhau. 

Kết quả phẫu thuật 

Bảng 3.2: kết quả phẫu thuật 

GPB Tốt Trung bình Xấu N

Thắt lưng cùng Neurinome 6 1 0 8

Qua nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ thành công 

cao nhất nằm ở nhóm u vùng thắt lưng cùng (7/8 

bệnh nhân) với giải phẫu bệnh là u bao dây thần 

kinh (6/8 bệnh nhân) và u dây sống. Nghiên cứu 

của  Sam  Safavi‐Abbasi  cho  kết  quả  tương  tự(5). 

Ependynome phẫu thuật cho kết quả khả quan ở 

25%,  50%  cho  kết  quả  chấp  nhận  được  và  25% 

cho  kết  quả  kém.  Phẫu  thuật  u  vùng  tuỷ  ngực 

cho kết quả tốt ở 33,3% số trường hợp. U vùng 

cổ cho kết quả thấp nhất do thường ảnh hưởng 

đến vận động và cảm giác tứ chi, đặc biệt là với 

trường hợp u di căn. Kết quả phẫu thuật chung: 

tốt (55,6%), trung bình (27,8%), xấu (16,6%). 

Với 3 trường hợp không tự đi lại được và rối 

loạn  cơ  tròn,  ngay  sau  mổ  bệnh  nhân  chỉ  cảm 

thấy có phục hồi về mặt cảm giác, phục hồi vận 

động không rõ rệt và chưa có biến chuyển về rối 

loạn  cơ  tròn.  Sau  6  tháng  thì  hai  bệnh  nhân  có 

hồi phục về vận động và đại tiểu tiện tự chủ, 1 

bệnh  nhân  diễn  biến  bệnh  nặng  hơn.  Nghiên 

cứu của Lương Viết Hoà cũng cho kết quả tương 

tự  như  chúng  tôi.  Nghiên  cứu  của  Phạm  Anh 

Tuấn  cho  thấy  tỷ  lệ  hồi  phục  của  meningiome 

tuỷ 53‐95%, với neurinome là 80‐93,6%(4). Nghiên 

cứu  của  Võ  Văn  Nho  tỷ  lệ  hồi  phục  của 

Ependymome  là  50%.  Nghiên  cứu  của  Piero  Conti tỷ lệ hồi phục của Neurinome là 60,3%(1). 

KẾT LUẬN  Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân u tuỷ 

Bệnh nhân đến viện với biểu hiện chèn ép rễ  thần kinh và chèn ép tuỷ hoặc cả hai với các rối  loạn vận động từ nhẹ đến nặng và rối loạn cảm  giác  từ  tê  bì  dị  cảm  đến  rối  loạn  cảm  giác  sâu‐ bản thể. Đôi khi gặp rối loạn cơ tròn đặc biệt với  những trường hợp u nằm trong chóp tuỷ. 

Với vị trí u gặp nhiều nhất ở vùng thắt lưng  cùng,  sau  đó  đến  ngực  và  cổ,  giải  phẫu  bệnh  khối u gặp trong nghiên cứu giảm dần theo thứ 

tự  là  neurinome,  meningiome,  ependymome,  chordoma và u di căn. 

Kết quả phẫu thuật u tuỷ 

Kết  quả  phẫu  thuật  chung  cho  các  loại  u  là  tốt  55,6%,  trung  bình  27,8%  và  xấu  16,6%.  Tiên  lượng tốt với những khối u vùng thắt lưng cùng  với  bản  chất  là neurinome, tiên  lượng  kém  dần  nếu u ở vùng ngực với bản chất là ependymome 

và kém nhất là vùng cổ với bản chất là u di căn.  Những trường hợp không tự đi lại được và rối  loạn  cơ  tròn  trước  mổ  cần  có  thời  gian  dài  sau 

mổ để hồi phục nhưng kết quả không khả quan. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Conti,  P.,  Pansini,  G.,  Mouchaty,  H., Capuano  C,  Conti  R.,  (2004).  Spinal  neurinomas:  retrospective  analysis  and  long‐term  outcome  of  179  consecutively  operated  cases  and review of the literature. Surgical neurology,  61(1),  p.  34‐43. 

2 Engelhard,  H.H.,  Villano,  J.L.,  Porter,  K.R.,  et  al.,  (2010).  Clinical presentation, histology, and treatment in 430 patients  with primary tumors of the spinal cord, spinal meninges, or  cauda equina: Clinical article. Journal of Neurosurgery: Spine,   13(1),  p. 67‐77. 

3 Lương Viết Hoà, Trần Thị Mai Linh, and Hoàng Thế Hưng,  (2013).  Đặc  điểm lâm  sàng  và  kết quả  điều  trị  phẫu  thuật  u  tuỷ. Y học thực hành,  891‐892,  p. 153‐155. 

4 Phạm Anh Tuấn, (2013). U trong màng cứng ngoài tuỷ sống.   Phẫu thuật thần kinh.  p. 501‐508. Nhà xuất bản Y Học. 

Trang 5

5 Safavi‐Abbasi  S,  Senoglu  M,  Theodore  N, Workman  RK, 

Gharabaghi  A,  Feiz‐Erfan  I,  Spetzler  RF,  Sonntag  VK , 

(2008).  Microsurgical  management  of  spinal 

schwannomas:  evaluation  of  128  cases.  Journal  of 

Neurosurgery: Spine,  9(1),  p. 40‐47. 

 

Ngày nhận bài báo:       24/10/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:  02/11/2014  Ngày bài báo được đăng:     05/12/2014 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 18:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w