1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thông báo lâm sàng: Nhân một trường hợp sử dụng thuốc chống đông được phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa thành công

7 133 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 359,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này trình bày về một trường hợp sử dụng thuốc chống đông được phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa thành công. Thuốc chống đông đường uống thường được chỉ định dùng để phòng ngừa tắc mạch trong các trường hợp rung nhĩ, sau phẫu thuật thay van tim.

Trang 1

192

THÔNG BÁO LÂM SÀNG:

NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP SỬ DỤNG THUỐC CHỐNG ĐÔNG ĐƯỢC PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT RUỘT THỪA THÀNH CÔNG

Lâm Ngọc Tú*; Nguyễn Ngọc Thạch*; Phạm Thị Thanh Huyền**

TÓM TẮT

Thuốc chống đông đường uống thường được chỉ định dùng để phòng ngừa tắc mạch trong các trường hợp rung nhĩ, sau phẫu thuật thay van tim Khi những bệnh nhân (BN) này phải phẫu thuật cấp cứu, bác sỹ gây mê cần phải trả lời các câu hỏi: thời điểm nào thích hợp để phẫu thuật? Khi nào ngừng uống thuốc chống đông? Ngày 17 - 8 - 2013, chúng tôi đã tiến hành gây mê nội khí quản cho

BN nam 57 tuổi được phẫu thuật nội soi (PTNS) cắt ruột thừa với chẩn đoán khi vào viện là viêm ruột thừa cấp giờ thứ 10 có sử dụng thuốc chống đông đường uống sintrom 1 mg/ngày để điều trị rung nhĩ, suy tim độ II BN có tiền sử đột quỵ não năm 2009, đã được nong van 2 lá năm 2010 do hẹp van

2 lá Xét nghiệm khi vào viện INR (international normalized ratio) 2,4; tỷ lệ prothrombin 26%, aPTT 32

s, fibrinogen 5,9 g/l, tiểu cầu 272 G/L, hematocrit 47,7% Trước phẫu thuật, BN được truyền huyết tương tươi đông lạnh (fresh frozen plasma) 500 ml và tiêm tĩnh mạch vitamin K1 5 mg x 2 ống, sau khi xử trí, INR giảm xuống 1,7 và tỷ lệ prothrombin tăng 37% BN được PTNS cắt ruột thừa viêm ở giờ thứ 30 với lượng máu mất không đáng kể, trong và sau phẫu thuật, BN hoàn toàn ổn định

* Từ khóa: Thuốc chống đông; Phẫu thuật nội soi; Cắt ruột thừa

Trang 2

193

CASE REPORT: SUCCESSFULLY LAPAROSCOPIC

APPENDECTOMY IN A PATIENT TAKING ANTICOAGULANTS

SUMMARY

Oral anticoagulants are often indicated for embolism prevention in cases of atrial fibrilation, after heart valve replacement surgery… When the patients need emergency operation, anesthetists must answer the following questions: When is the appropriate time for the operation? When should anticoagulants be stopped taking? On Aug 18 th 2013 we made endotracheal anesthesia for laparoscopic appendectomy in a male patient of 57 years old The patient was admitted with the diagnosis of 10 th hour acute appendicitis taking oral anticoagulants sintrom 1 mg per day for treatment of atrial fibrilation and the second degree heart failure The patient’s history was stroke in 2009, and mitral valve dilatation in 2010 due to mitral valve stenosis The laboratory results on the admission included INR (international normalized ratio) 2.4; prothrombin ratio 26%; aPTT (activated partial thromboplastin time) 32 s; fibrinogen 5.9 g/L, platelets 272 G/L, hematocrite 47.7% Before the surgery, the patient was transfused 500 mL fresh frozen plasma and intravenously injected vitamin K1 ampoule 5 mg x two ampoules After the treatment, INR fell 1.7 and prothrombin ratio increased 37% The patient had laparoscopic appendectomy in 30 th hour with negligible blood loss and perioperative condition of the patient was completely stable

* Key words: Anticogualants; Endoscopic surgery; Appendectomy

* Bệnh viện Quân y 103

** Học viện Quân y

Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Ngọc Thạch (thachgmhs@yahoo.com.vn)

Ngày nhận bài: 28/04/2014; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 05/07/2014

Ngày bài báo được đăng: 30/07/2014

ĐẶT VẤN ĐỀ

Kiểm soát các rối loạn đông chảy máu

trước, trong và sau phẫu thuật cho BN bị

bệnh lý tim mạch có dùng thuốc chống

đông máu là một thách thức lớn, liên quan

đến nhiều chuyên ngành Vì không có

hướng dẫn nào tuyệt đối tối ưu cho BN

dùng thuốc chống đông cần phẫu thuật,

do đó, nếu BN đang dùng thuốc chống

đông đường uống cần phẫu thuật, bác sỹ

gây mê cần phối hợp với phẫu thuật viên,

bác sỹ nội khoa, bác sỹ hồi sức cấp cứu

để cân nhắc thời điểm thích hợp để phẫu

thuật, thời điểm ngừng uống thuốc chống

đông do liên quan đến nguy cơ chảy máu

nếu phẫu thuật và huyết khối tắc mạch

nếu ngừng uống thuốc chống đông

GIỚI THIỆU CA BỆNH

1 Đặc điểm BN

BN nam, 57 tuổi, cao 1 m65, nặng 65 kg, phân loại sức khỏe theo Hiệp hội các nhà Gây mê Hoa Kỳ (ASA - American Society

of Anesthesiologist) III, phân loại đặt ống nội khí quản khó theo Mallampati độ II, vào viện với triệu chứng viêm ruột thừa cấp điển hình giờ thứ 10, suy tim độ II, rung nhĩ đang sử dụng thuốc chống đông sintrom 1 mg/ngày và betaloc 50 mg/ngày

BN không đau ngực, không khó thở,

2009, nong van 2 lá năm 2010 do hẹp van 2

Khám tim mạch: nhịp tim 85 chu kỳ/phút không đều, tiếng thổi tâm thu 2/6 tại mỏm tim, huyết áp 110/75 mmHg

Trang 3

194

Khám hô hấp: tần số thở 14 chu kỳ/phút,

không có ran Khám tiêu hóa: bụng mềm,

không u cục, gan lách không to, hố chậu

phải ấn điểm Macburney đau chói, dấu

hiệu Schotkin-Blumberg (++) Khám các

cơ quan khác không có gì đặc biệt

Xét nghiệm: công thức máu ngoại vi:

hồng cầu 4,95 T/l, huyết sắc tố 151 g/l,

hematocrit 0,477 l/l, tiểu cầu 272 G/L,

bạch cầu 14,1 G/L, tỷ lệ bạch cầu đa nhân

trung tính 92,4% Sinh hóa máu: glucose

7,4 mmol/l, protein 82 g/l, albumin 44 g/l,

creatinin 99 μmol/l, ure 4,5 mmol/l, SGOT

22 U/l, SGPT 25 U/l, CK-MB 18 U/l, Na

134 mmol/l, kali 3,9 mmol/l, Ca 2,1 mmol/l

Đông máu toàn bộ: INR 2,4, PT 26%,

aPPT 32 s, fibrinogen 5,9 g/l Siêu âm

tim: hẹp, hở van 2 lá mức độ vừa, hở nhẹ

van động mạch chủ, không tăng áp lực

động mạch phổi, giãn nhĩ trái, chức năng

tâm thu thất trái trong giới hạn bình

thường, không có huyết khối trong các

buồng tim Siêu âm ổ bụng: hình ảnh ruột

thừa viêm đường kính 1,3 cm Điện tim:

loạn nhịp hoàn toàn, rung nhĩ tần số

nhĩ 200 chu kỳ/phút, tần số thất 75 chu

kỳ/phút

BN được các bác sỹ nội tim mạch,

ngoại bụng, gây mê hồi sức, hồi sức cấp

cứu hội chẩn và thống nhất điều chỉnh rối

loạn đông máu bằng cách ngừng dùng

các thuốc chống đông đường uống,

truyền tĩnh mạch 500 ml huyết tương tươi,

tiêm tĩnh mạch vitamin K1 ống 5 mg x 2

ống, tiếp tục sử dụng kháng sinh đường

tĩnh mạch nhóm cephalosporin và

quinolon, xét nghiệm lại INR 3 giờ/lần

Nếu INR < 2, có thể tiến hành phẫu thuật

với sự chuẩn bị chu đáo về cả phương

diện huyết học lẫn gây mê hồi sức và phẫu thuật BN và gia đình được giải thích

về tình trạng bệnh cũng như những nguy

cơ có thể xảy ra trong và sau phẫu thuật Giờ thứ 20 sau khi nhập viện, BN ý thức tỉnh táo, bụng chướng nhẹ, không có biểu hiện xuất huyết bất thường, các dấu hiệu của viêm ruột thừa khu trú hố chậu phải Xét nghiệm đông máu INR 1,71, PT 37%, fibrinogen 5,8 g/l, aPTT 33 s và có chỉ định PTNS cắt ruột thừa với phương pháp vô cảm gây mê nội khí quản

2 Quá trình gây mê và phẫu thuật

Tại phòng mổ, BN tỉnh táo, hợp tác tốt,

áp động mạch 120/70 mmHg, được thiết lập đường truyền tĩnh mạch ngoại vi với kim luồn 18 G, cho BN thở oxy qua mũi 3 l/phút

Tiền mê: tiêm tĩnh mạch atropin 0,5 mg

và fentanyl 0,1 mg trước khởi mê 5 phút Khởi mê: tiêm tĩnh mạch chậm thuốc mê

suxamethonium 100 mg, sau đó đặt ống nội khí quản số 7,5 qua miệng một lần, thuận lợi Duy trì mê: thuốc mê đường hô hấp sevoflurane 1 - 2%, tiêm tĩnh mạch thuốc giãn cơ esmeron 0,6 mg/kg, bổ sung fentanyl 0,3 mg tiêm tĩnh mạch trước khi rạch da BN được thông khí nhân tạo bằng máy gây mê datex omeda (Hoa Kỳ) theo chế độ kiểm soát thể tích với thể tích khí lưu thông (Vt) 500 ml, tần số hô hấp (f) 14 chu kỳ/phút, tỷ lệ thời gian thở vào/thở ra (I:E): 1:2 Trong suốt quá trình gây mê và phẫu thuật, nhịp tim dao động 70 - 80 chu kỳ/phút, huyết áp dao động 120 - 140/70 -

Trang 4

195

khi PTNS, tiến hành cài đặt áp lực bơm

tư thế BN đầu thấp nghiêng trái

thấy ruột thừa ở vị trí bình thường có viêm

hoại tử ở thân và gốc, kích thước 1,8 cm,

thành mỏng chưa vỡ, có ít dịch ở hố chậu

phải, tiến hành cắt ruột thừa ngược dòng

thuận lợi, lau rửa ổ bụng nhẹ nhàng, đặt

dẫn lưu ở túi cùng Douglas, lượng máu

mất không đáng kể Tổng lượng dịch

truyền trong phẫu thuật NaCl 0,9% 500 ml

và lượng nước tiểu 200 ml/3 giờ Thời

gian phẫu thuật 45 phút BN không được

sử dụng thuốc giải giãn cơ và được bóp

bóng chuyển Khoa Hồi sức cấp cứu theo

dõi tiếp Sau phẫu thuật 20 phút, BN tỉnh

táo hoàn toàn, phục hồi các phản xạ, hô

hấp và huyết động ổn định, BN được rút

ống nội khí quản Tại Khoa Hồi sức cấp

cứu, tình trạng huyết động và hô hấp của

BN ổn định, dẫn lưu ngày đầu tiên sau mổ

100 ml dịch màu hồng nhạt, các ngày sau

giảm dần và rút sonde dẫn lưu vào ngày

các xét nghiệm INR 1,13, PT 70%, aPTT

25,7 s, fibrinogen 5,57 g/l Sau mổ, BN

được tiếp tục sử dụng thuốc betaloc 50

mg/ngày, tiêm tĩnh mạch vitamin K1 ống 5

mg x 2 ống/ngày và tiêm tĩnh mạch

transamin 1 g/ngày Tiếp tục tạm dừng

sintrom sau mổ, ngày thứ 5 sau mổ, cắt

chỉ, dùng lại sintrom uống 1 mg/ngày,

kiểm soát chặt chẽ dịch vào, dịch ra BN

được ra viện ngày thứ 9 sau mổ

BÀN LUẬN

Đối với BN đang sử dụng thuốc chống

đông đường uống cần phẫu thuật, bác sỹ

gây mê sẽ phải cân nhắc 2 nguy cơ: nguy

cơ chảy máu trong và sau phẫu thuật

do tác dụng của thuốc chống đông và nguy cơ huyết khối tắc mạch đột quỵ khi ngừng thuốc chống đông trước phẫu thuật

BN của chúng tôi có tiền sử đột quỵ, hiện đang phải dùng thuốc chống đông sintrom

để điều trị rung nhĩ cần phải phẫu thuật cắt ruột thừa viêm Vì thế, chiến lược gây

mê hồi sức trước, trong, sau phẫu thuật cũng như việc lựa chọn thời điểm thích hợp cho phẫu thuật là rất quan trọng nhằm

1 Một vài nét về sintrom

Acenocoumarol (biệt dược sintrom) là dẫn xuất của 4-hydroxycoumarin và là một thuốc chống đông kháng vitamin K Sintrom tác động theo cơ chế cạnh tranh với vitamin K làm ức chế tổng hợp ở gan một số yếu tố đông máu như yếu tố II, VII,

IX, X, protein C, protein S và như vậy cản trở quá trình đông máu Thuốc được hấp thu gần hoàn toàn trong vài giờ sau khi uống Trong máu, thuốc được liên kết gần hoàn toàn > 90% với protein huyết tương

và có thể tách ra dễ dàng Gan chuyển hóa thuốc thành các chất để đào thải vào trong mật Sintrom còn được đào thải nguyên dạng qua thận Sau khi uống, thuốc bắt đầu có tác dụng trong 24 - 48 giờ và kéo dài từ 2 - 4 ngày với thời gian bán thải 8 - 9 giờ Vì vậy, sintrom không bao giờ được dùng khi có cấp cứu và sau khi ngừng thuốc, tác dụng còn kéo dài tương ứng với thời gian cần cho gan tổng hợp được các yếu tố đông máu và cần cho thải trừ thuốc Sintrom hàm lượng 4

mg, liều dùng 2 - 12 mg/24 giờ Liều dùng thuốc phải điều chỉnh thích hợp cho từng

BN trong từng giai đoạn, căn cứ vào xét nghiệm đông máu INR Khi ngừng thuốc, phải giảm liều dần để tránh phản ứng tăng

Trang 5

196

đông đột ngột [2] Khi sử dụng thuốc này,

duy trì INR 1,5 - 2 để dự phòng huyết khối

tĩnh mạch sâu, 2 - 3 trong rung nhĩ, bệnh

van tim do thấp và 2,5 - 4 với van tim nhân

tạo [2] Khi sử dụng sintrom, BN phải

ngưng thuốc chống đông trước phẫu thuật

4 - 5 ngày với phẫu thuật chương trình và

phẫu thuật an toàn nếu INR < 1,5 Nếu

đông đường uống, phải ngừng thuốc này ít

nhất 5 ngày để INR < 1,5 Nếu INR > 3

có thể phải ngừng thuốc trên 5 ngày để

thần kinh và những phẫu thuật lớn ngoài

tim, INR < 1,2 trước phẫu thuật là tốt nhất

[3]

2 Nguy cơ chảy máu trong và sau

phẫu thuật

James D Douketis và CS (2012) đã đề

xuất một số phẫu thuật liên quan với gia

tăng nguy cơ chảy máu ở BN đang sử

dụng thuốc chống đông bao gồm: phẫu

thuật cắt bỏ tiền liệt tuyến, bàng quang,

thận, polýp đại tràng; phẫu thuật ở các

tạng giàu mạch máu như gan, lách; phẫu

thuật tim, sọ não, cột sống; phẫu thuật lớn

gây tổn thương mô nhiều như phẫu thuật

ung thư, tạo hình khớp [5] BN của chúng

tôi mặc dù đang sử dụng thuốc chống

đông đường uống, nhưng phẫu thuật cắt

ruột thừa nội soi không nằm trong số các

loại phẫu thuật trên gây gia tăng nguy cơ

chảy máu trong và sau phẫu thuật Hơn

nữa, liều sintrom 1 mg/ngày không phải

là liều cao, do đó chúng tôi quyết định tiếp

tục điều chỉnh tình trạng rối loạn đông máu

và chờ xét nghiệm INR đạt tối ưu sẽ tiến

hành phẫu thuật cấp cứu có trì hoãn cho

BN

3 Nguy cơ huyết khối tắc mạch và đột quỵ trong và sau phẫu thuật

Bảng điểm CHADS2 để đánh giá nguy

cơ đột quỵ đối với BN bị rung nhĩ, trong đó: C (congestive heart failure) - suy tim

ứ huyết, H (hypertension) - tăng huyết áp,

A (age) - tuổi ≥ 75, D (diabetes mellitus) - đái tháo đường, S2 (prior stroke or transient ischemic attack) - tiền sử có đột quþ hoặc cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua Mỗi thông số trên được tính 1 điểm, riêng thông số S2 được tính 2 điểm Nếu tổng số điểm 0 điểm: nguy cơ thấp, 1

- 2 điểm: nguy cơ vừa, > 3 điểm: nguy cơ cao [1] BN của chúng tôi 57 tuổi, suy tim

độ II, rung nhĩ, tiền sử đột quỵ não 4 năm Theo bảng điểm CHADS2, BN được 3 điểm, thuộc nhóm nguy cơ vừa, nguy cơ

bị đột quỵ khi không dùng warfarin là 5,27% và có dùng warfarin là 2,2% [1] Hiệp hội Gây mê châu Âu (2013) khuyến cáo thuốc kháng vitamin K nên tiếp tục dïng cho BN ở nhóm 1 bao gồm

BN trải qua các phẫu thuật ngoài da, răng miệng, mắt, nội soi chẩn đoán bệnh lý dạ dày, đại tràng (phân loại 1C) BN thuộc nhóm 2 là nhóm nguy cơ thấp (rung nhĩ với điểm CHADS2 ≤ 2, BN điều trị > 3 tháng không có huyết khối tắc mạch tái phát) Nếu cần phẫu thuật, yêu cầu INR < 1,5 và ngừng thuốc kháng vitamin K

5 ngày trước phẫu thuật, không cần thiết

sử dụng liệu pháp điều trị bắc cầu heparin, phải xét nghiệm INR vào ngày trước phẫu thuật và uống 5mg vitamin K nếu INR > 1,5 (phân loại 1C) [6] BN thuộc nhóm 3 là nhóm nguy cơ cao (rung nhĩ với điểm CHADS2 > 2, BN bị huyết khối tắc mạch tái phát được điều trị < 3 tháng, BN thay

Trang 6

197

van tim cơ học) Nên sử dụng liệu pháp

điều trị bắc cầu heparin, cụ thể: ngày thứ

5 sử dụng liều kháng vitamin K cuối cùng,

ngày thứ 4 không sử dụng heparin, ngày

thứ 3 và thứ 2 tiêm dưới da heparin

trọng lượng phân tử thấp 2 lần/ngày,

ngày thứ 1: nhập viện và xét nghiệm INR,

ngày thứ 0: phẫu thuật (phân loại 1C) [6]

Với BN thuộc nhóm 1 và 2, nên bắt đầu

sử dụng lại thuốc kháng vitamin K vào

ngay buổi tối sau phẫu thuật bằng cách

tiêm dưới da heparin trọng lượng phân tử

thấp cho đến khi đạt được giá trị đích của

INR trong hai lần xét nghiệm (phân loại

1C) [6] BN thuộc nhóm 3 nên bắt đầu

dùng lại heparin trọng lượng phân tử thấp

hoặc heparin không phân đoạn sau phẫu

thuật 6 - 48 giờ, có thể sử dụng lại thuốc

kháng vitamin K nếu sau phẫu thuật đã ổn

định cầm máu (phân loại 1C) [6] BN

của chúng tôi theo bảng điểm CHADS2

được 3 điểm nằm trong nhóm nguy cơ cao

theo khuyến cáo của Hiệp hội Gây mê

châu Âu (2013), tuy nhiên, do phẫu thuật

cắt ruột thừa viêm là phẫu thuật cấp cứu

có trì hoãn nên không thể áp dụng liệu

pháp điều trị bắc cầu heparin trong 5

ngày Với BN sử dụng thuốc kháng

vitamin K mà phải phẫu thuật cấp cứu

hoặc xuất hiện biến chứng chảy máu thì

truyền phức hợp prothrombin đậm đặc 25

đơn vị FIX/kg (phân loại 1B) [4] BN của

chúng tôi uống sintrom 1 mg/ngày, thuốc

kháng vitamin K, cần phải phẫu thuật cấp

cứu cắt ruột thừa nội soi do không có

phức hợp prothrombin đậm đặc nên được

truyền 500 ml huyết thanh tươi đông lạnh

trước phẫu thuật Vào ngày thứ 5 sau

phẫu thuật, BN được dùng lại thuốc chống

đông kháng vitamin K, như vậy chúng tôi

đã sử dụng lại thuốc này muộn hơn so với khuyến cáo [6] Tuy nhiên, có lẽ do BN của chúng tôi có được đặt dẫn lưu Douglas giúp theo dõi chảy máu sau phẫu thuật, nhưng đây cũng là một sang chấn gia tăng nguy cơ chảy máu cho BN Vì thế, tiếp tục tiêm tĩnh mạch vitamin K1 ống 5

mg/ngày tới ngày thứ 3 sau khi rút dẫn lưu Douglas Sau phẫu thuật, BN được tiếp tục theo dõi diễn biến đông chảy máu cả trên lâm sàng và xét nghiệm, duy trì giá trị INR sau phẫu thuật 1,13 - 1,5 BN ổn định

ra viện vào ngày thứ 7 sau phẫu thuật

KẾT LUẬN

Gây mê cho phẫu thuật ở BN đang sử dụng thuốc chống đông đường uống để điều trị bệnh lý tim mạch, bên cạnh những khó khăn về vô cảm cho BN bị bệnh lý tim mạch nói chung, cần có những kiến thức cập nhật về rối loạn đông chảy máu để cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ khi tạm dừng thuốc chống đông trước phẫu thuật

và tiếp tục dùng lại thuốc chống đông sau phẫu thuật, giúp đưa ra phương án tối ưu tránh tai biến chảy máu cũng như huyết khối tắc mạch đột quỵ xung quanh cuộc phẫu thuật, đặc biệt trong trường hợp phẫu thuật cấp cứu cho BN nguy cơ cao

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Đạt Anh, Nguyễn Lân Việt, Phạm Quang Vinh, Nguyễn Quốc Anh Các

thang điểm thiết yếu sử dụng trong thực hành lâm sàng NXB Y học 2007, tr.315

2 Phạm Tử Dương Thuốc tim mạch NXB

Y học 2007, tr.545-551

Trang 7

198

3 Trịnh Anh Trí Điều trị bằng các thuốc kháng đông Đông máu ứng dụng trong lâm sàng NXB Y

học 2002, tr.191-213

4 Kearon Clive, Hirsh Jack Management of anticoagulation before and after elective surgery

NEJM 1997, 22, pp.1506-1512

5 James D Douketis et al Perioperative management of antithrombotic therapy:

Antithrombotic therapy and prevention of thrombosis Chest 2012, 141 (2), pp.326S-350S

6 European Society of Anaesthesiology Management of severe perioperative bleeding.

Ngày đăng: 21/01/2020, 18:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w