1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát sự hiểu biết sử dụng các loại thuốc xịt mũi ở bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM

6 78 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 281,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Viêm mũi xoang đang trở thành một bệnh lý chiếm tỉ lệ cao trong chuyên khoa Tai mũi họng. Điều trị nội khoa chiếm vai trò quan trọng trong quá trình điều trị. Để điều trị đạt hiệu quả đòi hỏi bệnh nhân cần có kiến thức hiểu biết về các thuốc xịt mũi đang dùng cũng như sử dụng đúng cách. Nghiên cứu mục tiêu nhằm khảo sát sự hiểu biết sử dụng các loại thuốc xịt mũi trên bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tại Bệnh viện Đại học Y Dược.

Trang 1

KHẢO SÁT SỰ HIỂU BIẾT SỬ DỤNG CÁC LOẠI THUỐC XỊT MŨI

Ở BỆNH NHÂN VIÊM MŨI XOANG MẠN TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

Phạm Thị Xuân Thư*, Lâm Huyền Trân**

TÓM TẮT

Viêm mũi xoang đang trở thành một bệnh lý chiếm tỉ lệ cao trong chuyên khoa Tai mũi họng Điều trị nội khoa chiếm vai trò quan trọng trong quá trình điều trị Để điều trị đạt hiệu quả đòi hỏi bệnh nhân cần có kiến thức hiểu biết về các thuốc xịt mũi đang dùng cũng như sử dụng đúng cách

Mục tiêu: Khảo sát sự hiểu biết sử dụng các loại thuốc xịt mũi trên bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tại Bệnh viện Đại học Y Dược

Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả

Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân viêm mũi xoang mạn đến khám tại khoa Tai mũi họng Bệnh viện Đại học Y dược từ tháng 1/2012 đến tháng 7/2012 Mẫu thu thập được 200 bệnh nhân bằng cách phỏng vấn trực tiếp dựa trên bảng câu hỏi thu thập số liệu

Kết quả: Độ tuổi mắc bệnh là tuổi lao động Hai loại thuốc xịt mũi được sử dụng nhiều nhất là thuốc kháng viêm steroid và nước muối xịt rửa mũi Về hiểu biết tác dụng của thuốc: 43% bệnh nhân không có kiến thức về tác dụng của thuốc đang sử dụng Nhóm ngành nghề lao động trí óc và nhóm trình độ học vấn cao có kiến thức hiểu biết cao hơn nhóm lao động chân tay, trình độ học vấn thấp Về cách thức sử dụng thuốc, 70% bệnh nhân sử dụng thuốc theo toa bác sĩ, tuy nhiên có khoảng ½ số lượng bệnh nhân dùng thuốc thời gian kéo dài không theo chỉ định của bác sĩ Hầu hết bệnh nhân không có kiến thức hiểu biết đúng về tác dụng phụ của thuốc.Về cách sử dụng thuốc của bệnh nhân, 75% bệnh nhân không sử dụng nước muối sinh lý rửa mũi trước khi xịt thuốc và cũng không có ý thức về tầm quan trọng của việc này Và hầu hết bệnh nhân đều có tư thế xịt thuốc và động tác cầm bình xịt sai Về các nguồn thông tin tìm hiểu, nguồn thông tin hiểu biết của bệnh nhân chủ yếu là bác sĩ và đọc tờ hướng dẫn Khoảng ½ số lượng bệnh nhân không được hướng dẫn cách xịt mũi đúng Vướng mắc bệnh nhân gặp phải là tác dụng phụ của thuốc, sau đó là tác dụng và cách sử dụng đúng Khoảng ½ số lượng bệnh nhân không có ý thức tìm hiểu những thông tin để giải quyết các vướng mắc của mình

Kết luận: Từ kết quả nghiên cứu cho thấy kiến thức hiểu biết của bệnh nhân về thuốc xịt mũi còn thấp, ý thức về tầm quan trọng của việc sử dụng thuốc đúng cách còn chưa cao Chúng tôi mong rằng nghiên cứu có thể đem đến cho các bác sĩ lâm sàng và các nhà dịch tễ học cái nhìn tổng quát về tình hình sử dụng thuốc của bệnh nhân, từ đó có những phương pháp để việc sử dụng thuốc của bệnh nhân hiệu quả và an toàn hơn

Từ khóa: Viêm mũi xoang mạn, xịt mũi

ABSTRACT

ASSESSMENT OF CHRONIC SINUSITIS PATIENTS ‘KNOWLEDGE OF NASAL SPRAY TREATMENT

AT THE UNIVERSITY MEDICAL CENTER IN HOCHIMINH CITY

Pham Thi Xuan Thu, Lam Huyen Tran

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - Supplement of No 1 - 2013: 66 - 71

* Lớp Y2006 ĐHYD tpHCM, ** Bộ môn Tai Mũi Họng Đại học Y Dược TP HCM

Trang 2

Rhinosinusitis is becoming a highly prevalent disease in otorhinolaryngology nowadays Medical treatment plays an important role in the disease therapy; so patients suffer from the condition should have basic knowledge about the nasal spray treatment as well as proper usage to ensure effective therapy

Objective: A study was conducted to assess chronic sinusitis patients’ knowledge of nasal spray treatment at the University Medical Center in Ho Chi Minh city

Method: The study was designed as a cross-sectional investigation Objects of the study are chronic sinusitis patients who were hospitalized at University Medical Center HCMC’s Department of Otorhinolaryngology from 1/2012 to 7/2012 Samples of 200 patients were collected from direct questionnaire-based interviews

Results: The study found that the illness most commonly appears in the working-age group In addition, the two most popular treatments among the patients are nasal steroid sprays and saline nasal sprays Alarming fact from the study is that 43 percent of sampled patients didn’t know or understand the effects of the drugs they were using Intellectual labor and highly-educated patients were more knowledgeable than manual labor and low-educated groups however Regarding treatment recommendation, 70 percent of patients visited doctor to have prescription However, about 50 percent of them took longer treatment than doctor’s direction The study also found that most patients are not aware of drug side effects Regarding proper drug usage, 75 percent of patients did not use normal saline before using their sprays and did not understand how important that was Moreover, most patients took the spray and held the spray tube in the wrong way According to the study, patients’ knowledge of drug usage came mostly from doctor guidance and reading drug instruction enclosed in the package Around 50 percent of patients were not shown how to hold the nasal spray properly Last but not least, many patients ran into troubles of drug side effect, drug effect as well as proper drug usage However, 50 percent of sampled patients did not have the desire to solve their problems through looking for information

Conclusion: From what the research shows, we can illustrate the general picture of patient knowledge of rhinosinusitis treatment Most have limited knowledge of nasal spray treatment and lack awareness of the importance of using drugs properly Through the study, we hope we could give clinicians and epidemiologists an overview of the current situation of nasal spray treatment usage among patients and ensure more effective ways to cure patients in the future

Key words: Chronic sinusitis, nasal spray

MỞ ĐẦU

Trong điều kiện sinh hoạt xã hội và môi

trường hiện nay, tình hình bệnh lý viêm mũi

xoang đang có xu hướng ngày càng tăng và trở

thành một bệnh chiếm tỷ lệ cao trong chuyên

khoa Tai Mũi Họng, gây tốn kém cho bản thân

người bệnh và cho xã hội Tại Mỹ, thống kê năm

1997 cho thấy số người khám bệnh vì viêm mũi

xoang chiếm tỉ lệ 15% số người tới khám, bao

gồm cả viêm mũi xoang cấp và viêm mũi xoang

mạn(6). Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu

Khôi, tỉ lệ viêm mũi xoang chiếm 5% dân số(6,7)

Việc điều trị nội khoa trong viêm mũi xoang góp

phần rất quan trọng trong đó có việc sử dụng các

được sử dụng hiện nay như: thuốc kháng sinh dạng xịt, thuốc co mạch, thuốc steroids và các dung dịch bơm rửa(7) Việc sử dụng các thuốc xịt mũi tại chỗ giúp phát huy tác dụng của thuốc và hạn chế được những tác dụng phụ toàn thân Mỗi loại thuốc có những công dụng, chỉ định và chống chỉ định khác nhau, để sử dụng hiệu quả đòi hỏi bệnh nhân cần có kiến thức về tác dụng và cách sử dụng của thuốc đang dùng, cũng như hiểu rõ về những tác dụng phụ, tránh lạm dụng thuốc

Mục tiêu tổng quát Khảo sát sự hiểu biết sử dụng các loại thuốc xịt mũi trên bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tại

Trang 3

Mục tiêu chuyên biệt

1 Khảo sát các đặc điểm của mẫu nghiên

cứu

2 Khảo sát kiến thức hiểu biết của bệnh

nhân viêm mũi xoang về thuốc xịt mũi

3 Khảo sát cách sử dụng thuốc xịt mũi của

bệnh nhân viêm mũi xoang mạn

4 Khảo sát nguồn thông tin bệnh nhân tìm

hiểu, những vướng mắc khó khăn trong quá

trình sử dụng thuốc xịt mũi và cách giải quyết

thắc mắc

Tổng quan

Thuốc kháng sinh dạng xịt (8)

Thành phần: Kháng sinh nhóm

aminoglycosides, moxifloxacin, tobramycin

Tác dụng: Diệt khuẩn tại chỗ, chỉ định trong

viêm mũi xoang do vi khuẩn, nấm hay viêm mũi

xoang dị ứng bội nhiễm

Tác dụng phụ: Kháng thuốc, dị ứng thuốc,

rối loạn tiêu hóa, suy gan, điếc …

Thuốc co mạch

Thành phần: Ephedrine, oxymetazoline,

xylometazoline…

Tác dụng: Giảm triệu chứng nghẹt mũi, khó

thở khó chịu do tác dụng làm co thắt mạch máu,

thông thoáng đường thở

Tác dụng phụ: Dị ứng, phù nề niêm mạc,

đau rát, phù da phù mặt…

Thận trọng: Khuyến cáo không nên sử dụng

thuốc co mạch kéo dài quá 7 ngày vì có thể gây

“hội chứng dội ngược” (rhinitis medicamentosa)

làm niêm mạc mũi sung huyết trở lại và triệu

chứng nặng nề hơn (8)

Thuốc steroids

Thành phần: Chứa corticosteroids như

beclomethasone, diproprionate, fluticasone

propionate, fluticasone furoate, budesonide…

Tác dụng: Giảm các triệu chứng viêm, tắc

nghẽn mũi, hắt hơi

Tác dụng phụ: Nhiễm trùng nhiễm nấm, giảm sức đề kháng, loãng xương, béo phì, tăng huyết áp, đái tháo đường… (3,8)

Dung dịch bơm rửa mũi

Có nhiều loại dung dịch bơm rửa mũi như dung dịch nước muối NaCl sinh lý, dung dịch

ưu trương, nước biển sâu Xisat…

Tác dụng: Làm sạch các dịch niêm dính, rửa sạch các vùng mũi xoang, se niêm mạc, giúp cho việc hấp thu các thuốc điều trị tốt hơn

Các dung dịch bơm rửa mũi không có tác dụng phụ (1,8)

Cách sử dụng thuốc xịt mũi

Có 2 cách sử dụng:

Cách 1: Cách sử dụng thuốc steroids dạng xịt Ngồi hơi cúi đầu về phía trước Dùng tay trái cho mũi phải Ngược lại dùng tay phải cho mũi trái (2)

Cách 2: cách sử dụng dung dịch bơm rửa mũi Ngồi hơi cúi đầu về phía trước Dùng tay trái cho mũi trái và tay phải cho mũi phải (4) ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

Đối tượng nghiên cứu Bệnh nhân viêm mũi xoang mạn đến khám

và điều trị tại bệnh viện đại học Y dược

Cỡ mẫu

Công thức ước lượng tỉ lệ của dân số:

N = Z 21-α/2 P (1-P) / d 2

Z: Trị số phân phối chuẩn α = 0.05  Z 0.975 = 1,96

α: xác suất sai lầm loại I

P: tỉ lệ theo y văn là 15%

d: độ chính xác, d = 0,05

 N = 195

 Cỡ mẫu ít nhất là 195 trường hợp

Trang 4

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Bệnh nhân được chẩn đoán viêm mũi xoang

mạn trên lâm sàng và cận lâm sàng

Các triệu chứng cơ năng: nhức đầu, đau

nhức vùng mặt, vùng trán, thái dương, sau

gáy, chảy nước mũi sau, nghẹt mũi, giảm/mất

khứu giác

Nội soi chẩn đoán: hình ảnh sung huyết phù

nề, chất tiết nhầy đặc, chất tiết nhầy mủ, chất tiết

toàn mủ

Hình ảnh CT-Scan: tắc nghẽn tại phức hợp lỗ

thông mũi xoang, dày niêm mạc ở các xoang

Tiêu chuẩn loại ra

Tuổi < 16

Bệnh nhân bị bệnh lý tâm thần hoặc sa sút

trí tuệ

Bệnh nhân không đồng ý tham gia

nghiên cứu

Bệnh nhân không trả lời đầy đủ các thông tin

trong bảng thu thập

KẾT QUẢ VÀ BẢN LUẬN

Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Giới

Nam chiếm 47,5%, nữ chiếm 52,5% Tỉ lệ

nam nữ xấp xỉ ngang nhau So sánh với nghiên

cứu của Lê Minh Tâm cũng cho kết quả phân bố

giới tính đồng đều nhau nam: nữ = 1:1(1) Điều

này phù hợp với phân bố tỉ lệ bệnh viêm mũi

xoang không phân biệt theo giới tính

Tuổi

Tuổi trung bình = 38,17 ± 13,08 Tuổi lớn nhất

là 72 tuổi Tuổi nhỏ nhất là 16 tuổi Kết quả phù

hợp với nghiên cứu của các tác giả Nguyễn

Phạm Trung Nghĩa, Lê Minh Tâm và Nguyễn

Hữu Khôi(6,5,1)

Lứa tuổi mắc bệnh nhiều nhất là 36 – 55 tuổi

Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của

tác giả Lê Minh Tâm, nhóm tuổi mắc bệnh nhiều

nhất là 31 – 45 tuổi (1) Điều này cho thấy viêm

thể do tác động nhiều của môi trường lao động dẫn đến bệnh viêm xoang

Nghề nghiệp: 2 nhóm ngành nghề chiếm tỉ lệ cao nhất là nông dân (22%) và buôn bán (21%),

kế đó là công nhân viên (14%) và công nhân (6%) Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của tác giả Lê Minh Tâm, bệnh xảy ra chủ yếu ở bệnh nhân tiếp xúc với bụi công nghiệp và nông nghiệp (53,3%), và ở bệnh nhân làm việc trong môi trường máy lạnh lâu dài(1)

Trình độ học vấn: cấp 3 chiếm tỉ lệ cao nhất (34,5%), kế đó là đại học 28,5%

Hoàn cảnh kinh tế: hoàn cảnh kinh tế trung bình chiếm tỉ lệ cao nhất (76,5%), kế đến là khá-giàu chiếm 19%

Triệu chứng lâm sàng: nhức đầu chiếm tỉ

lệ cao nhất 75,5%, sau đó đến nghẹt mũi 71,5%

và chảy mũi 67% So sánh với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác như Nguyễn Phạm Trung Nghĩa, Nguyễn Hữu Khôi, Lê Minh Tâm cho thấy nhức đầu, nghẹt mũi và chảy mũi là 3 triệu chứng chính bệnh nhân than phiền nhiều nhất, trong đó nhức đầu là triệu chứng thường gặp nhất(,1,56,)

Thời gian bệnh: thời gian mắc bệnh kéo dài >

2 năm, chiếm 73,5% Kết quả này cũng phù hợp với tác giả Lê Minh Tâm có số bệnh nhân có thời gian mắc bệnh kéo dài > 2 năm chiếm đến 70%(1)

Kiến thức hiểu biết về thuốc xịt mũi Bảng 1: Các thuốc xịt mũi đang sử dụng

Thuốc Kháng sinh Co mạch Kháng viêm NaCl

Ca (%) 4,5% 10% 62,5% 66%

Hai nhóm thuốc xịt mũi được sử dụng nhiều nhất là dung dịch bơm rửa mũi và thuốc steroids Điều này phù hợp với tình hình sử dụng thuốc hiện nay Thuốc kháng sinh ít được sử dụng do tỉ lệ kháng thuốc cao nên dùng đường toàn thân hiệu quả hơn Thuốc co mạch ít dùng do thuốc có nhiều tác dụng phụ

và dễ bị lạm dụng

Trang 5

Bảng 2: Hiểu biết tác dụng của thuốc và các mối liên

quan

Tác

dụng

Thông

mũi

Sạch mũi

Chống viêm

Giảm triệu chứng

Kháng khuẩn Không

Ca (%) 17% 31,5% 9,5% 9% 1,5% 43%

43% bệnh nhân không biết tác dụng của

thuốc đang sử dụng Hai tác dụng được bệnh

nhân ghi nhận chủ yếu là sạch mũi và thông mũi

(31,5% và 17%) Có thể đây là tác dụng bệnh

nhân cảm nhận rõ ràng nhất nên được các bệnh

nhân ghi nhận nhiều nhất

Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong mối

liên quan giữa nghề nghiệp và hiểu biết tác dụng

của thuốc p = 2,05 10-5 (p < 0,05) Nhóm lao động

trí óc có kiến thức hiểu biết cao hơn nhóm lao

động chân tay

Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa trình

độ học vấn và kiến thức hiểu biết tác dụng của

thuốc p = 8,99 10-8 (p < 0,05) Nhóm trình độ học

vấn cao có kiến thức hiểu biết cao hơn nhóm

trình độ học vấn thấp

Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê trong

liên quan giữa hoàn cảnh kinh tế và kiến thức

hiểu biết về tác dụng của thuốc p = 0,547 (p >

0,05)

Cách thức sử dụng thuốc

70% bệnh nhân dùng thuốc theo chỉ định bác

sĩ 30% còn lại tự mua thuốc ở ngoài về dùng

Bảng 3: Thời gian sử dụng thuốc

Thời gian dùng thuốc Bác sĩ Hết triệu chứng Liên tục

Ca (%) 50,5% 41,5% 8%

Gần ½ bệnh nhân sử dụng thuốc thời gian

quá chỉ định của bác sĩ Điều này là không tốt do

thuốc điều trị viêm mũi xoang thường là kháng

sinh, kháng viêm steroid, thuốc co mạch, kháng

anhistamine… những loại thuốc này sử dụng

kéo dài sẽ để lại nhiều tác dụng phụ không tốt

cho sức khoẻ của bệnh nhân(8)

Hiểu biết về tác dụng phụ của các loại thuốc

xịt mũi

73% bệnh nhân không biết tác dụng phụ của

thuốc kháng sinh

83% bệnh nhân không biết tác dụng phụ của thuốc co mạch

81% bệnh nhân không biết tác dụng phụ của thuốc kháng viêm steroid

Cách sử dụng thuốc xịt mũi

Sử dụng dung dịch bơm rửa mũi: ¾ bệnh nhân không hiểu biết về tác dụng của dung dịch bơm rửa mũi, từ đó chứng tỏ nhận thức của bệnh nhân về vai trò của việc rửa mũi bằng nước muối sinh lí còn thấp

Bảng 4: Tư thế xịt thuốc

Tư thế Ngồi,sau Ngồi,

bên

Ngồi, thẳng

Ngồi, cúi

Nằm, sau

Đứng, sau

Ca (%) 45,5% 1% 22,5% 9,5% 13,5% 8%

Tư thế ghi nhận nhiều nhất là ngồi, ngửa ra sau 90,5% bệnh nhân có tư thế xịt thuốc sai

Bảng 5: Động tác cầm bình xịt

Động tác cầm bình xịt

Phải, 2 bên

Trái, 2 bên

2 tay, cùng bên

2 tay, trái bên

Ca (%) 76% 7,5% 8% 8,5%

Động tác ghi nhận nhiều nhất là tay phải, xịt

2 bên (76%) 91,5% bệnh nhân cầm bình xịt sai

Tư thế xịt thuốc và động tác cầm bình xịt đúng sẽ giúp thuốc đi vào các xoang nhiều hơn

và tốt hơn, giúp cho hiệu quả của thuốc xịt mũi cao hơn và hạn chế được tác dụng phụ tại chỗ của steroid Tỉ lệ đúng còn thấp cho thấy việc sử dụng thuốc không hiệu quả Có thể bệnh nhân chưa được hướng dẫn cách xịt đúng hoặc tuy đã được hướng dẫn nhưng chủ quan nên vẫn làm theo thói quen của mình

Nguồn thông tin, vướng mắc và cách giải quyết Nguồn thông tin của bệnh nhân

Nguồn thông tin chiếm tỉ lệ cao nhất là từ bác sĩ (32,5%), kế tiếp là từ tờ hướng dẫn sử dụng thuốc (19,5%) Đáng lưu ý là có 22,5% bệnh nhân không có nguồn thông tin tìm hiểu nào

Về nguồn thông tin hướng dẫn cách xịt, hơn

½ số lượng bệnh nhân khảo sát không được hướng dẫn cách xịt đúng mà tự xịt (53,5%) Chỉ

có 34,5% số bệnh nhân được bác sĩ hướng dẫn cách xịt

Trang 6

Điều này cho thấy bệnh nhân còn thụ động

trong việc tìm hiểu thông tin và chưa ư thức

được tầm quan trọng của việc hiểu biết kiến thức

và cách xịt thuốc đúng

Các vướng mắc và cách giải quyết

Vướng mắc bệnh nhân gặp phải nhiều nhất

là không biết tác dụng phụ của thuốc họ đang

dùng (75%), kế tiếp là không biết tác dụng của

thuốc và cách sử dụng thuốc đúng (50,5% và

57,5%) Tuy nhiên có tới 40% bệnh nhân không

làm gì để giải quyết vướng mắc đó, chỉ có 21%

bệnh nhân tìm đến bác sĩ điều trị Điều này cho

thấy rằng bệnh nhân còn gặp nhiều vấn đề thắc

mắc và khó khăn khi sử dụng thuốc, cho thấy

kiến thức hiểu biết của bệnh nhân còn thấp

Bệnh nhân không chủ động tìm hiểu cách giải

quyết vướng mắc cho mình cho thấy sự thụ

động trong nhận thức của bệnh nhân

KẾT LUẬN

Hai loại thuốc xịt mũi được sử dụng nhiều

nhất là thuốc kháng viêm steroid và nước

muối xịt rửa mũi Về hiểu biết tác dụng của

thuốc, 43% bệnh nhân không có kiến thức về

tác dụng của thuốc đang sử dụng Nhóm

ngành nghề lao động trí óc và nhóm trình độ

học vấn cao có kiến thức hiểu biết cao hơn

nhóm lao động chân tay, trình độ học vấn

thấp Về cách thức sử dụng thuốc, 70% bệnh

nhân sử dụng thuốc theo toa bác sĩ, tuy nhiên

có khoảng ½ số lượng bệnh nhân dùng thuốc

thời gian kéo dài không theo chỉ định của bác

sĩ Hầu hết bệnh nhân không có kiến thức hiểu

biết đúng về tác dụng phụ của thuốc

Về cách sử dụng thuốc của bệnh nhân, 75%

bệnh nhân không sử dụng nước muối sinh lí rửa

mũi trước khi xịt thuốc và cũng không có ý thức

về tầm quan trọng của việc này Và hầu hết bệnh

nhân đều có tư thế xịt thuốc và động tác cầm

bình xịt sai

Về các nguồn thông tin tìm hiểu, nguồn

thông tin hiểu biết của bệnh nhân chủ yếu là

bác sĩ và đọc tờ hướng dẫn Khoảng ½ số lượng bệnh nhân không được hướng dẫn cách xịt mũi đúng

Vướng mắc bệnh nhân gặp phải là tác dụng phụ của thuốc, sau đó là tác dụng và cách sử dụng đúng Khoảng ½ số lượng bệnh nhân không có ý thức tìm hiểu những thông tin để giải quyết các vướng mắc của mình

KIẾN NGHỊ Trước hết, cần nâng cao nhận thức của bệnh nhân về việc sử dụng thuốc đúng cách.Trong quá trình khám bệnh, bác sĩ cần lưu ý giải thích cho bệnh nhân về tác dụng của thuốc, các tác dụng phụ và hướng dẫn cách sử dụng hiệu quả, đặc biệt là những bệnh nhân có trình độ học vấn thấp, cần được giải thích rõ ràng hơn.Ngoài ra tổ chức những buổi sinh hoạt tập thể viêm mũi xoang để tuyên truyền cách điều trị và sử dụng thuốc hiệu quả, cũng như cách phòng chống bệnh Cần các nghiên cứu khác sâu hơn, cỡ mẫu lớn hơn và thời gian nhiều hơn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Becker DG (2003) Medical treatment of sinusitis, Journal of Long-Term Effects of Medical Implants, 13 (3), p 195–205.

2 De Sutter A, Lemiengre M, Van Maele G, et al (2006) Predicting Prognosis and Effect of Antibiotic Treatment in

November/December 2006 4 (6), p 486 – 494

3 Hansen JG, Schmidt H, Rosborg J, et al (1995) Predicting acute maxillary sinusitis in a general practice population, BMJ, 311, p 233-236

4 Heatley DG, McConnell KE; Kille TL; Leverson GE (2001) Nasal irrigation for the alleviation of sinonasal symptoms, Otolaryngol Head Neck Surg, 125 (1), p 44-48

5 Lê Minh Tâm (2012) Hiệu quả bơm rửa mũi bằng nước muối sinh lí sau phẫu thuật nội soi viêm mũi xoang mạn tính, Luận văn Thạc sĩ Y học Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, trang 35 – 53

6 Nguyễn Hữu Khôi (1998) Viêm xoang cấp – mạn, sách bài giảng Tai mũi họng, trang 201 – 210

7 Nguyễn Phạm Trung Nghĩa (2006) Đặc điểm lâm sàng, CT-Scan và giải phẫu bệnh của viêm mũi xoang mạn, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, trang

33 – 39

8 Wolf J.G.; Mann J (2005) Current Concepts in Therapy of Chronic Rhinosinusitis and Nasal Polyposis, ORL, 2005 67, p 125–136

Ngày đăng: 21/01/2020, 18:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm