1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Điều trị thương tổn mạch máu trong nhu mô thận bằng thuyên tắc mạch chọn lọc

5 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 484,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu và mục tiêu của đề tài trình bày về: Trình bày các trường hợp tiểu máu thứ phát do thương tổn mạch máu trong nhu mô thận đã được điều trị bằng phương pháp thuyên tắc mạch chọn lọc, và nhằm đánh giá hiệu quản của phương pháp điều trị này.

Trang 1

ĐIỀU TRỊ THƯƠNG TỔN MẠCH MÁU TRONG NHU MÔ THẬN

BẰNG THUYÊN TẮC MẠCH CHỌN LỌC

Trần Lê Linh Phương*, Nguyễn Quang Thái Dương, Võ Tấn Đức**,Nguyễn Hoàng Đức, Lê Phúc Liên,

Vũ Hồng Thịnh, Nguyễn Tân Cương***

TÓM TẮT

Mục đích: Trình bày các trường hợp tiểu máu thứ phát do thương tổn mạch máu trong nhu mô thận đã

được điều trị bằng phương pháp thuyên tắc mạch chọn lọc Đánh giá hiệu quản của phương pháp điều trị này

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: trong thời gian 2005-2010, có 5 bệnh nhân bị thương tổn mạch

máu trong nhu mô thận bị tiểu máu tái phát tại bệnh viện Đại học Y Dược Các trường hợp này được điều trị thành công bằng phương pháp thuyên tắc mạch chọn lọc

Kết quả: Gồm 3 BN nam và 2 BN nữ, tuổi trung bình 40 (30-56 tuổi), 3 trường hợp sau phẫu thuật mở

nhu mô thận lấy sỏi, 1 trường hợp sau phẫu thuật cắt thận bán phần, một trường hợp sau lấy sỏi thận qua da Thời gian trung bình từ lúc thương tổn nhu mô thận đến lúc tiểu máu tái phát: 21 ngày (thay đổi từ 14- 37 ngày) Thương tổn mạch máu: 3 trường hợp giả phình mạch và 2 trường hợp rò động mạch- tĩnh mạch trong thận Xử trí: bơm thuyên tắc mạch máu bằng spongel Cả 5 trường hợp đều ngưng tiểu máu ngày thứ nhất sau khi thuyên tắc mạch Kiểm tra bằng siêu âm Doppler mạch máu trong thận sau 1 tháng đều cho két quả phân bố mạch máu trong thận bình thường

Kết luận: Các thương tổn mạch máu trong nhu mô thận sau các phẫu thuật thận có thể điều trị an toàn,

hiệu quản bằng phương pháp chụp động mạch chọn lọc và bơm tắc mạch

Từ khóa: thuyên tắc động mạch thận chọn lọc, giả phình động mạch, rò động mạch- tĩnh mạch thận

ABSTRACT

SELECTIVE ANGIOEMBOLIZATION IN THE MANAGEMENT OF HEMORRHAGE

AFTER RENAL INJURIES

Tran Le Linh Phuong, Nguyen Quang Thai Duong, Vo Tan Duc, Nguyen Hoang Duc, Le Phuc Lien,

Vu Hong Thinh, Nguyen Tan Cuong * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 1 - 2011: 170 - 174

Purpose: To evaluate selective embolization therapy for the management of arterial damage in patients with renal injuries

Materials and methods: From 2007-2009, at University Medical Center, 5 cases of renal injuries due to

different causes underwent selective renal artery embolization After the superselective catheterization with a microcatheter-microguidewire system, embolization was performed using NBCA and Lipiodol mixture

Results: The 5 patients (3 male, 2 female) with mean age 40 (range 30-56 year old) They are a

well-documented source of hemorrhage, renal surgery (3 cases), after nephron-sparing surgery (1 case) and percutaneous procedures (1 case) All the pseudoaneurysms (3 cases) and renal arterial-venous fistula (2 cases) were successfully embolized and excluded from the circulation without any other major intrarenal arterial branch occlusion There were no major or minor complications related to the embolization procedures Haematuria ceased

Trang 2

in 1 days after the embolization, and during the follow-up period both re-bleeding and deterioration of renal function did not occur

Conclusion: The endovascular management of renal artery branch pseudoaneurysms and renal

arterial-venous fistula by embolization is a reasonable and an effective therapeutic technique

Key words: selective renal artery embolization, pseudoaneurysms, renal arterial-venous fistula

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tiểu máu xuất hiện muộn sau các thương

tổn nhu mô thận thường là biến chứng của các

thương tổn mạch máu trong thận(11) Các thương

tổn này bao gồm rò động mạch- tĩnh mạch và

giả phình của nhánh động mạch trong nhu mô

thận Đây là nguyên nhân gây tiểu máu tái phát

sau các trường hợp có thương tổn nhu mô thận

trước đó như chấn thương thận, sinh thiết thận,

phẫu thuật thận, phẫu thuật xuyên nhu mô thận

qua da…(9,1) Các trường hợp tiểu máu tái phát

này có thể rất nặng ảnh hưởng đến huyết động

học cần phải được can thiệp ngoại khoa(7),

nhưng lại có thể được điều trị thuyên tắc mạch

chọn lọc để không phải cắt thận(2) Chúng tôi

thực hiện báo cáo này dựa trên cơ sở các trường

hợp tổn thương loại này đã được điều trị thành

công tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí

Minh

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Từ tháng 2/2007 đến tháng 10/2010, tại Bệnh

viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, chúng tôi

có 5 bệnh nhân bị tiểu máu tái phát do thương

tổn mạch máu sau thương tổn nhu mô thận

được diều trị bằng thuyên tắc mạch chọn lọc

Các thương tổn này bao gồm rò động mạch-

tĩnh mạch và giả phình nhánh động mạch trong

thận, được chẩn đoán nhờ vào chụp động mạch

thận chọn lọc

Phương pháp điều trị: Chọc dò và luồn

catheter vào động mạch đùi phải theo phương

pháp Seldinger Đưa catheter vào động mạch

thận bên thương tổn và bơm thuốc cản quang

chụp động mạch thận Sau khi xác định được vị trí và loại thương tổn mạch máu, luồn 1 microcatheter vào nhánh động mạch có túi giả phình hoặc có đường rò động mạch- tĩnh mạch trong Bơm vào nhánh động mạch này N-butyl cyanoacrylate (spongel) trộn với lipiodol

KẾT QUẢ

Có 5 bệnh nhân gồm 3 nam và 2 nữ Tuổi trung bình là 40 (thay đổi từ 30 đến 56 tuổi)

Nguyên nhân gây thương tổn mạch máu

- Sau mổ mở nhu mô thận lấy sỏi: 3 trường hợp

- Sau cắt thận bán phần do ung thư tế bào thận: 1 trường hợp

- Sau lấy sỏi thận qua da: 1 trường hợp Thời gian xuất hiện tiểu máu trung bình sau thương tổn thận ban đầu: 21 ngày (thay đổi từ 14-37 ngày)

Các thương tổn mạch máu

Giả phình nhánh động mạch trong thận: 3 trường hợp, rò động mạch- tĩnh mạch trong nhu

mô thận: 2 trường hợp

Cả 5 trường hợp bệnh nhân đều ngưng tiểu máu ngay ngày thứ nhất sau thuyên tắc Không

có trường hợp nào tiểu máu tái phát sau đó Thời gian nằm viện trung bình sau thuyên tắc: 3 ngày (thay đổi từ 2-7 ngày)

Kiểm tra bằng siêu âm Doppler mạch máu trong thận sau 1 tháng: cả 5 trường hợp đều có tưới máu nhu mô thận bình thường

Trang 3

Hình 1: Túi giả phình sau phẫu thuật lấy sỏi thận trái, trước và sau khi thuyên tắc mạch

Hình 2: Túi giả phình sau lấy sỏi thận qua da, trước và sau khi thuyên tắc mạch

BÀN LUẬN

Các thương tổn của nhu mô thận: chấn

thương thận, sinh thiết thận, phẫu thuật thận,

phẫu thuật xuyên nhu mô thận qua da…đều có

thể gây thương tổn một nhánh của động mạch

thận Khi tổn thương động mạch xảy ra, máu

động mạch với lưu lượng áp lực cao sẽ thoát

mạch tràn vào hệ thống tĩnh mạch đang có áp

lực thấp gây ra rò động – tĩnh mạch; hoặc tràn

vào nhu mô thận và vùng mô quanh rốn thận

tạo ra túi phình giả Trong những trường hợp

thuật(4), trong đó các nguyên nhân thường gặp nhất là lấy sỏi thận qua da, mổ mở thận, sinh thiết thận Các nguyên nhân gây thương tổn mạch máu không do y thuật, vết thương thận chiếm tỷ lệ cao hơn (18% các vết thương thận) chấn thương thận (11% các chấn thương thận nặng)(6)

Srivastava (15) thống kê 1854 bệnh nhân lấy sỏi thận qua da có 27 trường hợp (1,4%) chảy máu sau mổ cần can thiệp nội mạch Trung bình thời gian từ PCNL đến khi chảy máu là 8 ngày

Trang 4

lưng (3,7%) Có 11,3% trường hợp chảy máu

nhưng không phát hiện tổn thương khi chụp

động mạch chọn lọc Tắc mạch chọn lọc thực

hiện ở 24 bệnh nhân và thành công trong 22

trường hợp (91,6%) Vật liệu để tắc mạch: 13

trường hợp dùng coil kim loại, 5 trường hợp

dùng Gelfoam và 6 trường hợp dùng cả hai vật

liệu Sau tắc mạch có 2 trường hợp chảy máu tái

phát do trôi coil kim loại khỏi vị trí thuyên tắc

Nồng độ creatinine huyết thanh không thay đổi

so với trước và sau tắc mạch Theo Srivastava (15),

kích thước sỏi lớn là yếu tố nguy cơ duy nhất

gây chảy máu khi thực hiện PCNL Trái lại

El-nahas(3) cho rằng các yếu tố nguy cơ chảy máu

gồm: đường vào thận từ đài trên, thận duy nhất,

sỏi san hô toàn bộ, vào thận với nhiều đường

hầm và kinh nghiệm phẫu thuật viên kém

Mặc dù mặt sau đài dưới được xem là vùng

thao tác an toàn nhất khi nong đường hầm vào

thận, nhưng Sampaio đã phát hiện 38% các đơn

vị thận có một nhánh động mạch đi sát quanh cổ

đài dưới Nhánh mạch máu này là nguyên nhân

gây chảy máu trong 13% trường hợp vào thận

qua đài dưới(13) Để tránh chảy máu trong PCNL,

phẫu thuật viên phải tuân thủ một số nguyên

tắc: vào thận từ đài sau(13), vào thận từ đáy của

đài thận(5), không nong đường hầm quá sâu vào

đến bể thận(16) và không xoắn vặn ống soi thận

quá mức trong lúc tháo tác để tránh làm rách

nhu mô thận(5) Ngoài ra để hạn chế chảy máu,

nên nong đường hầm vào thận bằng bóng thay

vì nong bằng ống nong Amplatz hoặc Alken(17)

Hiện nay có nhiều loại vật liệu được sử dụng

làm tắc mạch như Ethanol, Gel foam, coil, bóng

hoặc N-butyl-cyanoacrylate(10) Gel foam có

khuyết điểm như dễ trào ngược trở vào các

động mạch bình thường, không gây tắc được

mạch máu kích thước lớn và có thể bị hấp thu

sau một thời gian sử dụng Coil và bóng là

những vật liệu gây tắc mạch tốt nhưng khá đắt

tiền(8) Ở các bệnh nhân của chúng tôi, chúng tôi

chọn keo cyanoacrylic có hoặc không có trộn với

lipiodol để gây tắc mạch do tính bền vững của

vật liệu và giá thành rẻ hơn coil hoặc bóng(14)

KẾT LUẬN

Tắc mạch chọn lọc là biện pháp ít xâm lấn rất hữu hiệu để điều trị biến chứng chảy máu

do các thương tổn mạch máu trong thận sau các thương tổn do y thuật và không do y thuật của nhu mô thận

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Albani JM, Novick AC (2003) Renal artery pseudoaneurysm after partial nephrectomy: three case reports and a literature review Urology, 62(2): 227-31

2 Corr P, Hacking G (1991) Embolization in traumatic intrarenal vascular injuries Clin Radiol, 43: 262–264

3 El-Nahas AR, Shokeir AA, El-Assmy AM, Mohsen T, Shoma

AM, et al (2007) Post-percutaneous nephrolithotomy extensive hemorrhage: a study of risk factors J Urol, 177:

576-579

4 Fisher RG, Ben-Menachem Y, Whigham C (1989) Stab wounds of the renal artery branches: angiographic diagnosis and treatment by embolization AJR Am J Roentgenol, 152: 1231–1235

5 Gupta M, Bellman GC, Smith AD (1997) Massive hemorrhage from renal vein injury during percutaneous renal surgery: endourological management J Urol, 157: 795-797

6 Heyns CF, van Vollenhoven P (1992) Increasing role of angiography and segmental artery embolization in the management of renal stab wounds J Urol,147: 1231–1234

7 Hunter Wessells, Donald Suh, James R Porter, Frederick Rivara, Ellen J MacKenzie, Gregory J Jurkovich and Avery B Nathens (2003) Renal Injury and Operative Management in the United States: Results of a Population-Based Study J Trauma, 54: 423–430

8 Jain R, Kumar S, Phadke RV, Baijal SS, Gujral RB (2001) Intra-arterial embolization of lumbar artery pseudoaneurysm following percutaneous nephrolithotomy Australias Radiol, 45: 383-386

9 JW McAninch, RA Santucci (2002) Genitourinary Trauma Walsh: Campbell's Urology, 8th ed, 3707- 3715 Elsevier

10 Massulo-Aguiar MF, Campos CM, Rodrigues-Netto N, Jr (2006) Intrarenal pseudoaneurysm after percutaneous nephrolithotomy Angiotomographic assessment and endovascular management Int Braz J Urol, 32: 440-442

11 Richard S Lee, and James R Porter (2003) Traumatic Renal Artery Pseudoaneurysm: Diagnosis and Management Techniques J Trauma, 55: 972–978

12 Richstone L, Reggio E, Ost MC, Seideman C, Fossett LK, et al (2008) First Prize (tie): Hemorrhage following percutaneous renal surgery: characterization of angiographic findings J Endourol 22: 1129-1135

13 Sampaio FJ, Aragao AH (1990) Anatomical relationship between the intrarenal arteries and the kidney collecting system J Urol, 143: 679-681

14 Soyer P, Desgrippes A, Vallee JN, Rymer R (2000) Intrarenal pseudoaneurysm after percutaneous nephrostolithotomy: endovascular treatment with N-butyl-2-cyanoacrylate Eur Radiol, 10: 1358

15 Srivastava A, Singh KJ, Suri A, Dubey D, Kumar A, et al (2005) Vascular complications after percutaneous

Trang 5

nephrolithotomy: are there any predictive factors? Urology,

66: 38-40

16 Stoller ML, Wolf JS, Jr., St Lezin MA (1994) Estimated blood

loss and transfusion rates associated with percutaneous

nephrolithotomy J Urol, 152: 1977-1981

17 White EC, Smith AD (1984) Percutaneous stone extraction from 200 patients J Urol, 132: 437-438

Ngày đăng: 21/01/2020, 18:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w