1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả của bảo tồn bó mạch thần kinh trong phẫu thuật cắt bàng quang tận gốc

7 61 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 472,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu với mục tiêu nhằm đánh giá hiệu quả của kỹ thuật bảo tồn bó mạch thần kinh trên chất lượng sống của bệnh nhân sau phẫu thuật dựa trên 2 tiêu chí: tiểu không kiểm soát và rối loạn cương (RLC). Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Trang 1

HIỆU QUẢ CỦA BẢO TỒN BÓ MẠCH THẦN KINH   TRONG PHẪU THUẬT CẮT BÀNG QUANG TẬN GỐC 

Đào Quang Oánh*, Nguyễn Đạo Thuấn*, Văn Thành Trung* 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: So với thế giới, nước ta có tỷ lệ ung thư bàng quang (BQ) rất cao. Đối với ung thư đã xâm lấn 

lớp cơ thì cắt bàng quang tận gốc là phẫu thuật được chọn lựa. Tuy nhiên gần đây, ngay cả đối với giai đoạn  chưa xâm lấn cơ nhưng có nguy cơ cao thì phẫu thuật trên vẫn được khuyến cáo. Tạo hình thay thế bàng quang 

là phương thức nên làm khi cắt bàng quang. Vấn đề hiện nay là chú trọng đến chất lượng điều trị. Bảo tồn bó  mạch – thần kinh là kỹ thuật góp phần tăng cải thiện chất lượng sống sau phẫu thuật. 

‐ Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của kỹ thuật bảo tồn bó mạch thần kinh trên chất lượng sống của bệnh nhân 

sau phẫu thuật dựa trên 2 tiêu chí: tiểu không kiểm soát và rối loạn cương (RLC).  

Đối  tượng  và  phương  pháp: Tiến cứu, can thiệp lâm sàng, mô tả. Kỹ thuật bảo tồn bó mạch‐thần kinh 

được thực hiện trên những trường hợp (TH) ung thư BQ giai đoạn T1 nguy cơ cao và T2. Chức năng cương  được ghi nhận trước và sau mổ. Sự hồi phục của chức năng đi tiểu và chức năng cương được theo dõi và đánh  giá sau mổ 6 tháng.  

Kết quả: Tổng cộng có 28 TH bảo tồn bó mạch thần kinh. Tuổi trung bình = 58,1 ± 10,7 tuổi (39 – 74). 18 

bệnh nhân không RLC và 10 bệnh nhân RLC nhẹ trước mổ. Sau mổ: Chức năng kiểm soát đi tiểu 26 TH (92%)  tốt, 2 TH (7,3%) trung bình. Chức năng tình dục 12 TH (42,9%) tốt, 6 TH (21,4%) khá, 7 TH (25%) trung  bình và 6 TH (21,4%) xấu.  

Kết luận: Bảo tồn bó mạch thần kinh góp phần tăng hiệu quả kiểm soát nước tiểu và phục hồi chức năng 

cương sau mổ.  

Từ khóa: cắt bàng quang tận gốc, bảo tồn bó mạch – thần kinh, tiểu không kiểm soát, rối loạn cương. 

ABSTRACT 

EVALUATION OF NEURO‐VASCULAR BUNDLES PRESERVATION IN RADICAL CYSTECTOMY 

Đao Quang Oanh, Nguyen Dao Thuan, Van Thanh Trung  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 287 ‐ 293 

Introduction: Comparing to other countries in the world, the rate of bladder cancer is quite high in 

Vietnam. Radical cystectomy is recommended for muscle‐invasive bladder cancer. However, recently, it is also 

a  choice  for  non  muscle‐invasive  stage  but  high‐risk  tumors.  Bladder  replacement  should  be  performed  after  cystectomy.  The  problem  now  is  focused  on  quality  of  life.  Neuro‐vascular  preservation  techniques  help  to  improve quality of life after surgery. 

‐ Objectives: Evaluation the effectiveness of neuro‐vascular bundles preservation on the quality of life after 

surgery based on two criteria: urinary continence and erectile dysfunction (ED). 

Patients  and  methods:  Prospective, descriptive clinical study.  Neuro‐vascular bundles preservation was 

* Khoa Niệu B, BV Bình Dân  

Tác giả liên lạc: TS.Đào Quang Oánh  ĐT: 0955012301   Email: daoquangoanh53@yahoo.com 

Trang 2

performed in radical surgery of bladder cancer high risk stage T1 and stage T2. Erectile function were evaluated  and  compared  before  and  after  surgery.  The  urinary  continence  and  erectile  function  was  evaluated  after  6  months.  

Results: In total, 28 cases of nerve preservation. Mean age = 58.1 ± 10.7 years (39‐74). Preop: 18 patients 

no ED and 10 patients with mild ED. Postop: Urinary continence: 26 cases (92%) good, 2 cases (7.3%) moderate  results Sexual function 12 cases (42.9%) good, 6 TH (21.4%) fairly good, 7 cases (25%) moderate và 6 cases  (21.4%) bad results.  

Conclusions:  Neuro‐vascular  bundles  preservation  contribute  to  the  recovery  of  urinary  continence  and 

erectile function after surgery.  

Key words: radical cystectomy, nerve‐sparing, urinary incontinence, erectile dysfunction 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

So với thế giới, nước ta có tỷ lệ ung thư bàng 

quang  rất  cao.  Ung  thư  bàng  quang  hiện  nay 

vẫn  là  ung  thư  hàng  đầu  của  hệ  tiết  niệu  trên 

bệnh nhân nhập viện(3). Khác hẳn ung thư tuyến 

tiền liệt mà đa số diễn tiến chậm, ung thư bàng 

quang có diễn tiến nhanh hơn nhiều và có nguy 

cơ tử vong cao hơn. Nhiều thống kê trên thế giới 

trong lĩnh vực phẫu nghiệm tử thi cho thấy hầu 

như  không  có  phát  hiện  tình  cờ  ung  thư  bàng 

quang  trên  người  tử  vong.  Do  ung  thư  bàng 

quang có tỷ lệ tái phát cao nên quan điểm chung 

hiện nay là khi chân bướu đã đến lớp cơ thành 

bàng quang thì nên cắt bỏ bàng quang. Để tăng 

dự hậu sống còn, nhiều tác giả còn khuyên nên 

cắt  bỏ  sớm  bàng  quang  ngay  cả  khi  bướu  còn 

trong giai đoạn chưa xâm lấn cơ nếu là ung thư 

ở nhiều vị trí, biệt hóa kém, tái phát hay có hiện 

diện bướu dẹt Carcinoma In Situ. 

Trở ngại đối với việc chấp nhận phẫu thuật 

là  chất  lượng  sống  sau  mổ.  Phương  pháp  tạo 

hình  bàng  quang  thay  thế  đã  được  thực  hiện 

20  năm  nay  tại  bệnh  viện  Bình  Dân,  đã  gòp 

phần giài quyết được vấn đề tiểu tiện cho bệnh 

nhân(3). Yêu cầu về chất lượng sống ngày càng 

cao đặt thêm vấn đề về đời sống tình dục sau 

mổ.  Walsh(17)  đã  chứng  minh  rằng  rối  loạn 

cương sau mổ là do tổn thương bó mạch‐thần 

kinh  đến  thể  hang  đi  sát  bên  bờ  ngoài  tuyến 

tiền  liệt.  Kỹ  thuật  bảo  tồn  thần  kinh  được  áp 

dụng đầu tiên trong cắt tuyến tiền liệt tận gốc, 

sau này kỹ thuật này được triển khai trong cắt  bàng  quang  tận  gốc  và  tạo  hình  bàng  quang  thay thế(6). Kỹ thuật bảo tồn bó mạch‐thần kinh 

có  2  tác  dụng:  (1)  giúp  tăng  thêm  hiệu  quả  kiềm chế nước tiểu, (2) góp phần bảo vệ chức  năng cương. 

Hiện nay BV Bình Dân, kỹ thuật bảo tồn bó  mạch‐thần  kinh  vẫn  chưa  được  triển  khai  một  cách  thường  qui.  Chúng  tôi  thực  hiện  nghiên  cứu đánh giá hiệu quả của kỹ thuật bảo tồn bó  mạch  thần  kinh  trên  chất  lượng  sống  của  bệnh  nhân  sau  phẫu  thuật  dựa  trên  2  tiêu  chí:  tiểu  không  kiểm  soát  và  rối  loạn  cương  (có  so  sánh  trước và sau mổ).  

Mục tiêu 

Đánh  giá  hiệu  quả  của  kỹ  thuật  bảo  tồn  bó  mạch  thần  kinh  trên  chất  lượng  sống  của  bệnh  nhân  sau  phẫu  thuật  dựa  trên  2  tiêu  chí:  tiểu  không kiểm soát và rối loạn cương. 

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP   Đối tượng nghiên cứu 

Tiêu chuẩn chọn bệnh 

‐ Tất cả bệnh nhân ung thư bàng quang giai  đoạn T1 nguy cơ cao (nhiều bướu, tái phát, biệt  hóa  kém)  và  T2  (chân  bướu  chưa  xâm  lấn  đến  lớp cơ ngoài thành bàng quang) có chỉ định cắt  tận gốc và tạo hình bàng quang thay thế, có chức  năng cương đạt tổng số IIEF‐5 từ 17 điểm trở lên  (không RLC hoặc chỉ RLC nhẹ). 

Trang 3

Tiêu chuẩn loại trừ

‐  Bệnh  nhân  bị  RLC  từ  trung  bình  nhẹ  đến 

nặng: có tổng số điểm IIEF‐5 từ 16 điểm trở xuống. 

Phương pháp nghiên cứu 

Nghiên cứu tiền cứu mô tả, có can thiệp lâm 

sàng và không có nhóm chứng. 

Ghi nhận những đặc điểm tiền phẫu 

‐ Chất lượng đi tiểu của bệnh nhân. 

‐ Đời sống tình dục của bệnh nhân (tổng số 

điểm IIEF‐5).  

‐ Khảo sát về thể trạng chung của bệnh nhân 

để  xác  định  bệnh  nhân  có  thể  chịu  đựng  được 

cuộc phẫu thuật. 

Qui trình kỹ thuật trong lúc phẫu thuật 

Một  số  điều  cần  tuân  thủ  để  tránh  tổn 

thương  bó  mạch‐thần  kinh  trong  khi  mổ.  Thật 

sự  rất  khó  nhìn  rõ  được  bó  mạch‐thần  kinh. 

Điều cốt yếu là cần bám sát mặt ngoài tuyến tiền 

liệt  vả  giới  hạn  tối  đa  sử  dụng  dao  điện.  Qui 

trình thao tác lần lượt như sau: 

‐ Phẫu tích cẩn thận, không dùng dao đốt điện. 

‐ Vào mặt trước‐bên tuyến tiền liệt. 

‐ Cắt cột cẩn thận tĩnh mạch lưng. 

‐ Tổn thương tối thiểu dây chằng mu‐tuyến 

tiền liệt. 

‐  Cắt  xẻ  lá  trên  của  mạc  nội  chậu,  không 

phạm dây chằng mu‐tuyến tiền liệt  

‐ Xẻ lá  dưới  và  vén  đẩy  bó  mạch‐thần  kinh 

ra ngoài thành bên tuyến tiền liệt.  

‐  Định  vị  và  khâu  cột  mạng  tĩnh  mạch 

Santorini, cắt cao ở khoảng giữa tuyến tiền liệt  

‐ Tiếp tục phẫu thuật còn lại: bóc tách và cắt 

lấy trọn tuyến tiền liệt sau đó là cả bàng quang. 

‐ Bảo tồn bó mạch thần kinh 2 bên. 

‐  Phần  cắt  bỏ  bàng  quang  và  nạo  hạch  tiến 

hành như bình thường. 

Chức năng kiểm soát nước tiểu 

Tùy theo mức độ kiểm soát được nước tiểu,  ban ngày và ban đêm, mà phân làm 3 mức độ:  tốt, trung bình, xấu (1) theo tiêu chuẩn mà chúng  tôi  đã  đề  ra  trong  công  trình  tạo  hình  bàng  quang  bằng  ruột.  Thường  thì  sự  phục  hồi  diễn  tiến chậm ở tháng đầu tiên, khi bàng quang còn  tiết nhiều chất nhày và còn những cơn co thắt tự  phát. Sau đó thay đổi nhanh dần  và  đến  tháng  thứ 6, đa số bàng quang tân tạo ổn định. Kết quả  được đánh giá 6 tháng sau mổ. 

Bảng 1: Tiêu chuẩn đánh giá chức năng kiểm soát 

nước tiểu. 

Kiểm soát được hoàn toàn ban ngày, thỉnh thoảng không được ban

đêm

Ban ngày có lúc không kiểm soát được, ban đêm không được

Không kiểm soát được cả ngày lẫn đêm

Chức năng tình dục 

Áp dụng bảng câu hỏi quốc tế về chức năng  tình dục (IIEF‐5)(12) để đánh giá chức năng cương  của bệnh nhân trước và sau khi phẫu thuật. Loại  trừ  không  đưa  vào  nghiên  cứu  nếu  như  bệnh  nhân  thuộc  nhóm  rối  loạn  cương  nặng,  trung  bình, trung bình nhẹ.  

Bảng 2. Mức độ RLC được xếp theo tổng số điểm 

IIEF‐5 

RLC nặng

RLC trung bình

RLC trung bình nhẹ RLC nhẹ

Không RLC

5 – 7 điểm 8 – 11 điểm 12 – 16 điểm 17 – 21 điểm 22 – 25 điểm

So sánh khả năng cương trước và sau khi phẫu  thuật. Phân làm 4 mức độ: tốt, khá, trung bình, xấu.  Kết quả được đánh giá 6 tháng sau mổ. 

Bảng 3. Tiêu chuẩn đánh giá chức năng tình dục 

dựa trên sự thay đổi RLC.  

Giữ nguyên hoặc tốt hơn

Giảm một bậc

Giảm hai bậc (trừ RLC trung bình nhẹ)

Giảm nhiều hơn

Trang 4

Số liệu chung 

Tổng cộng 28 bệnh nhân. 

Bệnh  nhân  trẻ  tuổi  nhất:  39  tuổi,  lớn  tuổi 

nhất: 74 tuổi. 

Tuổi trung bình = 58,1 ± 10,7 tuổi. 

Số lượng bênh nhân đông nhất ở lứa tuổi 50 

‐ 70 tuổi. 

Bảng 4. Phân phối bệnh nhân theo tuổi. 

Lứa tuổi < 50 tuổi 50 – 60

tuổi

60 – 70 tuổi

> 70 tuổi Tổng

Số TH

(%)

6 (21,43) 12 (42,86) 5

(17,86)

5 (17,86) 28 (100)

Chức năng tình dục trước phẫu thuật 

18 bệnh nhân không RLC trước mổ. 

10 bệnh nhân RLC nhẹ trước mổ. 

Bảng 5. Chức năng tình dục trước phẫu thuật (theo 

độ tuổi) 

Chức năng

tình dục

Tuổi bệnh nhân Số TH

Tỷ lệ (%)

< 50 tuổi 50 – 70 tuổi > 70 tuổi

Kết  quả  chất  lượng  cuộc  sống  sau  phẫu 

thuật 

Chức năng kiểm soát nước tiểu 

26  bệnh  nhân  (92%)  kiểm  soát  nước  tiểu 

được hoàn toàn ban ngày, thinh thoảng còn són 

tiểu ban đêm khi ngủ quên. Chỉ có 2 bệnh nhân 

(7,3%) là còn chưa tiểu són về đêm. 

Bảng 6. Chức năng kiểm soát nước tiểu sau khi cắt 

BQ tận gốc. 

Chức năng kiểm soát nước tiểu Số TH (%)

Chức năng tình dục sau phẫu thuật 

Tổng số điểm IIEF‐5  trung  bình  trước  phẫu 

thuật = 22,15 ± 7,6 điểm. 

Tổng  số  điểm  IIEF‐5  trung  bình  sau  phẫu  thuật = 16,41 ± 6,3 điểm. 

Bảng 7. Đánh giá chức năng tình dục sau phẫu thuật 

cắt BQ tận gốc (số TH (%)) 

Không RLC

18 TH

Không RLC = 7 (38,9%) Tốt

RLC nhẹ = 5 (27,8%) Khá RLC trung bình nhẹ = 3 (16,7%) Trung bình RLC trung bình = 3 (16,7%) Xấu RLC nhẹ

10 TH

RLC nhẹ = 5 (50%) Tốt

RLC trung bình nhẹ = 1 (10%) Khá

RLC trung bình = 4 (40%) Trung bình

Kết quả cho thấy có 18/28 bệnh nhân (64,9%)  phục hồi chức năng cương tốt và khá. Trong đó 

có  12  bệnh  nhân  (42,9%)  phục  hồi  tốt,  6  bệnh  nhân  (21,4%)  phục  hồi  khá.  7  bệnh  nhân  (25%)  thuộc nhóm trung bình và 6 bệnh nhân (21,4%)  thuộc nhóm xấu.  

Khi  kiểm  tra  mối  tương  quan  giữa  chức  năng cương và độ tuổi bằng phép kiểm Chi bình  phương (p = 0,043 < 0,05), thấy có mối liên hệ với  nhau.  Những  bệnh  nhân  có  độ  tuổi  càng  nhỏ  phục  hồi  chức  năng  tình  dục  tốt,  những  bệnh  nhân lớn tuổi khả năng phục hồi chậm hơn. 

BÀN LUẬN 

Lý  do  cần  thiết  phải  bảo  tồn  bó  mạch  –  thần kinh  

Ung thư bàng quang, như trên đã trình bày, 

có nguy cơ cao và diễn tiến nhanh hơn ung thư  tuyến tiền liệt nhiều. Do đó, lúc đầu đã có nhiều  nghi  ngờ  khi  vấn  đề  bảo  tồn  bó  mạch  –  thần  kinh được đặt ra, ngay cả khi đã có những báo  cáo với kết quả khích lệ của kỹ thuật này sau cắt  tuyến tiền liệt tận gốc. Có chủ trương cho rắng  điều cốt yếu là lấy hết mô ác tính, cứu sống bệnh  nhân  và  không  nên  vi  phạm  những  tiêu  chuẩn 

cơ bản của một phẫu thuật u ác tính: cắt rộng và  nguyên khối. Ngược lại, vẫn có những phản bác 

Trang 5

sự  muốn  tăng  dự  hậu  sống  còn  thì  không  nên 

chờ  đợi  đến  giai  đoạn  tiến  triển  để  phải  tiến 

hành cắt rộng; mà nên cắt bàng quang sớm hơn, 

ngay  cả  trong  giai  đoạn  chưa  xấm  lấn  cơ  nếu 

thấy có nguy cơ tiến triển hoặc tái phát cao. Khi 

muốn thực hiện phẫu thuật sớm thì chất lượng 

sống  sau  mổ  phải  thật  tốt  thì  mới  thuyết  phục 

được người bệnh chấp nhận. 

Hautmann  và  Studer  là  hai  tác  giả  nhiều 

kinh  nghiệm  trong  tạo  hình  thay  thế  bàng 

quang.  Năm  2009,  khi  điểm  lại  hiệu  quả  của 

phẫu  thuật  này,  hai  ông  đã  đưa  ra  10  lời 

khuyên(6) nên làm. Một trong những lời khuyên 

đó là sự cần thiết phải bảo tồn  bó  mạch  –  thần 

kinh.  Studer,  trong  một  hội  nghị  tại  Bangkok  – 

Thái Lan, đã phát biểu: nếu không biết kỹ thuật 

bảo tôn bó mạch – thần kinh thì không nên thực 

hiện tạo hình bàng quang. Kỹ thuật này giúp cải 

thiện  chức  năng  kiểm  soát  nước  tiểu,  đặc  biệt 

đối  với  bàng  quang  trực  vị  trên  phụ  nữ,  đồng 

thời  cải  thiện  đời  sống  tình  dục  trên  cả  hai 

giới(6,7,8,14). 

Chức năng kiểm soát nước tiểu 

Rối  loạn  chức  năng  kiểm  soát  nước  tiểu  và 

rối loạn chức năng cương là những biến chứng 

thường gặp sau phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận 

gốc và cắt bàng quang tận gốc Bảo tồn bó mạch‐

thần kinh có hiệu quả rõ ràng đối với chức năng 

kiểm soát nước tiểu sau mổ. Những báo cáo về 

khả  năng  kiểm  soát  nước  tiểu  tốt  sau  tạo  hình 

bàng quang khi chưa triển khai kỹ thuật bảo tồn 

bó mạch – thần kinh thường chỉ trong khoảng 80 

– 90%(3). Nếu có bảo tồn bó mạch – thần kinh thì 

có  thể  nâng  tỷ  lệ  kiểm  soát  nước  tiểu  cao  hơn. 

Khi  tham  khảo  các  nghiên  cứu  trên,  nhận  thấy 

nhiều  tác  giả  cũng  có  kết  quả  tương  tự  chúng 

tôi. 

Bảng 8. Chức năng kiểm soát nước tiểu sau mổ. 

Tác giả Tỷ lệ kiểm soát nước tiểu tốt Thời gian theo dõi

Kessler TM (9)

92% 12 tháng Venn SN (15) 80% 12 tháng

Nghiên cứu này 92% 6 tháng Turner và cs(14) đã thực hiện so sánh hiệu quả  của  bảo  tồn  thần  kinh  với  3  nhóm  bệnh  nhân:  nhóm (1) 20 bệnh nhân, bảo tồn 2 bên; nhóm (2) 

96 bệnh nhân, bảo tồn 1 bên; nhóm (3) 49 bệnh  nhân không bảo tồn thần  kinh.  Nhóm  (1)  phục  hồi  nhanh  hơn  bà  nhiều  hơn  nhóm  (2)  và  (3).  Nhóm  (3)  kém  nhất.  Các  tác  giả  cho  rằng  nên  bảo tồn thần kinh khi có thể được, ngay cả 1 bên.  Tình trạng đi tiểu sau mổ còn bị ảnh hưởng  bởi  các  yếu  tố  như  cơ  thắt  vân  không  bị  tổn  thương, bảo tồn được tối đa đoạn niệu đạo chức  năng (8). Hai yếu tố cần chú ý là việc bảo tồn bó  mạch thần kinh và tuổi tác. Phần thần kinh quan  trọng gồm các nhánh vùng chậu và nhánh thẹn  trong có ảnh hưởng nhiều đến tình trạng đi tiểu  sau này(14). Tuy nhiên không chỉ các nhánh thần  kinh đến phân bố vận động cho cơ thắt niệu đạo 

mà ngay cả các nhánh hướng tâm đến niệu đạo  màng cũng quan trọng không kém. Điều này đã  được  chứng  minh  trong  các  trường  hợp  giảm  cảm giác tại niệu đạo màng dễ bị rối loạn đi tiểu  sau mổ(8,9). 

Khi thao tác tại đám rối Santorini, các nút chỉ  cầm máu không nên cột quá xa chỗ nối niệu đạo 

và tuyến tiền liệt để tránh tổn thương cơ thắt. Để  cầm máu chỗ này chỉ cần 1 mối chỉ cột theo mặt  phẳng  ngang  giữa  đám  rối  tĩnh  mạch  và  niệu  đạo,  vuông  góc  với  củ  mu  để  cột  hết  đám  rối  Santorini nhưng không chạm đến cơ thắt ngoài.  

Tỷ  lệ  phục  hồi  sau  mổ  ở  những  bệnh  nhân  lớn  tuổi  thấp.  Các  nghiên  cứu  về  chức  năng  cơ  thắt của người lớn tuổi, độ dài cơ thắt và áp lực  đóng niệu đạo tối đa lúc nghỉ ngơi và trong lúc 

co  thắt  có  tự  chủ  giảm  dần  theo  tuổi.  Mặc  dù  không  rõ  là  các  dữ  liệu  này  phản  ảnh  sự  thay  đổi  bình  thường  theo  tuổi  tác  hay  một  bệnh  lý  đường tiểu dưới đi kèm nhưng tầm quan trọng  của tuổi đã được chứng minh bởi tuổi tác có liên  quan  đến  việc  giảm  phân  bố  các  sợi  thần  kinh  đến cơ chóp bàng quang (4). 

Trang 6

Tổng số điểm IIEF‐5 trung bình trước mổ là 

22,15  ±  7,6  điểm.  Sau  phẫu  thuật,  tổng  số  điểm 

IIEF‐5 trung bình là 16,41 ± 6,3 điểm. Sự thay đổi 

này  có  ý  nghĩa  thống  kê.  12/28  bệnh  nhân 

(42,9%) được đánh giá là phục hồi tốt. 6/28 bệnh 

nhân  (21,4%)  phục  hồi  chức  năng  cương  khá. 

Tuy  tổng  số  điểm  IIEF‐5  có  giảm  đi  một  bậc 

nhưng  những  bệnh  nhân  này  vẫn  có  khả  năng 

giao  hợp  và  giữ  cho  dương  vật  được  cương 

cứng  cho  đến  khi  giao  hợp  xong  là  hơi  khó 

khăn. 7/18 bệnh nhân (25%) phục hồi chức năng 

cương trung bình; 6/28 bệnh nhân (21,4%) thuộc 

nhóm xấu. Những bệnh nhân được đánh giá là 

phục hồi cương tốt đều ở lứa tuổi tương đối trẻ 

hơn <60 tuổi. 

Walsh PC(16,17) là người đầu tiên cho thấy bảo 

tồn bó mạch thần kinh làm tăng khả năng cương 

ở những bệnh nhân cắt bàng quang tận gốc sau 

phẫu  thuật,  có  9/11  bệnh  nhân  (chiếm  82%)  có 

khả  năng  hoạt  động  tình  dục  sau  1  năm. 

Brendler  CB(1)  báo  cáo  27  trong  52  bệnh  nhân 

(52%) cắt bàng quang tuyến tiền liệt có bảo tồn 

bó mạch thần kinh phục hồi chức năng cương lại 

được sau 1 năm. Kể từ nghiên cứu đó các tác giả 

khác đều cho tỷ lệ tương tự về tỷ lệ cương sau 

cắt bàng quang tận gốc thay đổi từ 42 – 71%(9,15).  

Bảng 9. Chức năng cương sau mổ. 

Tác giả Tỷ lệ cương sau

phẫu thuật

Thời gian theo dõi

Walsh PC (16)

82% 12 tháng Venn SN(15) 81,7% 12 tháng

Salem HK (13)

90% 12 tháng Brendler CB(1) 52% 12 tháng

Girgin C (5)

95% 20 tháng Nghiên cứu này 58,8% 6 tháng

Tỷ  lệ  cương  sau  phẫu  thuật  của  chúng  tôi 

có  thấp  so  với  một  số  tác  giả  nhưng  cũng 

tương  đồng  với  một  vài  nghiên  cứu  là  do  số 

lượng mẫu của chúng tôi nhỏ và thời gian theo 

dõi chưa đủ dài.  

Chúng tôi khảo sát mối liên quan giữa chức  năng tình dục sau phẫu thuật và độ tuổi, nghiên  cứu của chúng tôi ghi nhận có liên quan giữa các  yếu  tố  này.  Những  bệnh  nhân  phục  hồi  chức  năng tình dục tốt có 5 trong 6 trường hợp nằm ở 

độ tuổi < 50 tuổi, còn lại ở độ tuổi <60 tuổi.   Rối loạn cương là biến chứng thường gặp ở  những  bệnh  nhân  có  cắt  bàng  quang  tận  gốc.  Năm 1984, Walsh PC(16) cho rằng rối loạn cương 

là  do  tổn  thương  đám  rối  thần  kinh  chậu,  chi  phối thần kinh cho thể hang. Dựa trên điều này,  các  phẫu  thuật  tiến  hành  cắt  tuyến  tiền  liệt  tận  gốc  và  cắt  bàng  quang  ‐  tuyến  tiền  liệt  tận  gốc  đều  cố  gắng  tránh  tổn  thương  thần  kinh  thể  hang này. 

Một số ý kiến lại cho rằng kỹ thuật bảo tồn 

bó  mạch  thần  kinh  sẽ  tạo  điều  kiện  bỏ  sót  ung  thư. Tuy nhiên, Brendler CB(1) chứng minh rằng 

tỷ  lệ  sống  5  năm  và  tỷ  lệ  khỏi  hẳn  là  65  –  70%  tương  đồng  với  phẫu  thuật  cắt  bàng  quang  ‐  tuyến tiền liệt thường qui. Tỷ lệ tái phát tại chỗ  sau 5 năm là 7,5%, cho thấy kỹ thuật này không  ảnh  hưởng  đến  việc  kiểm  soát  ung  thư.  Schoenberg MP (1996) cho rằng nếu áp dụng cắt  bàng quang  ‐  tuyến  tiền  liệt  tận  gốc  có  bảo  tồn 

bó mạch thần kinh đối với ung thư chưa xâm lấn  thì tỷ lệ sống còn sau 10 năm cho các giai đoạn  được  điều  trị  là  69%  và  tỷ  lệ  không  tái  phát  là  94%. 

Khi  phẫu  thuật  nội  soi  ổ  bụng  được  triển  khai áp dụng trong cắt bàng quang tận gốc và  taạo  hình  thay  thế  bàng  quang,  thì  kỹ  thuật  bảo  tồn  thần  kinh  cũng  được  song  song  thực  hiện(10).  Một  số  tác  giả,  bên  cạnh  chức  năng  cương,  còn  muốn  giữ  lại  cả  chức  năng  xuất  tinh  để  bệnh  nhân  có  thể  có  con  sau  mổ.  Hautmann đề nghị giữ lại 2 túi tinh(7), Girgin(4) 

và  Nieuwenhuijzen(11)  còn  đề  nghị  giữ  lại  cà  tuyến tiền liệt và túi tinh. 

Hiện  nay,  hiệu  quả  của  bảo  tồn  bó  mạch 

Trang 7

trên  phụ  nữ  cũng  được  lưu  tâm,  đồng  thời 

hiệu  quả  trên  chủ  động  kiểm  soát  nước  tiểu 

cũng rõ ràng hơn(2,6,15). 

KẾT LUẬN 

Nếu  chỉ  định  cắt  bàng  quang  tận  gốc  được 

thực hiện sớm ở giai đoạn khu trú ≤ T2, nếu vị 

trí bướu nằm cách xa vùng tam giác và cổ bàng 

quang, kỹ thuật mổ tuân thủ đúng qui định thì 

việc  bảo  tồn  bó  mạch  thần  kinh  có  hiệu  quả  rõ 

ràng về kiểm soát đi tiểu và bảo tồn chức năng 

tình  dục.  Đặc  biệt,  chức  năng  tình  dục  sau  mổ 

khả  quan  hơn  nhiều  nếu  không  bảo  tồn  thần 

kinh.  Hiệu  quả  còn  phụ  thuộc  vào  độ  tuổi  của 

bênh nhân: ở những bệnh nhân có độ tuổi càng 

trẻ, phục hồi sau phẫu thuật tốt hơn những bệnh 

nhân có độ tuổi lớn.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Brendler  CB,  Steinberg  GD,  Marshall  FF,  et  al  (1990).  Local 

recurrence  and  survival  following  nerve‐sparing  radical 

cystoprostatectomy. J Urol, 144: 1137‐1140. 

2 Dhar  NB,  Kessler  TM,  Mills  RD,  Burkhard  F,  Studer  US 

(2007).  Nerve‐sparing  radical  cystectomy  and  orthotopic 

bladder  replacement  in  female  patients.  Eur  Urol  52:  1006‐

1014. 

3 Đào Quang Oánh (2007). Cắt bàng quang tận gốc và tạo hình 

bàng quang bằng ruột. Y học thực hành, Chuyên đề thận học 

và Tiết Niệu học, 631 + 632: 60‐66. 

4 Gilpin  SA,  Gilpin  CJ,  Dixon  JS,  Gosling  JA  and  Kirby  RS 

(1986). The effect of age on the autonomic innervation of the 

urinary bladder. BJU, 58: 378‐381. 

5 Girgin  C,  Oder  M,  Sahin  MO  et  al  (2006).  Erection  and 

ejaculation‐Preserving  cystectomy  with  orthotopic  urinary 

diversion: is it feasible?, J Androl, 27 (2): 253‐257. 

6 Hautmann  RE,  Botto  H,  Studer  UE  (2009).  How  to  obtain 

good  results  with  orthotopic  bladder  substitution:  the  10 

commandments. Eur Urol Suppl (8): 712‐717. 

7 Hautmann  RE,  Hautmann  O,  Volkmer  BG,  Hautmann  S 

(2010).  Nerve‐sparing  radical  cystectomy:  A  new  technique. 

Eur Urol Suppl 9: 428‐432. 

8 Hugonnet CL, Danuser H, Springer JP and Studer UE (2001).  Urethral sensitivity and the impact on urinary continence in  patients  with  an  ileal  bladder  substitute  after  cystectomy.  J  Urol, 165: 1502‐1509. 

9 Kessler TM, Burkhard FC, Studer UE (2004). Attempted nerve  sparing surgery and age have  a  significant  effect  on  urinary  continence  and  erectile  function  after  radical  cystoprostatectomy and ileal orthotopic bladder substitution.  Eur Urol, 172:1323–1327. 

10 Menon  M,  Hemal  AK,  Tewari  A,  Shrivastava  A  (2003).  Nerve‐sparing robot‐assisted radical cystoprostatectomy and  urinary diversion. BJU Int 92: 232‐236. 

11 Nieuwenhuijzen  JA,  Meinhardt  W,  Horenblas  S  (2008).  Clinical  outcomes  after  sexuality  preserving  cystectomy  and  neobladder  (prostate  sparing  cystectomy)  in  44  patients.  J  Urol 179(5) : S35‐S38. 

12 Rosen RC, Cappelleri JC, SmithMD, et al (1999). Development  and  evaluation  of  an  abridged,  5‐item  version  of  the  International  Index  of  Erectile  Function  (IIEF‐5)  as  a  diagnostic  tool  for  erectile  dysfunction.  Int  J  Impotence  Res,  11: 319–326. 

13 Salem  HK  (2005).  Preservation  of  ejaculatory  and  erectile  function after radical cystectomy for urothelial malignancy. J  Egyptian Nat Cancer Inst 17(4): 239‐244. 

14 Turner  WH,  Danuser  H,  Moehrle  K  and  Studer  UE  (1997).  The  effect  of  nerve  sparing  cystectomy  technique  on  postoperative  continence  after  orthotopic  bladder  substitution. J Urol, 158: 2118‐2124. 

15 Venn SN, Popert RM and Mundy AR (1998). Nerve sparing  cystectomy  and  substitution  cystoplasty  in  patients  of  either  sex: limitations and techniques. BJU, 82: 361‐365. 

16 Walsh PC, and Mostwin JL (1984). Radical prostatectomy and  cystoprostatectomy  with  preservation  of  potency:  results  using a new nerve‐sparing technique. BJU, 56: 694‐697. 

17 Walsh  PC,  Partin  AW  (2007).  Anatomic  radical  retropubic  prostatectomy.  In  Campbell‐Walsh  Urology,  9 th   edition,  chapter 97. 

  Ngày nhận bài báo      16‐05‐2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:  30‐05‐2013  Ngày bài báo được đăng:   15–07‐2013 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 18:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w