Mục tiêu nghiên cứu của bài viết là: Đánh giá vai trò của hoá trị sau phẫu thuật trong điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Mời các bạn tham khảo!
Trang 1Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG HOÁ TRỊ LIỆU TRONG ĐIỀU TRỊ
SAU PHẪU THUẬT UNG THƯ PHỔI KHÔNG PHẢI TẾ BÀO NHỎ
Nguyễn Hoài Nam*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề và mục tiêu nghiên cứu: Ung thư phế quản phổi rất hay gặp ở Việt Nam Có ba phương
pháp điều trị chủ yếu: Phẫu trị, hoá trị và xạ trị Trong đó quan trọng nhất là phẫu trị
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá vai trò của hoá trị sau phẫu thuật trong điều trị ung thư phổi không
phải tế bào nhỏ
Phương pháp nghiên cứu: Tiền cứu, mô tả, đoàn hệ
Kết quả và bàn luận: 11 bệnh nhân, nam 8 và nữ 3, tuổi trung bình 60 ± 5 Chỉ số Karnofski từ
80-90 chiếm đa số, các bệnh nhân đều trọng giai đoạn II-III Có 8 bệnh nhân đáp ứng tốt với hoá trị, 2 bệnh nhân đáp ứng trung bình và một bệnh nhân đáp ứng kém Qua kết quả trên, tác giả bàn luận về vai trò và kết quả của hoá trị ø hỗ trợ sau phẫu thuật cắt phổi hoặc thùy phổi để điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ,
Kết luận: Việc hóa trị liệu hỗ trợ sau phẫu thuật cho bệnh ung thư phổi không phải tế bào nhỏ ở giai
đoạn III, có kết quả ban đầu tương đối khả quan, độ dung nạp với thuốc tốt
SUMMARY
POST OPERATIVE CHEMOTHERAPY FOR NON – SMALL CELL LUNG CANCER
Nguyen Hoai Nam * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 9 * Supplement of No 1 * 2005: 23 – 26
Backgrounds: In Viet Nam Lung Cancer is the most popular There are 3 approachs of treatment for
this disease: Surgery, chemotherapy and radiotherapy The Surgical treatment is the most important
Purpose of study: Evaluating the role of post-operative chemotherapy for non small cell of lung
cancer
Method of study: prospective and descriptive cohort
Result and Discusion: there are 11 patients, 8 males and 3 females, mean age 60 ± 5 Karnofski from 80-90 is prominate All patients ia stage II-III Good reponseis 8 patients, moderate reponse in 2 patients and one patrient poor reponse Through thie results, we want to evaluate the role and the result
of post-operative chemotherapy
Conclusion: Post-operative chemotheray is good for the patients in stage III and they have a good
tolerance
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư phế quản phổi không phải tế bào nhỏ là
một bệnh lý ác tính thường gặp và hiện có kết quả
điều trị rất thấp trên phạm vi toàn thế giới Ở Việt
Nam, ung thư phổi đứng hàng đầu trong các loại ung
thư ở khu vực phía Bắc và đứng thư hai sau ung thư gan ở khu vực phía Nam
Tỷ lệ tử vong cao do không có khả năng phát hiện và chẩn đoán sớm, có đến 75% bệnh nhân chỉ được nhập viện trong giai đoạn muộn (1). Đại đa số các ung thư phổi là Carcinome tuyến xuất phát từ biểu
* Phân môn Phẫu thuật Lồng ngực và Tim mạch – Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh
Trang 2mô của lòng khí phế quản Về phương diện lâm sàng,
ung thư phổi được chia làm hai loại (2): Ung thư không
phải tế bào nhỏ và ung thư tế bào nhỏ, với hai loại
này phương pháp điều trị cũng rất khác nhau (2).
Trong đó thường gặp hơn cả, chiếm tỷ lệ 75-80%
là các ung thư phổi không phải tế bào nhỏ Loại ung
thư này có diễn tiến tương đối khu trú tại chỗ và tại
vùng Phẫu trị và xạ trị là những biện pháp điều trị
triệt để, còn hoá trị xưa nay vẫn được xem như là
phương pháp điều trị phụ trợ nhằm làm giảm bớt các
triệu chứng, xoa dịu nỗi đau và kéo dài thời gian sống
còn (2). Rất ít công trình nghiên cứu vai trò của hoá trị
sau phẫu trị, nhất là đối với các loại thuốc chống ung
thư thế hệ mới
Trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành nghiên cứ đề
tài này, nhằm đánh giá hiệu quả của việc hoá trị phối
hợp sau phẫu thuật điều trị ung thư phổi không phải
là tế bào nhỏ ở bệnh viện Đại học Y dược thành phố
Hồ Chí Minh
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tiền cứu mô tả đoàn hệ
Tiêu chuẩn chọn bệnh
Tất cả những bệnh nhân được chẩn đoán là ung
thư phổi từ giai đoạn III A trở xuống và đã được phẫu
thuật cắt thuỳ hay cắt một bên phổi tại phòng khám
Lồng ngực mạch máu, bệnh viện Đại học Y dược
Thành phố Hồ Chí Minh
Thời gian nghiên cứu: Hai năm từ tháng 8 năm
2004 đến tháng 8 năm 2006
Phác đồ hoá trị sử dụng Placitel phối hợp với
Carboplatil, chu kỳ 21 ngày dùng một lần Sử dụng 4
chu kỳ cho những bệnh nhân phẫu thuật cắt bỏ được
khối u và thuỳ hoặc một bên phổi
Trong báo cáo này, chúng tôi chỉ báo cáo những
kết quả bước đâu có được trong thời gian từ tháng
8/2004 đến 12/2004
Các yếu tố thu thập
Đặc điểm của nhóm nghiên cứu: Tuổi, giới, loại
ung thư, vị trí ung thư, Giải phẫu bệnh v.v
Phương pháp phẫu thuật: Thăm dò sinh thiết, cắt
thùy phổi, cắt một bên phổi v.v
Chỉ số Karnofski Sự đáp ứng của bệnh nhân với hoá trị: Tăng cân, giảm đau v.v
Các tác dụng phụ của hoá trị liệu: Bảng tự đánh giá của bệnh nhân, bảng đánh giá của thầy thuốc
Đánh giá kết quả hoá trị
Tốt
Bệnh nhân đáp ứng hoàn toàn, ít tác dụng phụ hoặc tác dụng phụ chỉ thoáng qua Lên cân, ăn ngon miệng, hết đau hoặc đau ít, chỉ số Karnofski tăng lên
so với trước khi hoá trị
Trung bình
Bệnh nhân đáp ứng với hoá trị, nhưng các triệu chứng cải thiện không rõ rệt, chỉ số Karnofski không tăng
Xấu
Bệnh nhân hoàn toàn không đáp ứng với hoá trị, nhiều tác dụng phụ, sụt cân vẫn còn đau nhiều, chỉ số Karnofski giảm so với trước khi hoá trị
Phương pháp thông kê
Các yếu tố trên được trình bày dưới dạng bảng, biểu đồ và xử lý với phần mềm thống kê Y học SPSS 10.0
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm của nhóm nghiên cứu
Trong 3 tháng 8/2004- 12/2004 có:
20 bệnh nhân ung thư phổi được mổ tại bệnh viện Đại học Y dược Trong đó có:
4 BN Ung thư giai đoạn I
6 BN Ung thư giai đoạn II
7 BN giai đoạn III a và 3 BN giữa IIIa & IIIb Chúng tôi chỉ hoá trị cho một bệnh nhân của giai đoạn II vao bệnh nhân giai đoạn III
Tuổi: 40-60 chiếm 46,6% TB: 60 ± 5 Nam: 16 – Nữ: 04 Số bệnh nhân hoá trị: Nam 8, nữ 3
Trang 3Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005
Thời gian từ khi bị bệnh đến phẫu thuật:: 3 ±0,2
tháng
Triệu chứng lâm sàng
05 Điều trị như lao phổi 04
06 Phát hiện tình cờ 04
Chỉ số Karnofski trước phẫu thuật
01 100 02
Vị trí khối u phổi
01 Thùy trên phổi trái 06 03
02 Thùy trên phổi phải 02 04
04 Thùy dưới phổi trái 03
05 Thùy dưới phổi phải 04 02
06 Thùy trên & giữa phải 02 02
07 Thùy giữa & dưới phải 03
Kết quả nội soi phế quản
01 Khu trú trong lòng PQ 06 04
02 Khối u ăn lan & xâm lấn 04 04
03 Khối u ở PQ trung gian 04 03
04 Không thấy u trong PQ 06
Tế bào học
Chỉ số Tiffneau trước mổ và bệnh
nhân hoá trị
Kết quả hoá trị
2 Trung bình 2 1 AD1 SC III B
3 Kém 1 SC II
Ghi chú: AD: Adenocarcinoma; SC: Squamouscell
carcinoma
BÀN LUẬN
Vai trò của hoá trị
Vai trò của hoá trị liệu trong điều trị bệnh ung thư phổi không phải tế bào nhỏ cho đến nay vẫn còn nhiều điều chưa thống nhất(1). Việc đánh giá lợi ích lâm sàng của hoá trị liệu không chỉ đơn thuần dựa vào tỷ lệ đáp ứng của thuốc mà còn phải tính đến thời gian sống thêm mà bệnh nhân được hưởng với độc tính hoá trị có thể chấp nhận được
Trước đây có quan điểm cho rằng(1) việc kéo dài thời gian sống thêm là vài tuần lễ do hoá trị mang lại không đáng để ủng hộ cho chỉ định điều trị này và hiệu quả của việc hoá trị nên được đánh giá dựa trên tỷ lệ bệnh nhân sống thêm Hiện nay, với các thuốc mới và các phối hợp hiện có, ít nhất có 35-40% bệnh nhân sống thêm qua một năm
Thêm vào đó một tỷ lệ bệnh nhân quan trọng giảm bớt các triệu chứng khó chịu do ung thư gây ra nhờ hoá trị liệu Ngay cả khi tổn thương ung thư không thu nhỏ hơn 50% kích thước ban đầu Mặc dù tỷ lệ đáp ứng khách quan thực sự chỉ khoảng 25-30%, nhưng có đến 2/3 số bệnh nhân được hoá trị có giảm bớt các triệu chứng của bệnh ung thư phổi như: ho, đau ngực, khó thở v.v
Các chỉ định của hoá trị: (1) hoá trị trong điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ được sử dụng trong một số trường hợp sau:
Hoá trị triệu chứng trong giai đoạn tiến xa, tái phát hoặc di căn Ý nghĩa của việc hoá trị trong tình huống này là:
Giảm bớt các triệu chứng của bệnh ung thư Kéo dài thới gian sống còn của bệnh nhân Mang tính hiệu quả và chi phí điều trị
Trang 4Hoá trị tân hỗ trợ trong gia đoạn ung thư phồi
còn cắt được, nhằm tăng khả năng cắt rộng bướu,
giảm nguy cơ tái phát và di căn xa Vấn đề này hiện
nay còn đang trong nghiên cứu
Hoá trị hỗ trợ trong giai đoạn sớm cũng đang
được nghiên cứu
Kết quả hoá trị
Số lượng bệnh nhân còn hạn chế và thời gian
nghiên cứu còn ngắn, tuy nhiên trong nghiên của
chúng tôi phần lớn bệnh nhân đều đáp ứng tốt với
hoá trị liệu
Các thuốc chống ung thư thế hệ mới như:
Gemcitabine, Placitel, Taxotere v.v tuy klhá đắt
tiền, tuy nhiên tác dụng phụ như rụng tóc ói mửa,
suy nhược cơ thể thường thấp Trong một nghiên
cứu với Gecitabine, Vũ Văn Vũ cũng nhận định:(2)
có tác dụng phụ nhẹ và dễ dung nạp hơn Thuốc ít
gây suy tủy nặng, ít gây buồn nôn và ói, ít gây rụng
tóc Đây là loại thuốc thuận lợi cho hoá trị ở nhóm
bệnh nhân nhiều tuổi, ít chịu đựng được các tác
dụng phụ và độc tính của cisplatin
Tỷ lệ đáp ứng chủ quan theo Vũ Văn Vũ là
68,5%(2) và thời gian đáp ứng trung bình là 5,1
tháng với độ lệch chuẩn là 2,9
Các yếu tố tiên lượng theo Vũ Văn Vũ cũng là:
chỉ số Karnofski, tuổi trên hay dưới 40, giai đoạn
được đánh giá chính xác sau phẫu thuật dựa trên
phân loại TNM Các bệnh nhân có chỉ số Karnofski từ 90-100 có đáp ứng với hoá trị tốt hơn những bệnh nhân có chỉ số này thấp một cách có ý nghĩa thống kê Vì chỉ số Karnofski bên cạnh thể hiện đặc tính sinh học ít ác tính của bướu, chỉ số này cao còn chứng tỏ tình trạng không có xáo trộn chức năng của cơ thể và điều này thuận lợi cho hoá trị liệu sử dụng các thuốc phối hợp với liều đủ và nhiều chu kỳ hơn
KẾT LUẬN
Tuy còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu thêm, nhưng việc hoá trị liệu sử dụng cho những trường hợp bệnh nhân ung thư phế quản phổi ở giai đạn III, đã được phẫu thuật cắt thùy phổi hay một bên phổi Có nhiều khả năng kéo dài thêm và cải thện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân
Trong các yếu tố tham khảo để đánh giá tiên lượng của việc điều trị thì chỉ số Karnofski và việc xác định giai đoạn chính xác sau phẫu thuật có vai trò rất quan trọng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
nội khoa, NXB Y học 2004: 224-232
trong hoá trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đạon tiến xa Y học TP Hồ Chí Minh, phụ bản của tập 8, số
4, 2004: 237-248