1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhân một trường hợp u trong sọ có hủy xương ở người có tuổi mắc nhiều bệnh lý khác

6 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 464,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày về trường hợp một phụ nữ 75 tuổi đang điều trị bệnh tăng huyết áp và thiểu năng vành, từ nhiều tháng nay phát hiện một khối u dưới da đầu vùng trán ‐ đính bên trái lớn dần. CT‐scan sọ não cho thấy 1 khối choán chỗ ngoài trục vùng trán bên trái kích thước 50x50 mm, đậm độ nhu mô, gây hủy rộng xương sọ trán và chèn ép nhẹ nhu mô não bên dưới. Bệnh có chỉ định phẫu thuật nhưng chẩn đoán trước mổ còn nghi vấn vì có hủy xương sọ. Mời các bạn tham khảo bài viết để biết thêm về.

Trang 1

Ở NGƯỜI CÓ TUỔI MẮC NHIỀU BỆNH LÝ KHÁC 

Lê Điền Nhi*, Phạm Ngọc Anh** 

TÓM TẮT 

Nhóm người có tuổi thường chịu đựng tốt những phẫu thuật thần kinh. Tuy vậy, nếu người có tuổi mắc  thêm các bệnh khác thì cần hết sức thận trọng trong quyết định phẫu thuật và các phương thức can thiệp, đồng  thời phải trình bày cho thân nhân biết rõ bệnh trạng và tiên lượng bệnh. Tác giả trình bày trường hợp một phụ 

nữ 75 tuổi đang điều trị bệnh tăng huyết áp và thiểu năng vành, từ nhiều tháng nay phát hiện một khối u dưới 

da đầu vùng trán ‐ đính bên trái lớn dần. CT‐scan sọ não cho thấy 1 khối choán chỗ ngoài trục vùng trán bên trái  kích thước 50x50 mm, đậm độ nhu mô, gây hủy rộng xương sọ trán và chèn ép nhẹ nhu mô não bên dưới. Bệnh 

có chỉ định phẫu thuật nhưng chẩn đoán trước mổ còn nghi vấn vì có hủy xương sọ. Vì vậy, thân nhân người  bệnh yêu cầu can thiệp với phẫu thuật tối thiểu ‐ trong khi chờ kết quả giải phẫu bệnh ‐ chỉ lấy khối u mà không  tái tạo lại phần khuyết sọ rộng. Sau mổ người bệnh bị biến chứng tụ máu dưới da đầu lớn do không tái tạo vùng 

khuyết sọ để làm nền ép khoảng trống dưới da đầu, do vậy thời gian nằm viện kéo dài. Kết quả giải phẫu bệnh:“U  màng não thể hợp bào, độ I”. 5 tháng sau mổ, lâm sàng và hình ảnh học cho thấy tình trạng người bệnh ổn 

định nhưng cần được tiếp tục theo dõi. 

Từ khóa: Người có tuổi; u trong sọ có hủy xương; u màng não thể hợp bào; tái tạo phần khuyết sọ. 

ABSTRACT 

INTRACRANIAL TUMOR WITH CRANIAL BONE DESTRUCTION IN AN ELDERLY PATIENT WITH 

INTERCURRENT ILLNESSES. CASE REPORT 

Le Đien Nhi, Phạm Ngọc Anh * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 4 ‐ 2013: 54 ‐ 59  The  elderly  patients  tend  to  tolerate  neurosurgical  interventions  remarkably  well.  But  the  neurosurgeon  ought to be careful in the surgical making decision if the elderly has the intercurrent illnesses and has to explain  clearly the risk‐taking to their families. The authors report the case of a 75 y.o. woman with a left large fronto‐ parietal scalp mass. This mass enlarges progressively from many months. Her intercurrent illnesses are arterial  hypertension and heart problems. The CT‐scans show a left frontal extra‐axial mass with the size 50 x 50 mm.  This space‐occupying mass causes a large left frontal bone destruction and a slight compression on the adjacent  brain. The surgical indication is formal but the preoperative diagnosis is much more doubtful in this case with  bone destruction. Therefore, the patient ‘s relatives request us to perform the mini‐invasive surgery – ablation of  the tumor without cranioplasty and wait for the histologic results of the specimen. Post‐operative complication is 

a  large  subgaleal  hematoma,  because,  without  the  cranioplasty,  we  can’t  perform  compressive  dressing  of  the 

scalp, and so, the hospital stay of this patient is long. The histologic result of tumor is “Meningeal meningioma,  grade I”. Five months after, clinical and imaging studies show that the patient status is stabilized and we need a 

long time for the follow‐up of this patient  

Key words: Eldely patient; intracranial tumor with cranial bone destruction; meningothelial meningioma; 

cranioplasty. 

Trang 2

với  khối  u  căng  dưới  da  đầu  ở  vùng  trán  bên 

trái.  Khối  u  xuất  hiện  từ  nhiều  tháng  nay,  lớn 

dần đến kích thước hiện tại 6 cm x 6 cm. Người 

bệnh tỉnh, thể trạng gầy yếu, tiếp xúc tốt, không 

dấu  hiệu  thần  kinh  khu  trú,  có  tiền  sử  tăng 

huyết áp và thiểu năng vành, đang được điều trị 

và theo dõi ở một bệnh viện tại TP.Hồ Chí Minh. 

CT‐scan sọ não ngày 19/9/2012 ghi nhận một 

khối  choán  chỗ  ngoài  trục  ở  vùng  trán  bên  trái 

kích thước 50 mm x 50mm, giới hạn rõ, có đậm 

độ như nhu mô não, khối này gây hủy một vùng  rộng xương trán và đè ép nhẹ mô não bên dưới.  Không  thấy  bất  thường  về  đậm  độ  ở  nhu  mô  não (hình 1,2).  

Xạ  hình  xương  toàn  thân  thực  hiện  ngày  27/9/2012 cũng cho thấy hình ảnh hủy xương bất  thường  ở  xương  trán‐thái  dương  trái  chưa  rõ  bản chất. Chẩn đoán trước mổ còn nghi ngờ vì 

có hủy rộng xương sọ trán trái.  

 

 Hình 1: CT‐scan: Cửa sổ xương    Hình 2: Cửa sổ nhu mô 

 Hình 1,2: CT‐scan sọ não ngày 19/9/2012: Khối u gây hủy xương vùng trán trái. 

Sau khi được giải thích rõ về bệnh trạng của 

người bệnh và về chỉ định phẫu thuật, tất cả các 

người con, do lo sợ có thể là một khối u ác tính 

nên  yêu  cầu  chỉ  thực  hiện  cuộc  mổ  nhanh  và 

đơn giản – lấy khối u để thử giải phẫu bệnh và 

không tái tạo lỗ khuyết xương sọ – vì sợ những 

biến  chứng  sau  mổ.  Bác  sĩ  gây  mê  được  mời 

khám và các xét nghiệm trước mổ cho phép thực 

hiện  cuộc  mổ  với  gây  mê  toàn  thân.  Cuộc  mổ 

được thực hiện trong 2 giờ 30 phút, từ 8g10 đến 

10g40 ngày 6/10/2012: khối u nằm ngay dưới da 

đầu, kích thước 8 cm x 7 cm, mật độ chắc, có vỏ 

bao,  u  hủy  một  vùng  sọ  trán  trái  rộng,  ăn  lan 

đến màng cứng và chèn ép nhiều màng cứng ở 

vùng  này  nhưng  chưa  xâm  nhập  qua  màng 

cứng.  Toàn  bộ  khối  u  được  lấy  hết,  không  gặp 

khó  khăn  về  cầm  máu.  Màng  cứng  quanh  lỗ 

khuyết  sọ  được  treo  lên,  khâu  đính  vào  cân  cơ 

dưới  da  nhưng  không  thể  treo  màng  cứng  ở 

trung tâm vì không tái tạo vùng sọ khuyết (hình 

3,4,5,6). Dẫn lưu vùng mổ trước khi khâu vết mổ 

từng  lớp.  Diễn  tiến  ngày  đầu  sau  mổ:  người  bệnh tỉnh sớm, không xuất hiện các dấu hiệu bất  thường về sinh hiệu và thần kinh, ống dẫn lưu  vết mổ cũng không ra nhiều máu.  

 

Hình 3: Vị trí và hình dạng khối u trước mổ 

Trang 3

   

 Hình 4: Bóc tách và lấy khối u 

Hình 5: Màng cứng được treo lên quanh lỗ khuyết 

xương 

 Hình 6: Khối u được lấy ra 

Tuy  vậy,  CT‐scan  sọ  não  chụp  kiểm  tra  24 

giờ sau mổ cho thấy có khối máu tụ lớn dưới da 

đầu  ngay  vị  trí  đã  lấy  khối  u.  Các  xét  nghiệm 

thực  hiện  cho  thấy  chức  năng  đông  máu  bình 

thường. Người bệnh có tuổi nên da  đầu  mỏng, 

mạch  máu  dễ  vỡ,  chỗ  lấy  khối  u  để  lại  một 

khoảng trống lớn dưới da đầu nhưng vì không 

tái tạo chỗ hủy xương sọ bằng nắp sọ nhân tạo 

nên  không  thể  treo  màng  cứng  trung  tâm  và 

không thể băng ép vết mổ để làm giảm khoảng  trống  đó  do  đó  xảy  ra  biến  chứng  tụ  máu  lớn  dưới lớp galea. Chúng tôi cũng đã thuyết phục  gia  đình  người  bệnh  về  việc  mổ  lần  thứ  hai  để  giải quyết các thiếu sót trên nhưng vì sợ các biến  chứng  sau  mổ  nên  thân  nhân  cương  quyết  xin  tiếp  tục  các  phương  thức  nội  khoa.  Biện  pháp  chọc hút một phần máu tụ dưới da và băng ép  nhẹ da đầu cũng được thực hiện nhưng chỉ giúp  giảm bớt một phần máu tụ dưới da đầu. Người  bệnh được tiếp tục theo dõi diễn biến lâm sàng 

và  hình  ảnh  học  trong  khi  vẫn  tiếp  tục  điều  trị  bệnh  tăng  huyết  áp  và  tim  mạch.  Tình  trạng  người bệnh ổn định, ăn uống được, vết mổ khô,  không  xuất  hiện  các  dấu  hiệu  trở  nặng  về  tình  trạng tri giác và thần kinh.  

 

Hình 7: CT‐Scan sọ não ngày 08/10/2012: Máu tụ 

lớn dưới da đầu ngay nơi mổ khối u, có gây ép màng  cứng. 

  Hình 8: CT‐Scan sọ não 20/11/2012 máu tụ dưới da 

đầu giảm bớt. 

Trang 4

Kết  quả  giải  phẫu  bệnh  khối  u  ngày 

11/10/2012:  

  Giải phẫu bệnh đại thể: Mô 6 x 5 x 4 cm. 

  Giải phẫu bệnh vi thể: gồm các tế bào lớn, 

đa diện, bào tương ưa acid. Nhân tròn, hạt nhân 

rõ.  Có  các  đại  bào  nhân  quái.  Các  tế  bào  xếp 

thành đám hoặc thành bè, dầy, mô đệm có thoái 

hóa  trong  và  cầu  canxi.  Nhuộm  hóa  mô  miễn 

dịch: CK (‐), EMA (+), KI 67 (+) 30%. 

Chẩn đoán: U màng não lành, dạng hợp bào 

(Meningothelial meningioma, grade I).  

  Vết mổ diễn biến tốt, sau 3 tuần lễ người  bệnh được ra viện nhưng vẫn tái khám thường  xuyên để theo dõi. Người bệnh đi lại được, bớt  đau  đầu,  vết  mổ  vùng  trán  trái  cũng  lõm  dần,  tiếp tục điều trị với bác sĩ nội khoa tim mạch và  tái khám đều đặn với chúng tôi. CT‐scan sọ não  ngày 15/3/2013 (5 tháng sau mổ) cho thấy không  còn máu tụ dưới da đầu nơi vết mổ, không thấy  dấu hiệu tái phát u nhưng có dấu hiệu tràn dịch  não  thất.  Chúng  tôi  vẫn  liên  lạc  thường  xuyên  với gia đình người bệnh để tiếp tục theo dõi. 

Hình 9: CT‐scan sọ não 15/3/2013 (5 tháng sau mổ)   Hình 10: Ảnh vết mổ đầu chụp ngày 07/02/2013 

BÀN LUẬN 

Việc phân chia già trẻ theo tuổi không phản 

ảnh chính xác quá trình sinh học, chỉ có tính chất 

ước  lệ  và  có  một  giá  trị  tương  đối.  Hiện  nay 

nhiều nước sắp xếp các lứa tuổi theo cách phân 

45 tuổi đến 59 tuổi: người trung niên; 60 tuổi 

đến 74 tuổi: người có tuổi. 

75 tuổi đến 90 tuổi: người già; 90 tuổi trở đi: 

người già sống lâu. 

Người có tuổi có nhiều thay đổi về sinh lý và 

giải  phẫu  của  cơ  thể  so  với  lúc  còn  trẻ,  vì  vậy 

phải  khám  bệnh  thật  kỹ,  nếu  bệnh  có  chỉ  định 

phẫu thuật phải lượng giá thật đầy đủ tình trạng 

người  bệnh,  kể  cả  những  bệnh  kèm  theo,  cân 

nhắc  thận  trọng  các  lợi  ích  cho  người  bệnh  và 

những nguy cơ biến chứng trước khi quyết định. 

Thân  nhân  người  bệnh  cũng  phải  được  giải 

thích đầy đủ về mọi tình huống có thể xảy ra để  quyết định phương thức điều trị thích hợp.   Trên đây là một trường hợp bệnh lý sọ não  phức  tạp  xảy  ra  ở  một  người  có  tuổi,  thể  trạng  gầy yếu, đang mắc thêm một số bệnh nội khoa  khác, đến khám vì một khối u da đầu lớn ở vùng  trán trái. CT‐scan sọ não cho thấy khối u có hủy  xương  sọ  trán  rộng  và  có  chèn  ép  nhẹ  nhu  mô  não.  Với  một  người  có  tuổi  thì  nhiều  loại  bệnh  cần phải nghĩ đến trong chẩn đoán: u xương sọ  (osteoma),  plasmacytoma,  multiple  myeloma,  sarcoma,  u  do  di  căn  …  Riêng  u  màng  não  dù  lành hay ác tính đều có thể xâm nhập xương sọ  gây  ra  tăng  sinh  xương  hay  gây  hủy 

ngờ  thì  sinh  thiết  trong  khi  mổ  giúp  rất  nhiều 

cho việc thực hiện phương thức mổ hoàn chỉnh. 

Trong  trường  hợp  lâm  sàng  nầy,  việc  không  thực hiện sinh thiết khối u trong khi mổ‐ dù do  không  đủ  điều  kiện  thực  hiện  ‐  cũng  là  một 

Trang 5

thì  thân  nhân  người  bệnh  có  thể  dễ  chấp  nhận 

cuộc  mổ  kéo  dài  hơn  để  tái  tạo  vùng  khuyết 

xương sọ và với các tiến bộ y khoa hiện nay, các 

phương tiện vá sọ rất đa dạng, có thể thực hiện 

biết việc thực hiện và đọc bệnh phẩm sinh thiết 

ngay cũng lệ thuộc vào nhiều yếu tố: việc xử lý 

bệnh phẩm cần nhiều mẫu cắt khác nhau, trình 

độ  chuyên  môn  của  người  đọc  kết  quả  …,  và 

thông  thường  sau  khi  có  kết  quả  sớm  ban  đầu 

để giúp nhóm mổ quyết định hướng xử lý, vẫn 

phải tiếp tục thực hiện quy trình thông thường 

về  giải  phẫu  bệnh  để  tránh  những  lầm  lẫn  về 

chẩn đoán(2,7,10).  

Chỉ  định  mổ  trong  trường  hợp  nầy  đúng, 

các  bệnh  kèm  theo  cũng  được  điều  chỉnh  tốt. 

Kíp mổ bắt buộc phải chú ý đến sự lo lắng và ý 

nguyện của thân nhân người bệnh: không muốn 

thực hiện cuộc mổ lớn kéo dài nhiều giờ ở người 

có  tuổi  nhiều  bệnh,  trong  khi  chưa  thể  loại  trừ 

được  khối  u  ác  tính  với  những  biến  chứng 

không lường trước được nên yêu cầu một cuộc 

mổ  nhanh,  đơn  giản  và  chờ  đợi  kết  quả  giải 

phẫu  bệnh  sau  cùng.  Kíp  mổ  ‐  do  tôn  trọng  ý 

nguyện  này  ‐  thực  hiện  cuộc  mổ  với  phương 

thức phẫu thuật giới hạn kể trên, tuy không gặp 

khó khăn về cầm máu, cũng không lường trước 

được các biến chứng do sự thay đổi về sinh lý, 

cơ thể học ở người có tuổi, da đầu mỏng, mạch 

máu da đầu dễ vỡ, chảy máu vào khoảng trống 

sau khi lấy hết khối u, gây ra tụ máu lớn dưới da 

đầu ở vùng mổ những ngày sau mổ. May mắn 

là phương thức treo màng cứng xung quanh chỗ 

khuyết xương sọ cũng giúp khối máu tụ không 

chèn ép nhiều vào mô não bên dưới. Như vậy, ở 

người  bệnh  có  tuổi,  việc  tái  tạo  chỗ  khuyết  sọ 

lớn bằng các phương tiện vá sọ nhân tạo là yếu 

tố quan trọng giúp việc ép cầm máu sau mổ và 

treo  màng  cứng  trung  tâm  có  hiệu  quả 

hơn(1,3,4,9,10,11).  

Khi có kết quả CT‐scan sọ não sau mổ, thân 

nhân  người  bệnh,  dù  đã  được  giải  thích  và 

thuyết  phục  vẫn  không  đồng  ý  cho  thực  hiện 

phẫu thuật cầm máu  vì  thế  thời  gian  nằm  viện  của  người  bệnh  kéo  dài.  Dù  kết  quả  giải  phẫu 

theo dõi lâu dài người bệnh vì với người có tuổi, 

có thể có những tình huống bất ngờ do các bệnh 

KẾT LUẬN 

Trường  hợp  bệnh  lý  sọ  não  kể  trên  giúp  chúng tôi có thêm kinh nghiệm ứng phó khi gặp  những  trường  hợp  bệnh  lý  phức  tạp  về  thần  kinh ở người có tuổi. Do những thay đổi về sinh 

lý và cơ thể ở người có tuổi khác với ở người trẻ  tuổi,  cho  nên  cần  thực  hiện  các  phương  thức  phẫu thuật thần kinh phù hợp với các thay đổi 

đó. Phương châm tốt nhất là hết sức thận trọng  trong  việc  chẩn  đoán,  đánh  giá  thật  kỹ  bệnh  trạng,  cân  nhắc  giữa  lợi  ích  cho  người  bệnh  và  nguy  cơ  có  thể  xảy  ra,  tư  vấn  đầy  đủ  cho  thân  nhân người bệnh về mọi tình huống có thể xảy 

ra(1,8,9,10,11)  nhưng  cũng  phải  kiên  quyết  thuyết  phục  họ  để  thực  hiện  được  tất  cả  các  phương  thức hoàn chỉnh của cuộc mổ để tránh các biến  chứng  làm  kéo  dài  thời  gian  nằm  viện  hoặc  đe  dọa đến tính mạng người bệnh. Nếu người bệnh 

có  tuổi  có  những  bệnh  kèm  theo  thì  việc  trao  đổi, phối hợp với các chuyên khoa liên quan hết  sức  cần  thiết  trước  khi  quyết  định  can  thiệp  phẫu thuật (5,6,9,11).  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Al  –Mefty  Ossama  (1991),  Meningiomas,  Raven  Press  Ltd, 

New York. 

2 Drevelegas  Antonios  (Editor)  (2011),  Imaging of Brain Tumors 

with Histological Correlations, a Second edition, Springer‐Verlag 

Berlin Heidelberg. 

3 Greenberg  Mark  S.  (2010),  Handbook of Neurosurgery,  Ch.  21: 

Tumors, pp. 582‐768: ‐21‐2‐6: Meningiomas, pp. 613‐620; ‐ 21‐ 4: Skull Tumors, 698‐701; ‐ 21‐5: Cerebral Metastases, pp.702‐

719, seventh edition, Greenberg Graphics Inc. 

4 Kaye  Andrew  H.  (2005),  Essential  Neurosurgery,  3rd   edition,  Blackwell Publishing Ltd. 

5 Lê Điền Nhi (2000), Nhận xét qua một số u màng não ác tính và u 

màng não tái phát, Y học TP. Hồ Chí Minh, số đặc biệt chuyên 

đề ung bướu học, phụ bản số 4, tập 4, trang 385‐390. 

6 Lê  Xuân  Trung  và  cộng  sự  (2003),  Bệnh  học  phẫu  thuật  thần 

kinh, chương 10: U màng não, u các dây thần kinh sọ, u sàn sọ 

và  một  vài  loại  u  khác,  trang  138‐151,  Lê  Xuân  Trung,  Nhà  Xuất bản Y học Hà Nội. 

7 Osborn  Anne  G.  (2004),  Diagnostic  Imaging  BRAIN,  First 

edition, AMIRSYS. 

Trang 6

8 Phạm Khuê (2000), Bệnh học tuổi già, Nhà Xuất bản Y học, Hà 

Nội. 

9 Schmidek  Henry  H.,  Roberts  David  W.  (2006),  Schmidek  & 

Sweet  Operative  Neurosurgical  Techniques,  Indications,  Methods, 

and  Results,  Ch.51:  Surgical  Management  of  Convexity, 

Parasagittal, and Falx Meningiomas, Bernd M. Hoffmann and 

Rudolf  Fahlbusch,  pp.  721‐738;  Fifth  edition,  Saunders 

Elsevier. 

10 Selman  Warren  R.,  Benzel  Edward  C.,  AANH  Publications 

Committee  (1999),  Neurosurgical  Care  of  the  Elderly, 

Neurosurgical  Topics:  Ch.6:  Malignant  Meningiomas, 

Salcman  Michael,  pp.  75‐85;  Ch.12:  Meningiomas  in  the 

Elderly and Asymptomatic Meningiomas, Rengachary Setti S. 

and  Suskind  Dana  L.,  pp.  153‐159,  Library  of  Congress  Catalog. 

11 Youmans  Julian  R.  (Editor‐in‐Chief)  (1996),  Neurological 

Surgery, Vol.4, Tumors, Ch. 125: Brain Metastases, Young B., 

Patchell  R.A.,  pp.  2748‐2760;  Ch.127:  Meningiomas,  Mc  Dermott M.W, Wilson C.B., pp. 2782‐2825; Ch. 141: Tumors of  the Scalp, Hoffman W.Y., pp. 3073‐3083; Fourth edition, W.B.  Saunders Company. 

 

Ngày phản biện   nhận xét bài báo    29/08/2013. 

Ngày bài báo được đăng:    10/10/2013 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 18:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm