1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Adenosine deaminase (ADA) dịch báng trong chẩn đoán lao màng bụng

7 124 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 319,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu này được thực hiện nhằm những mục tiêu nghiên cứu sau: 1) khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của lao màng bụng; 2) xác định giá trị ngưỡng, độ nhạy, độ chuyên của ADA dịch báng trong chẩn đoán lao màng bụng.

Trang 1

ADENOSINE DEAMINASE (ADA) DỊCH BÁNG TRONG CHẨN ĐOÁN LAO MÀNG BỤNG

Hứa Thúy Vi*, Bùi Hữu Hoàng**

TÓM TẮT

Mở đầu: Việc chẩn đoán lao màng bụng (LMB) còn gặp nhiều khó khăn vì các phương pháp chẩn đoán

trước đây có độ nhạy, độ chuyên biệt thấp Adenosine Deaminase(ADA) dịch báng đã được ứng dụng nhiều trong chẩn đoán LMB tại nhiều nước trên thế giới vì đây là một xét nghiệm nhanh, không xâm lấn, có độ nhạy và

độ chuyên biệt cao Ở Việt nam, xét nghiệm ADA dịch cơ thể chỉ mới thực hiện từ năm 2009 tại bệnh viện Chợ

Rẫy và chỉ có một nghiên cứu về vai trò của xét nghiệm này trong chẩn đoán LMB với cỡ mẫu nhỏ Mục tiêu

nghiên cứu: 1) khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của LMB; 2) xác định giá trị ngưỡng, độ nhạy, độ

chuyên của ADA dịch báng trong chẩn đoán LMB

Phương pháp: nghiên cứu cắt ngang, thực hiện trên 91 bệnh nhân (BN) báng bụng có SAAG <11g/L Kết quả: có 30 BN được chẩn đoán LMB dựa vào 1 trong 2 tiêu chuẩn hoặc PCR dịch màng bụng dương

tính hoặc kết quả nội soi sinh thiết màng bụng có hiện diện nang lao Với ngưỡng ADA 31,7 U/L xác định bằng đường cong ROC, có độ nhạy 90% và độ chuyên 96,72% Giá trị trung bình của ADA trong nhóm LMB lớn hơn trong nhóm không phải LMB

Kết luận: ADA dịch báng là xét nghiệm có giá trị trong chẩn đoán phân biệt báng bụng do lao và không do

lao Xét nghiệm này nên thực hiện thường quy ở những BN báng bụng dịch tiết ưu thế lympho bào, nhất là những BN không thực hiện được nội soi sinh thiết màng bụng

Từ khoá: lao màng bụng (LMB), ADA (Adenosine Deaminase), SAAG (Serum Ascitis Albumin Gradient)

ABSTRACT

ADENOSINE DEAMINASE (ADA) IN ASCITIC FLUID IN THE DIAGNOSIS OF TUBERCULOUS

PERITONITIS

Hua Thuy Vi, Bui Huu Hoang * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 178 -

184

Background: The diagnosis of tuberculous peritonitis (TP) is still difficult due to the low sensitivity and

specificity of former diagnosis methods Adenosine deaminase (ADA) level ascitic fluid was used worldwide for the diagnosis of peritoneal tuberculosis because of quick and noninvasive test with high sensitivity and specificity

In Vietnam, ADA test in ascitic fluid has just done at Cho Ray hospital since 2009 and there is few studies concerning the role of ADA in diagnosis of TP

Objectives: 1) to survey clinical, paraclinical characteristics of TP; 2) to determine the sensitivity and

specificity of ADA levels in ascitic fluid for the diagnosis of TP

Methods: cross-sectional study, 91 ascitic patients with SAAG <11g/L

Results: 30 patients with TP were diagnosed by positive PCR of ascitic fluid or tubercles in results of

laparoscopic peritoneal biopsy Threshold of ADA was 31.7 U/L determined by the ROC curve, with sensitivity 90% and specificity 96.72% The mean value of ADA in the TP group is higher than other group

Tác giả liên lạc: BS Hứa Thúy Vi ĐT: 0909181698 Email: huathuyvi@yahoo.com

Trang 2

Conclusions: ascitic ADA level had an important role for the differential diagnosis of ascites due to

tuberculosis and not due to tuberculosis.This test should be done routinely in ascitic patients with lymphocytes dominated ascitic fluid, especially in those patients the laparoscopic peritoneal biopsy was not performed

Keywords: Tuberculous peritonitis, ADA (Adenosine Deaminase), SAAG (Serum Ascitis Albumin

Gradient)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo thống kê của WHO, ước tính mỗi năm

có khoảng 8,8 triệu người mắc lao mới và 52.000

trường hợp tử vong mỗi tuần hoặc hơn 7.000

người chết do lao mỗi ngày(27) Khoảng 95% số

bệnh nhân mới và 99% số người chết do lao

thuộc các nước đang phát triển Việt Nam là

quốc gia đứng hàng thứ 13 trong 22 nước có số

bệnh nhân lao cao nhất thế giới Tỷ lệ phát hiện

bệnh lao các thể là 117/100.000 dân, trong đó lao

ổ bụng cũng có khuynh hướng gia tăng, chiếm

tỉ lệ khoảng 11% Lao màng bụng là thể lao

thường gặp nhất trong các bệnh lý lao ổ bụng

với tần suất ngày càng gia tăng trên toàn thế

giới (3,8) LMB thường có các biểu hiện lâm sàng

mơ hồ, diễn tiến âm thầm Chẩn đoán LMB chủ

yếu dựa vào nhuộm, cấy vi khuẩn lao, PCR lao

dịch màng bụng (DMB) và có thể nội soi sinh

thiết màng bụng Ngày nay, cấy vi khuẩn lao

trong hệ thống cấy tự động BACTEC 460 hoặc

MGIT, cho kết quả nhanh hơn nhưng thời gian

trung bình phải mất 14 ngày và tỉ lệ cấy dương

tính trong LMB vẫn thấp (17) PCR lao DMB tuy

có độ đặc hiệu cao nhưng độ nhạy rất thấp (6,8)

Sinh thiết màng bụng qua nội soi là một thủ

thuật xâm lấn, có giá trị cao trong chẩn đoán

LMB nhưng chỉ được thực hiện tại một số bệnh

viện lớn Chính vì vậy, chẩn đoán LMB còn gặp

nhiều khó khăn và từ đó gây chậm trễ trong

điều trị Vì vậy, việc tìm kiếm một phương pháp

chẩn đoán LMB sớm, không xâm lấn, có độ

nhạy và độ đặc hiệu cao, chi phí thấp là một vấn

đề rất cần thiết ADA là một nhóm các men có

cùng một chức năng hóa học trong quá trình

chuyển hóa purin, xúc tác sự chuyển adenosine

và deoxyadenosine thành inosine và

deoxyinosine ADA được phân bố rộng trong

các mô và các dịch cơ thể Hoạt tính của ADA

tăng cao trong những bệnh gây kích thích miễn

dịch tế bào Từ năm 1978, nhiều tác giả đã nghiên cứu và nhận thấy ADA dịch cơ thể rất có giá trị trong chẩn đoán các trường hợp tràn dịch

do lao ADA dịch báng trong chẩn đoán LMB đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới, nhất là những nước có tần suất mắc lao cao vì đó là một xét nghiệm nhanh, kỹ thuật khá đơn giản, chi phí thấp, có độ nhạy và độ chuyên biệt cao từ 92

- 100% tùy theo giá trị điểm cắt của ADA(16) Việt Nam là một nước có tần suất cao về bệnh lao, nhưng xét nghiệm ADA dịch cơ thể chỉ mới được thực hiện từ năm 2009 tại BV Chợ Rẫy Ở Việt nam, có rất ít nghiên cứu ADA trong chẩn đoán LMB Chính vì thế, chúng tôi thực hiện đề tài này để xác định: vai trò của ADA dịch báng trong chẩn đoán LMB

Mục tiêu nghiên cứu: 1) Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của LMB 2) Xác định giá trị ngưỡng, độ nhạy, độ chuyên biệt của ADA dịch báng trong chẩn đoán LMB

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

BN báng bụng tại khoa nội tiêu hóa, bệnh viện Nhân Dân 115 (từ tháng 1/2010 đến tháng 12/2010) và BV Chợ Rẫy (từ tháng 3/2010 đến tháng 9/2010)

Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang, mô tả và phân tích

Chọn mẫu

BN thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu và tiêu chuẩn loại trừ:

Tiêu chuẩn chọn

BN báng bụng có SAAG < 11g/L

Tiêu chuẩn loại trừ

BN không đồng ý làm các xét nghiệm ADA, PCR dịch báng hoặc BN có chống chỉ định hoặc

từ chối nội soi sinh thiết màng bụng khi kết quả

Trang 3

PCR dịch báng âm tính mà chưa rõ nguyên

nhân của tràn dịch màng bụng

Tiêu chuẩn chẩn đoán LMB

Dựa vào 1 trong 2 tiêu chuẩn sau: PCR dịch

báng dương tính hoặc nội soi sinh thiết màng

bụng có hiện diện nang lao

Cách tiến hành

Các đối tượng nghiên cứu được hỏi bệnh sử,

khám lâm sàng và tiến hành chọc DMB Khi kết

quả PCR dịch báng âm tính hoặc chưa xác định

được nguyên nhân của DMB qua các phương

tiện cận lâm sàng BN sẽ được hội chẩn với BS

khoa ngoại về chỉ định nội soi sinh thiết màng

bụng để chẩn đoán xác định Chúng tôi chia BN

thành 2 nhóm LMB và nhóm không LMB dựa

vào các kết quả trên Định lượng ADA dịch

báng được thực hiện tại phòng xét nghiệm của

bệnh viện Chợ Rẫy bằng bộ xét nghiệm

Bio-Quant ADA assay

Thu thập và xử lý số liệu

Theo phiếu thu thập số liệu, số liệu được xử

lý bằng Stata 10.0

KẾT QUẢ

Chín mươi môt BN được khảo sát gồm: 30

BN LMB và 61 BN không phải LMB (1 BN

lupus, 1 BN nang giả tụy, 1 BN tăng Eosinophil,

58 BN ung thư)

Đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, cận lâm

sàng của nhóm nghiên cứu

Bảng 1: Đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng nhóm nghiên

cứu

Đặc điểm Nhóm LMB Nhóm không LMB p

Giới tính

Nữ

Nam

66,7%

33,3%

55,7%

44,3%

0,318 Tuổi trung bình 45,87±18,6 56,48±17,12 0,0083

Tr/chứng nhiễm lao chung

Mệt mỏi

Sốt kéo dài

Sốt về chiều

Ăn uống kém

73,3%

13,3%

50%

66,7%

57,4%

4,9%

13%

63,9%

0,139 0,213 0,000 0,797 Tr/chứng ở bụng

Đau bụng 53,3% 49,2% 0,71

Nhận xét: LMB: nữ chiếm gấp đôi nam Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tuổi trung bình giữa 2 nhóm Triệu chứng mệt mỏi chiếm tỉ lệ cao nhất trong các triệu chứng nhiễm lao chung của nhóm LMB Triệu chứng đau bụng thường gặp nhất của các triệu chứng tại ổ bụng

Bảng 2: Mối tương quan của CA 12.5 trong nhóm

LMB và nhóm không LMB:

TB ± ĐLC Nhóm LMB Nhóm không LMB p

CA 12.5 647,12±413,48 682,94±1097,20 0,0168 Nhận xét: giá trị CA 12.5 trong nhóm LMB khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm không phải LMB

Bảng 3: Phân tích DMB:

Nhận xét: LMB: đa số DMB có màu vàng chanh, 66,67% BN LMB có bạch cầu đơn nhân

>70% Trung bình nồng độ protein, trung bình bạch cầu/ DMB trong nhóm LMB khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm không phải LMB

Đặc điểm kết quả ADA dịch màng bụng

Bảng 4: Độ nhạy, độ chuyên ADA theo các giá trị

điểm cắt:

Điểm cắt ADA (U/L) Độ nhạy Độ chuyên

Gía trị điểm cắt ADA DMB trong nghiên cứu chúng tôi: 31,7 U/L, cho độ nhạy: 90%, độ đặc hiệu 96,72% phù hợp với giá trị ngưỡng

Đặc điểm Nhóm

LMB

Nhóm không LMB

p

Màu sắc Vàng chanh Vàng đục

Đỏ hồng

70%

6,67%

23,33%

65,6%

4,92%

29,48

0,74

Trung bình nồng độ Protein

56±11,23 46,03

±11,5

0,0002 Trung bình đường 96,57

±30,64

110,73

±43,75

0,077 Trung bình bạch cầu 3216,2

±3373,72

1357,85

±1049,38

0,017

Trung bình bạch cầu đơn nhân

73,45

±13,82

44,82

±23,14

<0,001

Trang 4

cho độ nhạy, độ đặc hiệu tốt nhất theo đường

cong ROC

Hình 1: Đường cong ROC

Bảng 5: Kết quả ADA DMB:

LMB Không LMB

P = 0,000

< 31,7 U/L 3 (10%) 59 (96,72%)

≥ 31,7 U/L 27 (90%) 2 (3,28%)

Tổng 30 (100%) 61 (100%)

Nhận xét: 90% BN LMB có ADA DMB ≥ 31,7

U/L so với 3,28% BN không phải LMB, sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê

BÀN LUẬN

Tuổi và giới

Bảng 6: So sánh đặc điểm tuổi và giới tính với các

nghiên cứu khác:

Tác giả Số BN Tuổi trung bình Nam/nữ

Chúng tôi 91 45,87 1:2

Võ H Minh Công(25) 48 34,2 1:3

Hồ Xuân Thọ(9) 40 30 1:2

Uzunkoy A(24) 11 39 1:2

Muneef MA(11) 46 46 1:1

Chow KM(5) 115 55 1:1

Tuổi

LMB có thể gặp ở mọi lứa tuổi Theo y văn

và theo nhiều nghiên cứu cho thấy lứa tuổi

LMB thường gặp từ 20-40 tuổi Độ tuổi trung

bình trong nghiên cứu chúng tôi phù hợp với

nghiên cứu của Muneef MA và cs(11), của

Chow KM (5), tuy nhiên tuổi trung bình trong

nghiên cứu chúng tôi lớn hơn so với những

nghiên cứu của các tác giả khác(9,24,25) Bên

cạnh đó, chúng tôi nhận thấy nhóm BN báng bụng do lao xảy ra ở lứa tuổi trẻ hơn nhóm báng không do lao có ý nghĩa thống kê Điều này phù hợp với y văn vì báng không do lao

đa số là do ung thư di căn hay ung thư nguyên phát xảy ra ở những BN lớn tuổi

Giới tính

Trong nghiên cứu chúng tôi, tỉ lệ BN nữ gấp đôi nam Tỉ lệ này tương tự của Hòa Bình- Hữu Lộc(12), Hồ Xuân Thọ và cs(9), Uzunkoy A(24) Trong thời gian gần đây, đa số các nghiên cứu LMB cho thấy tỉ lệ phân bố giữa nam và nữ gần như tương đương nhau(5,11)

CA 12.5

Kháng nguyên CA 12.5 là một chỉ dấu “cổ điển” để chẩn đoán và theo dõi ung thư buồng trứng Tuy nhiên gần đây, người ta nhận thấy

CA 12.5 cũng tăng ở những bệnh lành tính đặc biệt là lao và một số bệnh lý ác tính khác Theo nghiên cứu của chúng tôi, CA 12.5 tăng đáng kể trong những trường hợp LMB Giá trị trung bình của CA 12.5 là: 648,12 ± 413,48 Trong nghiên cứu của Koc S và cs(10) thực hiện trên 1.826 BN nữ, tác giả nhận thấy CA 12.5 tăng trong 90% BN nữ LMB với giá trị trung bình là

565 U/ml Như vậy, giá trị trung bình CA 12.5 trong nghiên cứu chúng tôi tương đương với kết quả của Koc S và cs(10) Tuy nhiên, kết quả CA 12.5 trong nghiên cứu chúng tôi cao hơn nghiên cứu của Bilgin T và cs (2) (CA 12.5: 331 U/ml) và một số nghiên cứu khác Ngoài ra, giá trị CA 12.5 trong nghiên cứu chúng tôi thấp hơn của Ocal PA và cs(14) (CA 12.5: 1070 U/ml) Sự khác biệt này có lẽ do khác nhau về cỡ mẫu trong mỗi nghiên cứu Trong nhiều nghiên cứu đã cho thấy, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của giá trị

CA 12.5 trước và sau khi điều trị lao, và người ta

sử dụng CA 12.5 như là một công cụ theo dõi đáp ứng với điều trị LMB Chính vì những điều trên, chúng tôi muốn nhấn mạnh một điều cần lưu ý là nên đặt ra chẩn đoán phân biệt LMB với ung thư buồng trứng trong những trường hợp DMB dịch tiết và kèm theo tăng CA 12.5, nhất là trong những nước đang phát triển có tần suất

1 - Specificity

Area under ROC curve = 0.9620

Trang 5

lao cao

Đặc điểm DMB

Trong nghiên cứu chúng tôi, nhóm LMB

đều có những đặc tính gợi ý LMB như: đa số

DMB đều có màu vàng chanh (70%), protein

DMB ≥ 25 g/l, bạch cầu đơn nhân chiếm ưu thế

(66,67%) Tuy nhiên, những dấu hiệu này không

đặc trưng cho LMB, như bạch cầu đơn nhân

trong DMB chiếm ưu thế cũng có thể gặp trong

những trường hợp không phải do LMB như:

tràn dịch màng bụng có tăng áp cửa do sử dụng

lợi tiểu hoặc viêm phúc mạc thứ phát có điều trị

kháng sinh, hoặc ung thư màng bụng(18)

PCR lao DMB

Qua khảo sát 30 BN LMB chúng tôi ghi nhận

chỉ có 13,3% PCR lao DMB dương tính Kết quả

của chúng tôi lớn hơn kết quả của Võ Hồng

Minh Công(25) (tỉ lệ PCR lao/DMB dương tính:

8,33%), Schwake và cs(20) (tỉ lệ dương tính: 0%)

Tuy nhiên, kết quả này thấp hơn một số nghiên

cứu khác như: Nguyễn Khánh Trạch và Hồ Nam

Phương(13) là 35,7%, Akin T là 25%(1) Sự khác biệt

này có thể liên quan về mặt kỹ thuật thực hiện

PCR, đoạn DNA được chọn để khuếch đại, hóa

chất sử dụng, cũng như việc lấy mẫu thử DMB

trong nghiên cứu chúng tôi với số lượng tương

đối ít khoảng 10ml mà chúng ta biết rằng trực

khuẩn lao trong DMB rất ít nên độ nhạy thấp

nếu lượng dịch làm xét nghiệm ít Kỹ thuật PCR

lao DMB trong chẩn đoán LMB có nhiều ưu

điểm như sau: không xâm lấn, cho kết quả

nhanh sau 48 giờ, có độ đặc hiệu cao(20,25) Tuy

nhiên, PCR lao DMB trong chẩn đoán LMB trên thực tế còn nhiều vấn đề cần quan tâm như: chi phí PCR lao DMB tương đối cao, xét nghiệm này chỉ được thực hiện tại những trung tâm chuyên khoa do máy móc hiện đại, kỹ thuật thực hiện PCR tương đối phức tạp và quan trọng nhất đó là độ nhạy trong chẩn đoán LMB của xét nghiệm thấp(1,6,13,25) Do đó, chúng tôi nhận thấy PCR lao DMB chưa đủ sức thuyết phục để được ứng dụng rộng rãi trên lâm sàng, nhất là những BN nghi ngờ LMB không có điều kiện để được khám tại những trung tâm chuyên khoa

Nội soi sinh thiết màng bụng

Chúng tôi có 31 BN được nội soi sinh thiết màng bụng, kết quả mô học như sau: 26 BN LMB, 4BN carcinoma di căn màng bụng, 1 BN viêm mạn tính Tuy rằng, nội soi sinh thiết màng bụng là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán LMB, nhưng khi ứng dụng vào lâm sàng chúng tôi thấy có một vài khó khăn như sau: nội soi sinh thiết màng bụng đòi hỏi phải được thực hiện tại một số bệnh viện lớn, cần có sự phối hợp giữa hai chuyên khoa nội và ngoại khoa, hạn chế thực hiện ở một số BN có chống chỉ định của nội soi sinh thiết màng bụng, chi phí

kỹ thuật khá cao, và có rất nhiều BN từ chối thực hiện thủ thuật Chính vì thế, nội soi sinh thiết màng bụng không thể là một thủ thuật thường quy áp dụng cho tất cả BN nghi ngờ báng bụng do lao

Giá trị ngưỡng, độ nhạy, độ chuyên của ADA DMB trong chẩn đoán LMB

Bảng 7: So sánh giá trị ADA DMB trong nghiên cứu chúng tôi với các nghiên cứu khác:

Nghiên cứu Số BN Độ nhạy % Độ chuyên % Điểm cắt (U/L) Tiêu chuẩn ∆ LMB

Trần Thị Khánh Tường(23) 23 92,86 100 95,65 100 16 40 Mô học

Trang 6

(Cấy: vi khuẩn lao dương tính Mô học: dựa vào sinh thiết màng bụng phù hợp lao Điều trị thử: đáp ứng hoàn toàn với điều trị lao)

Giá trị ngưỡng, độ nhạy, độ đặc hiệu của

ADA trong nghiên cứu chúng tôi tương đương

với Brant và cs(4), Voigt MD và cs (26), Sathar M và

cs(19), Tarcoveanu E và cs(22) Tuy nhiên, theo

Riqielme A và cs(16) phân tích số liệu của 264 BN

từ 12 nghiên cứu tiền cứu thực hiện tại nhiều

quốc gia đã ghi nhận: với giá trị ngưỡng ADA là

39 U/l cho độ nhạy 100%, độ chuyên 97,2% Như

vậy, có sự khác biệt về giá trị ngưỡng, độ nhạy,

độ chuyên của ADA trong nghiên cứu của

chúng tôi và từ tổng hợp gộp của Riqielme A và

cs(16), hay của Soliman A(21), Ribera E và cs(15) và

của Trần Thị Khánh Tường và cs(23) Nghiên cứu

của chúng tôi và các tác giả trên khác nhau về số

lượng BN, khác nhau về tiêu chuẩn chẩn đoán

LMB trong mỗi nghiên cứu, cũng như khác

nhau về phương pháp xác định ADA: tác giả

Riqielme A, Ribera và cs dùng phương pháp

Giusti để xác định ADA, ngược lại Soliman,

Trần Thị Khánh Tường và nghiên cứu của

chúng tôi dùng phương pháp Non Giusti để xác

định ADA Nguyên lý của phương pháp Giusti

dựa trên việc đo những thay đổi màu sắc được

tạo ra sau khi NH3 hình thành trong quá trình

chuyển hóa của Adenosine Và nguyên lý hoạt

động của phương pháp Non Giusti ngược với

phương pháp Giusti Chính từ những khác biệt

đó đã dẫn đến sự khác nhau về giá trị điểm cắt,

độ nhạy, độ chuyên của ADA trong nghiên cứu

của chúng tôi và của các tác giả đã đề cập ở trên

Bên cạnh đó, chúng tôi ghi nhận khi ADA

≥31,7 U/L, có 02 trường hợp cho kết quả dương

tính giả chiếm tỉ lệ 3,28% đó là 02 BN bị ung thư

dạ dày Kết quả ADA dương tính giả do bệnh lý

ác tính hoặc viêm phúc mạc do vi khuẩn không

do lao đã được ghi nhận trong những nghiên

cứu trước đây Theo Hillebrand DJ và cs(7) thực

hiện nghiên cứu trong tổng số 368 mẫu DMB,

ghi nhận có 13% trường hợp dương tính giả do

K màng bụng và 5,8% nhiễm khuẩn màng bụng

không do lao Kết quả này tương tự như kết quả

trong nghiên cứu của Voight MD và cs(26) và của

Ribera E và cs(15)

KẾT LUẬN

ADA dịch báng là một xét nghiệm không xâm lấn, thời gian trả kết quả nhanh,, chi phí thấp và nhất là có độ nhạy và độ đặc hiệu cao trong chẩn đoán LBM Với giá trị điểm cắt ADA trong nghiên cứu của chúng tôi là 31,7 U/L cho

độ nhạy: 90%, độ đặc hiệu 96,72% Do đó, xét nghiệm ADA dịch màng bụng nên làm thường quy cho tất cả những BN tràn dịch màng bụng dịch tiết ưu thế lympho, nhất là những BN có chống chỉ định của nội sinh sinh thiết màng bụng hoặc những nơi chưa thực hiện được sinh thiết màng bụng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

peritonitis”.The Turkish Journal of Gastroenterology, 11, pp:

162-165

tuberculosis with pelvic abdominal mass, ascites ans elevated CA125 mimicking advanced ovarian carcinoma: a series of 10

cases” Int.J Gynecol Cancer,11, pp 290-294

laparoscope away?” Gastroenterology, 113, pp 687-689

Adenosine deaminase determination in the diagnosis of

tuberculous Rev Inst Med Trop Sao Paulo, 37, pp 449-453

associated mortality is high among patients waiting for the

results of Mycobacterial cultures of ascittic fluid samples” Oxfod

Journals medicine clinical infectious disease, 35, pp 409-413

correctional facility inmate” Hosp Physician, pp 35-39

reports of 26 cases, detailing diagnostic and therapeutic

problems” European Journal of Gastroenterology and hapatology,

13, pp 581-585

Trường đại học Y dược Thành Phố Hồ Chí Minh Nhà xuất bản

y học, tr: 267-277

trị tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định 1980-1982 Báo cáo khoa học kỹ thuật bệnh viện Nhân Dân Gia Định,tr:87-92

retrospective review of 22 cases” Gynecol, Oncol,103, pp

565-569

“Tuberculosis in the belly: a review of forty six cases involving

the gastrointestinal tract and peritoneum” Scand J

Gastroenterol.36, pp.528-532

cảnh hiện nay của lao màng bụng ở người lớn tại bệnh viện Việt

Trang 7

Nam Cu Ba-Hà Nội” Hội nội khoa Việt Nam Tổng hội y học Việt

Nam xuất bản, tập3, tr: 8-11

trị của một số kỹ thuật chẩn đoán trong lao màng bụng” Nội

khoa, tập 2, tr:11-20

patients with ascites” The Turkish Journal of Gastroenterology, 16,

pp.257-261

value of ascites gamma interferon levels in tuberculosis

peritonitis Comparision with Adenosine Deaminase activity”

Tubercle, 71, pp 193-197

Adenosine Deaminase in ascitic fluid for the diagnosis of

tuberculosis peritonitis” A meta-ananlysis J Clin Gastroenterol,

40, pp 705-710

detection of Mycobacteria by BATEC MGIT 460, Lowenstein

Jensen media and direct AFB smear examination” India J med

microbial, 25, pp 383-386

peritonitis: preseting features, diagnostic strategies and

treatment” Aliment Pharmacol Ther, 22, pp 685-700

Adenosine Deaminase activity in patients with HIV and

tuberculosis peritonitis” Eur J Gastroenterol Hepatol, 11, pp.337

tuberculosis with negative polymarese chain reaction results:

report of two cases” Scand J Gastroenterol; 38, pp.221-224

of ascites adenosine deaminase activity and gamma interferon

level in discrimating tuberculous from non-tuberculous ascites” J

Egypt Soc Parasitol, 24, pp 93-105

Tuberculosis in laparoscopic Era” Acta Chir Belg, 109, pp 65-70

đầu giá trị của Adenosine Deaminase trong dịch báng để chẩn

đoán lao màng bụng” Tập san thông tin y học Trường đại học y

khoa Phạm Ngọc Thạch, tập 9, tr: 83-89

tuberculosis: experience from 11 cases and review of the

literature” World J Gastroenterol, 10, pp 3647-3549

hướng dẫn siêu âm trong chẩn đoán lao màng bụng” Luận văn

thạc sĩ y học

of ascites adenosine deaminase in TB peritonitis” Lancet, 8, pp

751-754

Guidelines for national programmes”

Ngày đăng: 21/01/2020, 18:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm