Vitamin A trong sữa ở bà mẹ cho con bú là chỉ số quan trọng, đặc biệt nhạy, phản ánh về tình trạng vitamin A của mẹ và trẻ nhỏ được nuôi bằng sữa mẹ. Nghiên cứu trên 337 bà mẹ sau sinh, nhằm xác định thực trạng vitamin A trong sữa mẹ và một số yếu tố liên quan tại thời điểm 1 tuần sau sinh tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Trang 1Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Song Tú, Viện Dinh dưỡng Quốc
gia
Email: nguyensongtu@yahoo.com
Ngày nhận: 26/12/2016
Ngày được chấp thuận: 26/2/2017
THỰC TRẠNG VITAMIN A TRONG SỮA MẸ SAU KHI SINH 1 TUẦN TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH, THÁI NGUYÊN
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
Nguyễn Song Tú 1* , Trần Thúy Nga 1 ,
Lê Danh Tuyên 1 , Frank Wieringa 2 , Hoàng Văn Phương 3
1
Viện Dinh dưỡng Quốc gia
2
Viện Nghiên cứu và phát triển Pháp - Marseille – Cộng hòa Pháp
3
Cục Y tế Dự phòng, Bộ Y tế Vitamin A trong sữa ở bà mẹ cho con bú là chỉ số quan trọng, đặc biệt nhạy, phản ánh về tình trạng vita-min A của mẹ và trẻ nhỏ được nuôi bằng sữa mẹ Nghiên cứu trên 337 bà mẹ sau sinh, nhằm xác định thực trạng vitamin A trong sữa mẹ và một số yếu tố liên quan tại thời điểm 1 tuần sau sinh tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Kết quả cho thấy tỷ lệ bà mẹ có vitamin A sữa mẹ thấp là 5,6% ở ngưỡng nhẹ có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng Giá trị trung bình hàm lượng vitamin A sữa mẹ là 3,91 mmol/L Có sự khác biệt về tỷ lệ vitamin A sữa mẹ thấp và hàm lượng vitamin A trong sữa mẹ (3,7mol/L ở mẹ dưới 30 tuổi và 4,6mol/L ở
mẹ ≥ 30 tuổi) sau sinh 1 tuần, theo nhóm tuổi (p < 0,05) Nồng độ vitamin A trong sữa mẹ sau sinh 1 tuần có tương quan tuyến tính với số con của bà mẹ Những bà mẹ có từ 3 con trở lên có hàm lượng vitamin A sữa
mẹ cao hơn những bà mẹ có từ 2 con trở xuống (p < 0,05).
Từ khoá: retinol sữa mẹ, thiếu vitamin A, yếu tố liên quan, bà mẹ sau sinh
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Sữa mẹ là nguồn cung cấp vitamin A chính
cho trẻ sơ sinh, đồng thời là nguồn dinh
dưỡng thiết yếu của trẻ Vitamin A sữa mẹ
giúp hình thành dự trữ vitamin A ở gan trong
những tháng đầu tiên của trẻ [1] Sự thiếu hụt
vitamin A có thể xảy ra trong thời gian trẻ bú
mẹ đặc biệt trong giai đoạn 6 tháng đầu
Vì vậy, Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến cáo
cần theo dõi tình trạng vitamin A của bà mẹ
cho con bú và đây cũng là một chỉ báo quan
trọng, đặc biệt nhạy, phản ánh về tình trạng
vitamin A của mẹ và trẻ nhỏ được nuôi bằng
sữa mẹ [2]
Trong khi đó, các số liệu về tình trạng vita-min A trong sữa mẹ ở Việt Nam và trên thế giới ở giai đoạn 1 tuần đầu sau sinh rất hiếm, bởi việc tiến hành thu thập sữa mẹ trên phụ
nữ sau sinh là khó khăn, tốn kém và mất nhiều thời gian Ở Kenya, năm 2003, tỷ lệ bà
mẹ có vitamin A trong sữa thấp là 78,1% ở bà
mẹ đang cho con bú trong 4 tháng đầu [3] Ở Malawi, năm 2004 tỷ lệ là 14,8% ở bà mẹ cho con bú trong 2 tuần đầu sau sinh [4] Viện Dinh dưỡng năm 1998, đã điều tra trên bà mẹ cho con bú trong 12 tháng đầu, tỷ lệ vitamin A trong sữa thấp rất cao chiếm 56,3%; năm
2000, tỷ lệ là 51,1% ở vùng núi phía Bắc và năm 2015, vẫn rất cao là 37,6% ở vùng nông thôn [5; 6] Ở Phú Thọ, năm 2015 là 26% tại thời điểm 1 tháng sau sinh [7]
Hàm lượng vitamin A sữa mẹ ở bà mẹ Tanzania năm 2007, là 4,34 µmol/l tại thời điểm 1 tháng sau sinh [8] Thời điểm từ sau
Trang 2năm 2011, cũng không có nhiều số liệu tình
trạng vitamin A trong sữa mẹ Điều tra tại Phú
Thọ chỉ ra hàm lượng vitamin A là 1,53 µmol/l
Các yếu tố liên quan đến tình trạng vitamin
A trong sữa mẹ là dân tộc, khẩu phần ăn bị
thiếu vitamin A, tình trạng vitamin A của người
mẹ, chế độ ăn uống, đáp ứng pha cấp tính
của phản ứng viêm, khoảng thời gian sau sinh
[9]
Các giải pháp cải thiện tình trạng thiếu
vitamin A đã được tiến hành bởi nhiều nước
trên thế giới và ở Việt Nam Bổ sung vitamin A
cho bà mẹ sau sinh là một trong những
khuyến nghị quan trọng của Tổ chức Y tế Thế
giới nhằm mục đích nâng cao nồng độ vitamin
A trong sữa mẹ, từ đó cải thiện tình trạng
thiếu vitamin A của trẻ [10] Năm 2011, Tổ
chức Y tế Thế giới đã tiếp tục đưa ra những
khuyến nghị về bổ sung vitamin A cho bà mẹ
sau đẻ Trong khuyến nghị này, thay đổi lớn
nhất khu trú vào những vùng thiếu vitamin A ở
mức ý nghĩa sức khỏe cộng đồng [11]
Thời điểm được khuyến cáo bổ sung hiện
nay ở Việt Nam là 1 tháng sau sinh, tuy nhiên
thời điểm bổ sung vitamin A cho bà mẹ
thường là giai đoạn ngay sau sinh hoặc trong
vòng 1 tuần đầu Do vậy, chúng tôi thấy rằng
cần có số liệu tình trạng vitamin A trong sữa
mẹ sau khi sinh 1 tuần, nhằm cung cấp thêm
bằng chứng về thực trạng, cũng như tính hợp
lý của việc bổ sung vitamin A tại thời điểm 1
tuần, cũng là thời điểm khuyến nghị bổ sung
Vì vậy, nghiên cứu được tiến hành với mục
tiêu:
1 Xác định tình trạng vitamin A trong sữa
mẹ sau khi sinh 1 tuần tại huyện Phú Bình,
tỉnh Thái Nguyên
2 Mô tả một số yếu tố ảnh hưởng đến
hàm lượng vitamin A trong sữa mẹ sau khi
sinh 1 tuần ở nhóm đối tượng trên
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1 Đối tượng
Những đối tượng phụ nữ sau khi sinh 1 tuần, được lựa chọn tham gia nghiên cứu sau khi đáp ứng các tiêu chuẩn nghiên cứu Chọn đối tượng nghiên cứu và tiêu chuẩn lựa chọn: lựa chọn toàn bộ bà mẹ sinh con ở giai đoạn tuần đầu sau sinh tại 8 xã được chọn sau khi đã tham gia sàng lọc ở giai đoạn
có thai 26 - 30 tuần thai; sinh con sống và nuôi con bằng sữa mẹ và chưa uống viên vitamin A liều cao sau khi sinh
2 Phương pháp
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được triển khai tại 8 xã (Tân Khánh, Tân Kim, Dương Thành, Hương Sơn, Nga Mi, Kha Sơn, Tân Hòa, Xuân Phương) thuộc huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên trong thời gian từ tháng 1/2011 đến tháng 11/2011
Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang.
Cỡ mẫu: Công thức tính:
Vớiα= 0,05;
Z(1- α /2)= 1,96;
d = 0,05; p: tỷ lệ bà mẹ Vitamin A trong sữa thấp 14,8% [4]; Tính toán được cỡ mẫu cần là 196 Do nghiên cứu triển khai trên nền một nghiên cứu cắt ngang với các bà mẹ mang thai trước đó, do vậy thực tế tiến hành trên 337 bà mẹ
Phương pháp chọn mẫu: Chọn xã vào
nghiên cứu: Chọn chủ đích huyện Phú Bình là huyện trung du của tỉnh Thái Nguyên, chọn
Z2(1-α/2) p (1- p)
d2
n =
Trang 3ngẫu nhiên đơn 8 xã/thị trấn trong tổng số 22
xã/thị trấn
Thu thập số liệu và tiêu chuẩn đánh giá:
Tại thời điểm 26 - 30 tuần, các đối tượng đã
được phỏng vấn thông tin chung và các yếu tố
liên quan khác Bộ câu hỏi được thử nghiệm
trước điều tra Các mẫu máu đã được thu thập
để xác định tình trạng vitamin A và thiếu máu
Tại 1 tuần sau sinh, bà mẹ được thu thập
mẫu sữa Mẫu sữa do cộng tác viên đã được
tập huấn thu thập, theo hướng dẫn và giám
sát của cán bộ Viện Dinh dưỡng và Trung tâm
Y tế dự phòng tỉnh, huyện
Cách lấy mẫu sữa: Sữa mẹ đã được lấy
khoảng 20 ml vào ống Facol từ 1 bên vú mà
trẻ chưa bú ít nhất trong 1,5 - 2 giờ Sau đó,
mẫu sữa đã được tách vào 3 ống nhựa và
được bảo quản trong hộp lạnh vận chuyển tới
huyện để bảo quản ở - 20oC về Viện Dinh
dưỡng (2 tuần/lần) để bảo quản ở nhiệt độ
- 70oC cho đến khi phân tích
Xét nghiệm: Định lượng vitamin A bằng
phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao; vitamin A sữa mẹ thấp < 1,05 µmol/l [12]
Phân tích và xử lý số liệu: Sử dụng phần
mềm Epi Data để nhập liệu và phần mềm SPSS 18.0 để phân tích Test thống kê làχ2
test, t - test và phân tích tương quan tuyến tính đa biến Giá trị p < 0,05 được xem có ý nghĩa thống kê
3 Đạo đức nghiên cứu
Những thông tin cá nhân về đối tượng được giữ kín Các số liệu thu thập được mã hoá và chỉ sử dụng cho mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu đã được chấp thuận bởi Hội đồng đạo đức, Viện Dinh dưỡng trước khi triển khai theo quyết định số 813/QĐ-VDD ngày 16/11/2010
III KẾT QUẢ
Nghiên cứu trên 337 bà mẹ sau sinh; tuổi trung bình của bà mẹ là 27 tuổi, số con hiện
có là 2 con; trung bình tuần thai khi sinh là
39 tuần
Bảng 1 Mô tả đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Giai đoạn mang thai 26 - 30 tuần
Trang 4Hàm lượng vitamin A huyết thanh trung bình của đối tượng nghiên cứu ở giai đoạn khi mang thai 26 - 30 tuần là 1,38 mmol/L và hemoglobin là 114,1 g/l
1 Tình trạng vitamin A trong sữa mẹ sau khi sinh 1 tuần tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Phân tích cho thấy tỷ lệ vitamin A sữa mẹ thấp là 5,6% Hàm lượng vitamin A sữa mẹ trung là 3,91 ± 2,5µmol/L (bảng 2)
Bảng 2 Tình trạng vitamin A trong sữa mẹ sau khi sinh 1 tuần theo nhóm tuổi
Nhóm tuổi của
Vitamin A sữa mẹ thấp Tỷ lệ (%)*
Giá trị trung bình Retinol sữa mẹ** (TBmmol/L ± SD)
*)2
test cho các giá trị tỷ lệ, với p < 0,05 (p = 0,032).
**) ANOVA test ; 1 với p< 0,05 với nhóm ≥ 29 tuổi;
Tỷ lệ vitamin A sữa mẹ thấp của bà mẹ là 5,2% với nhóm tuổi dưới 24; tỷ lệ 9,3% với nhóm tuổi từ 24 - 28 tuổi và 1,1% ở nhóm tuổi từ 29 tuổi trở lên Sự khác biệt tỷ lệ có ý nghĩa thống kê giữa ba nhóm tuổi (χ2
test, p = 0,032) Giá trị trung bình hàm lượng vitamin A trong sữa mẹ ở nhóm bà mẹ dưới 24 tuổi và nhóm từ 24 - 28 tuổi có khác biệt có ý nghĩa với nhóm từ 29 tuổi trở lên (ANOVA- test, p = 0,015 và p = 0,011 tương ứng 2 nhóm tuổi)
2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng vitamin A trong sữa mẹ sau khi sinh 1 tuần Bảng 3 Tình trạng vitamin A trong sữa của bà mẹ và một số yếu tố liên quan
(TB mmol/L ± SD)
Chênh lệch 95% CI
p*
T - test
Theo nhóm tuổi
Thiếu vitamin A
Điều kiện kinh tế
Trang 5Nhóm tuổi n Giá trị TB **
(TB mmol/L ± SD)
Chênh lệch 95% CI
p*
T - test
Điều kiện kinh tế
Cân nặng sơ sinh trẻ
Số con
Giới tính trẻ
C-reactive protein
Phân tích đơn biến, cho thấy có liên quan giữa nhóm tuổi, điều kiện kinh tế, số con đối với hàm lượng Vitamin A trong sữa của bà mẹ sau sinh 1 tuần (T- test; p < 0,05) Những bà mẹ dưới
30 tuổi có hàm lượng vitamin A sữa mẹ (3,7 mmol/L) thấp hơn những bà mẹ trên 30 tuổi (4,6 mmol/L), có ý nghĩa p < 0,01; những bà mẹ thuộc kinh tế nghèo, cận nghèo có hàm lượng vitamin A sữa mẹ (4,5 mmol/L) cao hơn những bà mẹ thuộc kinh tế bình thường (3,8 mmol/L) có
ý nghĩa thống kê với p < 0,05; những phụ nữ có số con từ 3 trở lên thì hàm lượng vitamin A sữa
mẹ (5,0 mmol/L) cao hơn có ý nghĩa những bà mẹ có từ 2 con trở xuống (3,8 mmol/L), với p < 0,05 Có sự khác biệt về hàm lượng vitamin A sữa mẹ theo đáp ứng nhiễm trùng (C-reactive protein - CRP), tuy nhiên sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (T- test, p > 0,05)
Bảng 4 Mô hình hồi qui tuyến tính đa biến dự đoán các yếu tố điều kiện kinh tế, cân nặng
mẹ khi đẻ, số con, tình trạng nhiễm trùng cấp và VAD-TLS mẹ khi mang thai
với hàm lượng vitamin A sữa mẹ sau sinh 1 tuần Các yếu tố trong mô hình (biến độc lập) Beta (hệ số tiêu chuẩn) p
Trang 6Cỡ mẫu phân tích (n): 298; R 2 = 0,058; Constant = 7,5.
Mô hình hồi qui tuyến tính đa biến cho thấy có yếu tố liên quan giữa số con của bà mẹ với hàm lượng vitamin A sữa mẹ sau khi kiểm soát các yếu tố điều kiện kinh tế, tình trạng thiếu vitamin A tiền lâm sàng, cân nặng mẹ khi đẻ, tình trạng nhiễm trùng cấp tính (linear regrestion,
R2= 0,058, p < 0,01)
IV BÀN LUẬN
Hàm lượng vitamin A trung bình sữa mẹ ở
thời điểm sau sinh 1 tuần là 3,91µmol/l ± 2,5 ở
mức cao so với ngưỡng trung bình (nằm
khoảng ≥ 1,75 µmol/l và < 2,45 µmol/l) Đây
chính là thời điểm nồng độ retinol tối đa (xảy
ra ngày 6 - 7 sau đẻ), sau đó giảm dần theo
thời gian sau sinh [13] Với hàm lượng vitamin
A trong sữa bà mẹ, phản ánh tình trạng
vitamin A khá tốt trong quần thể bà mẹ sau
sinh huyện Phú Bình Khuyến nghị hiện nay,
về bổ sung vitamin A ở Việt Nam là thời điểm
trong vòng 1 tháng sau sinh, có bao gồm thời
điểm ngay sau đẻ là thời điểm bà mẹ có phản
ứng viêm cấp tính và 1 tuần sau sinh là thời
điểm hàm lượng vitamin A sữa mẹ cao nhất là
nên cân nhắc [14] Kết quả nghiên cứu này về
hàm lượng vitamin A, tương đương với
nghiên cứu tại Ấn Độ (3,92 µmol/l); cao hơn
(3,31 µmol/l) tại vùng Bắc Brazil ở bà mẹ ngay
sau sinh và các bà mẹ cùng thời điểm 1 tháng
sau sinh tại Brazil là1,93 µmol/l và Phú Thọ là
1,53 µmol/l năm 2015, thấp hơn ở bà mẹ
Tanzania là 4,34 µmol/l [8; 7; 15; 16; 17]
Ở giai đoạn 1 tuần sau sinh, sữa mẹ ở giai
đoạn sữa chuyển tiếp (thuộc 2 tuần đầu sau
sinh) rất nhiều chất dinh dưỡng, chứa chất
béo, vitamin tan trong nước, đường lactose và
hàm lượng calo cao hơn so với sữa non Tỷ lệ
vitamin A sữa mẹ thấp của đối tượng nghiên
cứu tại Phú Bình là 5,6% ở mức nhẹ (tỷ lệ <
10%) có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng theo
phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới Tỷ lệ trên
thấp hơn nghiên cứu ở bà mẹ Malawi năm
2004 (14,8%) và tỷ lệ 24% ở bà mẹ Bangladesh trong 2 tuần đầu sau sinh; thấp hơn tại Phú thọ ở bà mẹ 1 tháng sau sinh (26%) [2; 4; 7] Đồng thời thấp hơn ở bà mẹ miền Bắc, Thái Lan (52%) 3 tháng sau sinh năm 2012 [18] Tình trạng vitamin A trong sữa mẹ phụ thuộc vào thực trạng vitamin A huyết thanh bà
mẹ, can thiệp bổ sung vitamin A, đáp ứng pha cấp tính và thực trạng vitamin A từng vùng địa
lý, chế độ dinh dưỡng của bà mẹ đây cũng là
lý do có sự khác biệt về tình trạng vitamin A sữa mẹ sau sinh 1 tuần trong nghiên cứu tại huyện Phú Bình so với các nghiên cứu khác
đã mô tả trên [8 - 9; 15 - 17] Có khác biệt giữa hàm lượng vitamin A sữa mẹ ở nhóm tuổi dưới 24 và tuổi từ 24 - 28 tuổi thấp hơn
có ý nghĩa thống kê so với nhóm bà mẹ nhóm tuổi từ 29 tuổi trở lên Tỷ lệ vitamin A sữa mẹ thấp ở 3 nhóm tuổi (dưới 24, từ 24 - 28 tuổi và trên 29 tuổi), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
ở 3 nhóm
Chúng tôi chưa tìm thấy mối liên quan giữa yếu tố dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, việc ăn uống bồi dưỡng, tình trạng vitamin A
và thiếu máu, cân nặng mẹ khi mang thai với tình trạng vitamin A sữa mẹ thấp ở thời kỳ sau sinh 1 tuần Kết quả cho thấy, có liên quan giữa nhóm tuổi, điều kiện kinh tế, số con đối với hàm lượng vitamin A trong sữa của bà mẹ sau sinh 1 tuần Đồng thời, phản ứng viêm cũng đóng vai trò nhất định trong ảnh hưởng đến tình trạng vitamin A sữa mẹ, mặc dù chưa
Trang 7có ý nghĩa thống kê Phân tích hồi qui tuyến
tính đa biến dự đoán các yếu tố điều kiện kinh
tế, số con, cân nặng mẹ khi sinh, tình trạng
nhiễm trùng cấp và thiếu vitamin A tiền lâm
sàng khi mang thai với hàm lượng vitamin A
sữa mẹ sau sinh 1 tuần cho thấy có yếu tố liên
quan giữa số con đối với hàm lượng Vitamin
A trong sữa của bà mẹ sau sinh 1 tuần
Những bà mẹ có nhiều con, kiến thức tốt hơn
trong thực hành nuôi con bằng sữa mẹ (bú
sớm, bú sữa non, chế độ ăn uống) Đồng thời,
việc tiết sữa bà mẹ kèm các chất dinh dưỡng
phụ thuộc vào quá trình mẹ sản sinh ra sữa
(phản xạ prolactin), tiết sữa và đưa sữa ra
ngoài (phản xạ oxytocin) Kích thích bài tiết
prolactin được hình thành từ tuyến yên ở não
bà mẹ, với những bà mẹ có nhiều con, phản
xạ kích thích đã thường xuyên, sẽ dễ dàng
hơn tạo phản xạ này Điều đó, giải thích về
việc số con liên quan đến hàm lượng vitamin
A sữa mẹ cao hơn
V KẾT LUẬN
Tỷ lệ vitamin A sữa mẹ thấp ở bà mẹ sau
sinh 1 tuần là 5,6% ở ngưỡng nhẹ có ý nghĩa
sức khỏe cộng đồng Giá trị trung bình vitamin
A sữa mẹ là 3,91 mmol/L Có sự khác biệt về
tỷ lệ vitamin A sữa mẹ thấp và hàm lượng
vitamin A trong sữa mẹ sau sinh 1 tuần, theo
nhóm tuổi
Nồng độ vitamin A trong sữa mẹ sau sinh 1
tuần có tương quan tuyến tính đến số con của
bà mẹ Những bà mẹ có từ 3 con trở lên có
hàm lượng vitamin A sữa mẹ cao hơn những
bà mẹ có từ 2 con trở xuống
Lời cảm ơn
Nghiên cứu đã sử dụng kinh phí nghiên
cứu khoa học cấp cơ sở của Viện Dinh dưỡng
năm 2011 - 2012, trong khuôn khổ hợp tác với Viện Nghiên cứu và Phát triển Pháp (IRD -Institut de recherche pour le développement) Chúng tôi cam kết không xung đột lợi ích từ kết quả nghiên cứu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Penniston KL, Valentine AR, Tanumi-hardjo SA (2003) A theoretical increased in
infants hepatic vitamin A is realized using a
supplemented lactating sow model The
Jour-nal of Nutrition, 133, 1139 – 1142.
2 Rice AM, Stoltzfus RJ, Francisco AD and et (2000) Evaluation of serum retinol, the
breast-milk vitamin A as indicators of response
to postpartum maternal vitamin A
supplemen-tation Am J Clin Nutr, (71),799 – 806.
3 Ettyang GA, Lichtenbelt WD, Oloo A, Saris WH (2003) Serum retinol, iron status and
body composition of lactating women in Nandi,
Kenya Ann Nutr Metab, 47(6), 276 – 283.
4 Dancheck B, Nussenblatt V, Ricks MO
et al (2005) Breast Milk Retinol
Concentra-tions Are Not Associated with Systemic Inflam-mation among Breast - Feeding Women in
Malawia The Journal of Nutrition, 135, 223 –
226
Nguyễn Xuân Ninh, Nguyễn Công Khẩn (2007), Khuynh hướng thay đổi bệnh thiếu
vitamin A, thiếu máu dinh dưỡng ở Việt Nam trong những năm gần đây, một số khuyến nghị mới về biện pháp phòng chống Tình hình Dinh dưỡng và chiến lược can thiệp ở
Việt Nam Nhà xuất bản Y học, 39 – 48.
6 Viện Dinh Dưỡng (2015) Đánh giá tình
trạng thiếu máu, thiếu một số vi chất dinh
dưỡng ở phụ nữ và trẻ em năm 2014 Hội
nghị Công bố kết quả Tổng điều tra vi chất dinh dưỡng.
Trang 87 Nguyễn Thị Diệp Anh, Từ Ngữ, Janet
King và cộng sự (2015) Tình trạng vitamin A
trong sữa của bà mẹ sau sinh một tháng tại
huyện Cẩm Khê, Phú Thọ Tạp chí Y học Việt
Nam, 433, 139 – 144.
8 Idindili B, Masanja H, Urassa H,
Wilbert B et al (2007) Randomized controlled
safety and efficacy trial of 2 vitamin A
supple-mentation schedules in Tanzanian infants Am
J Clin Nutr, 85, 1312 - 1319.
9 Oliveira JM, East CE (2016) Vitamin A
Cochrane Database Syst Rev
10 WHO, UNICEF, IVACG (1997) Task
Force, Vitamin A supplements A guide to their
use in the treatment and prevention of vitamin
A deficiency and xerophthalmia.
11 WHO (2011) Guideline: Vitamin A
sup-plementation in postpartum women World
Health Organization
12 WHO (1996) Indicators for assessing
vitamin A deficiency and their application in
monitoring and evaluating intervention
pro-grammes
13 Chappell JE, Francis T, Clandinin MT
(1985) Vitamin A and E content of human milk
at early stages of lactation Early Hum Dev, 11
(2), 157 - 167.
14 Wieringa FT, West CE, Northrop-Clewes CA, Muhilal (2002) Estimation of the
effect of the acute phase response on indica-tors of micronutrient status in Indonesian
in-fants Journal of Nutrition 132, 3061 – 3066.
15 Basu S, Sengupta B, Paladhi PKR (2003) Single megadose vitamin A
supple-mentation of Indian mothers and morbidity in
breastfed young infants Postgrad Med J, 79,
397 - 402
16 Bezerra DS, Araújo KF, Azevêdo GM, Dimenstein R (2009) Maternal
supplementa-tion with retinyl palmitate during immediate postpartum period: potential consumption by
infant Rev Saude Publica, 43(4), 572 - 579.
17 MartinsTM., Verraz IS, Daneluzzi JC and et (2010) Impact of maternal vitamin A
supplementation on the mother–infant pair in
Brazil European Journal of Clinical Nutrition,
64, 1302 - 1307.
18 StuetzW, Carrara VI, McGready R and et (2012) Micronutrient status in lactating
mothers before and after introduction of forti-fied flour: cross-sectional surveys in Maela
refugee camp European Journal of Clinical
Nutrition, (51), 425 - 434.
Summary BREAST MILK RETINOL STATUS OF ONE WEEK POSTPARTUM MOTHER AND RELATED FACTORS AT PHU BINH DISTRICT,
THAI NGUYEN
Breast milk retinol status of mothers in breastfeeding is an important indicator, especially sensitive, reflecting the vitamin A status of mothers and infants are breastfed Research con-ducted on 337 mothers after delivery, in order to determine retinol in breast milk status and some factors of mother at 1 week after birth in 8 communes in Phu Binh, Thai Nguyen province from
2011 to 2012 The results showed that low vitamin A prevalence was 5.6% at a moderate level of significance concern for the community health The mean value of vitamin A content of breast milk
Trang 9was 3.91 μmol/L There was a difference in the incidence of low vitamin A in breast milk (3.7 μmol/L in women under 30 and 4.6 μmol/L in mothers ≥ 30 years) of one week after birth, by the group of age (p < 0.05) Vitamin A levels in mother's milk at 1 week after birth were linearly corre-lated with the number of children bearing mothers Mothers has 3 or more children had higher levels of vitamin A than those mothers who has less than 2 children (p < 0.05)
Keywords: breast milk retinol, vitamin A deficiency, related factors, mother postpartum