Nghiên cứu tiến hành điều tra tình hình nhiễm gnathostoma sp. trên lươn được bày bán tại chợ nội thành TP.HCM nhằm cảnh báo nguy cơ lây nhiễm mầm bệnh này từ môi trường. Đồng thời nghiên cứu vơi mục tiêu khảo sát tỷ lệ và mật độ nhiễm gnathostoma sp. trên gan lươn được thu thập tại chợ nội thành TP.HCM trong 1 năm, đồng thời khảo sát sự phân bố mầm bệnh theo tháng và theo mùa trong 1 năm.
Trang 1TRÊN GAN LƯƠN (Monopterus albus) TẠI CHỢ N. QUẬN 10, TP.HCM
TỪ THÁNG 3/2010‐ 2/2011
Trần Thị Hồng*, Lê Đức Vinh*, Trần Trinh Vương*
TÓM TẮT
Mở đầu: Bệnh do Gnathostoma sp là một bệnh động vật ký sinh, lây nhiễm vào người qua đường thực
phẩm do ăn các loài thuỷ sản sống hoặc tái như ếch nhái, cá lóc, lươn, rắn bị nhiễm ấu trùng giai đoạn 3 của KST này Trong cơ thể người ấu trùng có thể di chuyển và gây tác hại tại nhiều cơ quan khác nhau, đôi khi có thể đưa đến tử vong Do số bệnh ngày càng nhiều, chúng tôi tiến hành điều tra tình hình nhiễm Gnathostoma sp trên lươn được bày bán tại chợ nội thành Tp.HCM nhằm cảnh báo nguy cơ lây nhiễm mầm bệnh này từ môi trường
Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát tỷ lệ và mật độ nhiễm Gnathostoma sp trên gan lươn được thu thập tại chợ
nội thành tp.HCM trong 1 năm, đồng thời khảo sát sự phân bố mầm bệnh theo tháng và theo mùa trong 1 năm
Phương pháp tiến hành: tiến hành phương pháp mô tả, thu thập mẫu nội tạng lươn từ chợ trong 1 năm,
Mẫu sẽ được phẫu tích tìm ấu trùng lây nhiễm giai đoạn 3 (AT3) của Gnathostoma sp trong gan Khảo sát tỷ lệ lươn nhiễm mầm bệnh và mật độ ấu trùng trung bình trên mỗi cá thể lươn Phân tích sự phân bố theo tháng và
2 mùa trong năm
Kết quả: Khảo sát 6067 mẫu gan lươn thu được tháng 3/2010 đến tháng 2/2011, tại chợ N Q.10, tp.HCM:
Tỷ lệ nhiễm AT3 của Gnathostoma sp là 3,25% thấp hơn so với Thái Lan Tỷ lệ này tăng cao giữa mùa mưa và đầu mùa khô Mật độ nhiễm trung bình là 11,05 ± 2,69, mật độ nhiễm cao nhất vào tháng 11 và thấp nhất vào tháng 4,5
Kết luận: Từ kết quả trên chúng tôi nhận thấy nguy cơ nhiễm mầm bệnh Gnathostoma sp từ lươn là đáng
kể do tỷ lệ nhiễm khá cao Người dân nên ăn chín các thức ăn được chế biến từ thuỷ sản, đặc biệt là giữa mùa mưa và tháng 11 hàng năm
Từ khóa: Gnathostoma sp., lươn tại chợ
ABSTRACT
THE PREVALENCE OF GNATHOSTOMA INFECTIVE STAGE LARVAE IN SWARMP EELS (Monopterus albus) AT A MARKET, DISTRICT 10 HO CHI MINH CITY FROM MARCH/2010
TO FEBRUARY /2011
Tran Thi Hong, Le Duc Vinh, Tran Trinh Vuong
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 121 ‐ 126
Background: Human gnathostomiasis is an important food‐borne parasitic zoonosis, caused mainly by
eating raw meat of fish especially frogs, snakehead, swamp eels, snakes, … Getting into the human body, the advanced third stage larvae can migrate and harm to many different organs, or even lead to death Due to increasing case frequency, we conducted a survey of Gnathostoma sp infection in swamp eels sold in a market to alert the risk of getting pathogen from the environment
Objectives: Identify the prevalence and density of infections Gnathostoma sp in swamp eels livers that
were collected at a local market in HCM city during a whole year, and survey variation of the distribution of this
* Bộ môn Kí Sinh ‐ Vi nấm học Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch.
Trang 2pathogen according to month and season in this whole year
Methods: a descriptive study, consists of collecting samples of visceral organ of swamp eels from a market
for a whole year The samples were dissected to find the advanced third stage larvae (AT3) in the liver To survey the prevalence and the average density of AT3 To analysis their distribution by month and by season during the whole year
Results: a total of 6067 livers from swamp eels were collected at a market of District 10, HCMC, from
3/2010 to 2/2011,: the AT3 Gnathostoma prevalence is 3.25%, lower than in Thailand The frequencies reached two peaks at the middle the rainy season and at the beginning of dry season Average density of infection was 11.05 ± 2.69, the highest density of infection on november and lowest on April and May
Conclusion: From our study, we realized that the risk of contaminated Gnathostoma sp from eel is
significant by its high prevalence People should eat well‐cooked aquatic food, especially during the rainy season and on november
Keywords: Gnathostoma sp., swamp eel
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh do Gnathostoma sp. là một bệnh động
vật ký sinh, lây nhiễm vào người qua đường
thực phẩm. Trong cơ thể người ấu trùng không
phát triển đến giai đoạn trưởng thành mà chỉ ở
dạng ấu trùng. Ấu trùng không khu trú mà có
thể di chuyển từ đường tiêu hoá qua các cơ quan
nội tạng hoặc ra da. Đa số các trường hợp bệnh
thường nhẹ, nhưng khi ấu trùng di chuyển vào
các cơ quan trọng yếu của cơ thể như não, tuỷ
sống,… thì bệnh cảnh sẽ nghiêm trọng và có thể
đưa đến tử vong(2,3,4,6,13,14,11).
Trên thế giới, bệnh do Gnathostoma sp. được
báo cáo nhiều ở khu vực Đông nam Á, trong đó
có Việt Nam. Trường hợp bệnh đầu tiên tại nước
ta được phát hiện năm 1963, và từ năm 1999 trở
lại đây bệnh được phát hiện ngày nhiều hơn
nhờ vào sự phát triển của kỹ thuật chẩn đoán
miễn dịch học(1,13,14,11).
Nguyên do chính để nhiễm Gnathostoma sp.
vào người là do ăn các loài thuỷ sản sống hoặc
tái như lươn, rắn, ếch nhái, cá lóc, cá trê, … hoặc
ốc. Theo thống kê tại Viện sốt rét Ký sinh trùng
Quy Nhơn, số lượng ca bệnh hàng năm không
giảm mà ngày càng có xu hướng gia tăng. Có
phải chăng là do chưa kiểm soát được mầm
bệnh trong tự nhiên mà cụ thể là từ các loại thuỷ
sản?(1,13,14)
Thái Lan đã có nhiều nghiên cứu về tình
hình nhiễm Gnathostoma sp. trên lươn nuôi và
lươn hoang dã từ trước năm 2000 đến nay để đánh giá tình hình ô nhiễm mầm bệnh trong tự nhiên. Tại Việt nam, chưa có nhiều nghiên cứu
về tình trạng này, đặc biệt là tại các quận nội thành TP.HCM(109155).
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn nhất của nước ta. Đặc biệt, những quận nội thành mật
độ dân số cao, dân cư tập trung nhiều vì thế nhu cầu thức ăn từ thuỷ sản rất lớn, vấn đề an toàn thực phẩm càng được đặc biệt chú trọng hơn. Vì
lẽ đó, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu tại 1 chợ thuộc nội thành Tp.HCM tìm hiểu tỷ lệ ô nhiễm và sự phân bố mầm bệnh này trong năm.
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định tỷ lệ và mật độ nhiễm Gnathostoma
sp. trên gan lươn được thu thập tại chơ N. Quận
10, tp. HCM từ tháng 3/2010 đến tháng 2/2011
Khảo sát sự phân bố nhiễm Gnathostoma sp.
theo tháng và theo mùa trong năm PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu
Mô tả
Địa điểm nghiên cứu
Chợ N. quận 10.Tp.HCM và Bộ môn ký sinh – Vi nấm Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch
Đối tượng nghiên cứu
Lươn đựơc bán tại chợ nội thành.Tp.HCM
Trang 3Lươn đựơc bán tại chợ N. quận 10,Tp.HCM
Cỡ mẫu
Chọn tất cả mẫu gan lươn được bán trong
năm tại địa điểm đã chọn nhằm đáp ứng mục
tiêu 2
Phương pháp chọn và thu thập mẫu
Cách chọn: Bốc thăm ngẫu nhiên 1 quận
trong danh sách 18 quận nội thành, được Q.10
Tại quận 10, tiến hành chọn mẫu thuận tiện
‐ Bốc thăm chọn lựa ngẫu nhiên 1 trong 3
chợ lớn của Q.10 là Chợ N.
‐ Tại chợ N., có tổng thể 3 gian hàng thuỷ hải
sản có bán lươn, trong đó có 2 gian hàng nhỏ
hơn không thường xuyên có lươn, nên chọn
gian hàng lớn nhất đảm bảo được mẫu mỗi
ngày.
‐ Tại quầy, thu thập nội tạng lươn sau buổi
chợ chiều.
Tại bộ môn Ký Sinh – vi nấm học
Nội tạng lươn được rửa sạch và bóc tách
phần gan.
Phần gan lươn sẽ được phẫu tích tìm mầm
bệnh bằng kim mũi mác dưới kính hiển vi soi
nổi Olympus (SZ51).
Mầm bệnh thu được dưới dạng nang hoặc
ấu trùng tự do. Chẩn đoán xác định bằng cách
bóc tách nang để quan sát cấu trúc gai đặc biệt
của ấu trùng.
Thu thập và đếm số lượng ấu trùng trong
mỗi gan lươn.
Xử lý số liệu
Bằng phần mềm SPSS 16.0 for Windows
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Mẫu nghiên cứu
Tổng số mẫu gan lươn thu được: 6067 mẫu
Bảng 1: Tỷ lệ ngày thu được mẫu
Tháng Số Số ngày Tỷ lệ thu Số mẫu Tỷ lệ mẫu
ngày/th áng
thu được mẫu
(%) gan
lươn
thu được (%)
3/2010 31 31 100 623 10,27 4/2010 30 29 96,67 702 11,57 5/2010 31 30 96,77 473 7,80 6/2010 30 30 100 552 9,10 7/2010 31 31 100 504 8,31 8/2010 31 31 100 432 7,12 9/2010 30 30 100 458 7,55 10/2010 31 31 100 444 7,32 11/2010 30 30 100 462 7,61 12/2010 31 31 100 500 8,24 1/2011 31 28 90,32 535 8,82 2/2011 28 23 82,14 382 6,30 Năm 365 355 97,26 6067 100
Tỷ lệ ngày thu được mẫu gan lươn trong năm: 97,26%
Tỷ lệ nhiễm Gnathostoma sp.
0.64 0.00 1.27 3.99
5.95
4.86
1.31 2.70
6.93
3.80
5.42
4.19
3.25
0.00 1.00 2.00 3.00 4.00 5.00 6.00 7.00
%
Tháng
Biểu đồ 1: Tỷ lệ nhiễm Gnathostoma sp trên lươn
theo tháng trong năm
3.25
3.39
3.12
2.95 3.00 3.05 3.10 3.15 3.20 3.25 3.30 3.35 3.40
%
Mùa
Biểu đồ 2: Tỷ lệ nhiễm Gnathostoma sp trên lươn
theo mùa trong năm
Mật độ nhiễm Gnathostoma sp.
Mật độ nhiễm trung bình của năm: 11,05 ± 2,69 (SE)
Trang 4Bảng 2: Phân bố mật độ ấu trùng theo tháng trong
năm
Tháng Mẫu + trùng Ấu Mật độ TB Min Max Trung vị
3/10 4 16 4,00 1 8 3.5
4/10 0 0 0,00 0 0 0
5/10 6 12 2,00 1 6 1
6/10 22 160 7,27 1 39 4
7/10 30 339 11,30 1 156 2
8/10 21 157 7,48 1 34 4
9/10 6 57 9,50 1 41 2,5
10/10 12 192 16,00 1 88 2,5
11/10 32 762 23,81 1 482 9
12/10 19 96 5,05 1 62 2
1/11 29 279 9,62 1 110 3
2/11 16 107 6,69 1 22 4
Bảng 3: Phân bố mật độ ấu trùng theo mùa trong
năm
Mùa Mẫu + Ấu trùng Mật độ TB Min Max Trung vị
Mùa
mưa 97 917 9,45 1 156
3
Mùa
khô 100 1260 12,6 1 482
3
Tổng 197 2177 11,05 1 482 3
BÀN LUẬN
Mẫu nghiên cứu
Tỷ lệ ngày thu được mẫu trong năm đạt
97,26% với tổng số mẫu gan lươn thu được là
6067, cao hơn so với các nghiên cứu trước đây
của Trần Phủ Mạnh Siêu (T.P.M. Siêu) năm 2009
là 2041 mẫu và Saksirisampant W. tại Thái lan
năm 2002 là 2738 mẫu(10,15).
Số lượng mẫu thu được phân phối tương đối
đều vào các tháng trong năm từ 6,3 – 11,57%,
cao nhất là các tháng 3 và 4 (Bảng 1)
Ngoài ra, một số rất ít mẫu không thu được
do người mua lươn mang về tự làm và mổ. Việc
tự làm và mổ lươn gặp nhiều ở các chợ nông
thôn hoặc ngoại thành mà hiếm khi gặp ở điều
kiện riêng biệt của nội thành. Vì lẽ đó không ảnh
hưởng nhiều đến cỡ mẫu của nghiên cứu.
Tỷ lệ và mật độ nhiễm Gnathostoma sp.
Tỷ lệ nhiễm Gnathostoma sp. tại chợ N. quận
10 Tp.HCM trong nghiên cứu này là 3,25%, tỷ lệ
này thấp hơn so với tỷ lệ 11% trong nghiên cứu
của tác giả Lê Thị Xuân (L.T.X) năm 2000 tại 1 chợ ở Tp.HCM. Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả thấp hơn có thể do tác giả L.T.X chỉ thu mẫu 2 lần trong một tháng trong khi chúng tôi thu mẫu xuyên suốt các ngày trong tháng và chợ địa phương của tác giả này không được đề cập(5). Bên cạnh đó, tỷ lệ nhiễm Gnathostoma sp.
trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn rất nhiều so với nghiên cứu của Saksirisampant W.
từ 10,2% ‐ 18,2% trong năm 2008 – 2009 tại Thái Lan hoặc 19,1% trong năm 1999 – 2000 của chính tác giả này. Một nghiên cứu khác của tác giả Rojekittikhun W tại huyện Nakhon Nayok của Thái Lan năm 2001 có tỷ lệ nhiễm là 30,1%. Điều
này cho thấy tỷ lệ nhiễm Gnathostoma sp. ở lươn
tại Việt Nam thấp hơn nhiều so với Thái Lan(7,8,15).
Cũng tại Việt Nam, năm 2006 tác giả T.P.M.
Siêu tìm thấy tỷ lệ nhiễm Gnathostoma sp. 12,2%
và 0% trong cùng 1 nghiên cứu giữa 2 nhóm lươn hoang dã và lươn nuôi. Tỷ lệ nhiễm cao hơn so với chúng tôi bởi tác giả tập trung vào nhóm nhỏ 230 mẫu lươn hoang dã tại chợ ngoại
ô, trong khi tỷ lệ nhiễm là 0% cũng rơi vào nhóm
1081 lươn hoang dã được bán ở chợ trước đó. Điều này gợi cho nghiên cứu của chúng tôi việc phân nhóm lươn hoang dã và lươn nuôi. Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi tiến hành tại một quận nội thành, nguồn lươn đưa về bày bán
là do đầu mối thu gom từ các tỉnh thành khác nhau, việc phân rõ nguồn gốc lươn gặp rất nhiều khó khăn. Dù vậy, tỷ lệ nhiễm cao hiện nay là một tình trạng báo động góp phần lý giải tại sao số trường hợp bệnh không ngừng gia tăng trong những năm gần đây(10).
Kết quả cho thấy mật độ nhiễm Gnathostoma
sp. ở lươn trung bình trong nghiên cứu này là 11,05 cao hơn nhiều so với nghiên cứu của L.T.X cũng tại TP.HCM là 2,9. Mật độ nhiễm trung bình trong các nghiên cứu tại Thái Lan là 10 (Rojekittikhun W 2001), 1,65 (Sugaron S. 2002)
và 6,3 (Saksirisampant W. 2008 – 2009). Như
vậy, dù tỷ lệ nhiễm Gnathostoma sp. ở lươn tại
Việt Nam thấp hơn so với Thái Lan nhưng mật
Trang 5độ nhiễm trung bình lại cao hơn trong những
năm gần đây. Đặc biệt, trong nghiên cứu của
chúng tôi có cá thể lươn nhiễm tới 482 ấu trùng,
thấp hơn giá trị cao nhất trong nghiên cứu của
Rojekittikhun W (2001) là 698. Điều này cho thấy
tình hình nhiễm mầm bệnh ở lươn tại Việt Nam
không chỉ báo động về tỷ lệ mà còn ở mật độ
nhiễm. Và để giải thích cho việc khác biệt về tỷ
lệ nhiễm, mật độ nhiễm giữa Việt Nam và Thái
Lan, cần có những nghiên cứu lớn và bao quát
hơn không chỉ tại Tp.HCM mà còn ở các vùng
lân cận đặc biệt ngoại ô, nơi sử dụng nhiều lươn
hoang dã(1,8,9,15).
Sự phân bố nhiễm Gnathostoma sp. theo
tháng và mùa trong năm
Biểu đồ 1 cho thấy tỷ lệ nhiễm Gnathostoma
sp. cao nhất vào tháng 11(6,93%) và tháng 7
(5,95%), thấp nhất là tháng 4 (0%). Nếu tính theo
2 mùa trong năm mùa mưa từ tháng 5 đến
tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 thì
tỷ lệ nhiễm lần lượt là 3,39% và 3,12% (biểu đồ
2). Trong mùa mưa, các tháng giữa mùa (6,7,8)
có tỷ lệ nhiễm cao hơn so với các tháng còn lại.
Còn trong mùa khô, tháng đầu mùa (11) có tỷ lệ
nhiễm cao. Như vậy, tại tp.HCM tỷ lệ nhiễm
Gnathostoma sp. cao vào giữa mùa mưa và đầu
mùa khô. Điều này không hoàn toàn phù hợp
với nghiên cứu của T.P.M Siêu, tác giả Siêu cho
rằng tỷ lệ nhiễm tăng vào cuối mùa mưa, nhưng
kết quả của chúng tôi lại phù hợp với nghiên
cứu của tác giả L.T.X (2000) là tỷ lệ nhiễm tăng
cao dần từ tháng 8 đến tháng 11 và giảm ở các
tháng 2 – 5. Nguyên do có thể lý giải là do tác
giả L.T.X có cách thức thu thập mẫu tương tự
trong khi T.P.M.Siêu thu thập mẫu ở 2 chợ khác
biệt(5).
Sugaroon S nghiên cứu tại 1 chợ ở thủ đô
Bangkok, Thái Lan cũng cho kết quả tỷ lệ nhiễm
thấp vào tháng 4,5; tăng cao vào tháng 7.
Saksirisampant W trong 2 nghiên cứu năm 1999
‐ 2002 và 2008 – 2009 cũng ghi nhận tỷ lệ nhiễm
tăng cao nhất vào tháng 11 giống nghiên cứu
của chúng tôi. Như vậy, tỷ lệ nhiễm Gnathostoma
sp. trên lươn phân bố theo các tháng trong năm
giữa Việt Nam và Thái Lan có điểm tương đồng, nhưng cách thức phân mùa tại Thái Lan là có 3 mùa trong 1 năm khác với Tp.HCM của Việt Nam chỉ có 2 mùa(8,9,15).
Bảng 2, ghi nhận mật độ nhiễm trung bình cao nhất ở tháng 11 (23,81 AT/lươn) và thấp nhất là các tháng 4 và 5 (0 và 2 AT/lươn). Theo tác giả L.T.X nghiên cứu tại chợ của Tp.HCM ghi nhận mật độ trung bình thấp vào tháng 3 và tháng 4 sau đó tăng dần từ tháng 6, điều này phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi nhưng đỉnh mật độ trung bình cao nhất rơi vào tháng 1
là điều khác biệt(5).
Và xét theo mùa trong năm, Bảng 3 cho thấy đỉnh mật độ nhiễm trung bình của mùa khô cao hơn mùa mưa, nhưng không có sự khác biệt về trung vị.
Đỉnh mật độ trung bình cao nhất của chúng tôi phù hợp hoàn toàn với Saksirisampant W
2008 – 2009 dù tác giả này nghiên cứu trên 2 chợ khác biệt với 2 nhóm lươn nuôi và lươn hoang
dã nhưng vẫn cho mất độ trung bình cao nhất 0,36 và 3,21 AT/lươn(15).
KẾT LUẬN
Qua khảo sát 6067 mẫu gan lươn thu được tháng 3/2010 đến tháng 2/2011, chúng tôi thu được kết quả sau:
Tỷ lệ nhiễm tại chợ N. Q.10, tp.HCM là 3,25% thấp hơn so với Thái Lan. Tỷ lệ này tăng cao giữa mùa mưa và đầu mùa khô.
Mật độ nhiễm trung bình là 11,05 ± 2,69, mật
độ nhiễm cao nhất vào tháng 11 và thấp nhất vào tháng 4 và tháng 5.
KIẾN NGHỊ
Cần chú trọng tình hình nhiễm Gnathostoma
sp. trên lươn và các thuỷ sản tại các chợ trên địa bàn thành phố và trên cả nước. Đặc biệt lưu ý vào giữa mùa mưa và tháng 11 hàng năm. Tăng cường thông tin, khuyến cáo người dân không sử dụng món ăn tái hoặc chế biến chưa chín từ thuỷ sản.
Trang 6sản và ký chủ khác của Gnathostoma sp nhằm
kiểm soát nguồn bệnh đang tồn tại trong môi
trường.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
ampullacea and Pomacea canaliculata, as new paratenic hosts
of Gnathostoma spinigerum. Southeast Asian J Trop Med Public
Health. 2009 Mar;40(2):243‐6
chẩn đoán bệnh Gnathostoma spinigerum. Tạp chíY học TP Hồ
Chí Minh, 2002,tr 56 ‐ 60.
(2003). Bệnh nhiễm Gnathostoma ở người tại TP. Hồ Chí
Minh.Tạp chí Y học thực hành, số 477, tr 117‐119.
hợp nhiễm của Gnathostoma spinigerum ngoài da tại TP. Hồ
Chí Minh. Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 2001,tr 103‐105.
larvae of Gnathostma in eels sold in Hồ Chí Minh. Southeast
Asian J Tro Med Public Health 2000, p 133‐137.
Nhân 4 trường hợp viêm não tủy do giun Gnathostoma sp. Tạp
chí Y học TP Hồ Chí Minh, tr 106 ‐110.
C. (2004): Gnathostoma infection in fish caught for local
consumption in Nakhon Nayok Province, Thailand I.
Prevalence and fish species. Southeast Asian J Trop Med Public
Health 2004 Sep;35(3):523‐30
Kraivichian K, Suwansaksri J. (2002): Prevalence and intensity
of third stage Gnathostoma spinigerum larvae in swamp eels
sold in three large markets in Bangkok, Thailand. Southeast
Asian J Trop Med Public Health 2002;33 Suppl 3:60‐2
stage larvae in swamp eels (Fluta alba) at a metropolitan
Winter;33(1):94‐6.
Quỳnh Nga, Dalsgaard A, Waikagul J, Murrell KD (2009): Prevalence of Gnathostoma spinigerum infection in wild
and cultured swamp eels in Vietnam. J Parasitol
2009Feb;95(1):246‐8
Y học, TP. Hồ Chí Minh.
thanh miễn dịch men trong chẩn đoán bệnh nhiễm
Gnathostoma spinigerum, Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y
dược TP Hồ Chí Minh, 2004
mới nổi‐Cập nhật y văn và tổng hợp thông tin về 12 bệnh nhân giun đầu gai. http://www.impe‐qn.org.vn
dịch tễ học lâm sàng bệnh ấu trùng giun đầu gai Gnathostoma spinigerum tại một số tỉnh miền Trung‐Tây Nguyên . http://www.impe‐qn.org.vn
Positivity and Intensity of Gnathostoma spinigerum Infective
Larvae in Farmed and Wild‐Caught Swamp Eels in Thailand.
Korean J Parasitol 2012; 50(2): 113–118