1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tỷ lệ mang HBsAg và một số yếu tố nguy cơ mang HBsAg của các thành viên trong hộ gia đình: Nghiên cứu cộng đồng tại một xã miền trung (xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An)

9 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 320,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu này được thực hiện nhằm những mục tiêu nghiên cứu sau: (1) xác định tỷ lệ mang HBsAg ở các thành viên của các hộ gia đình tại một cộng đồng nông thôn đồng bằng miền Trung, (2) tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng mang HBsAg của quần thể này.

Trang 1

TỶ LỆ MANG HBsAg VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ MANG HBsAg

CỦA CÁC THÀNH VIÊN TRONG HỘ GIA ĐÌNH:

NGHIÊN CỨU CỘNG ĐỒNG TẠI MỘT XÃ MIỀN TRUNG

(XÃ QUỲNH ĐÔI, HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN)

Nguyễn Văn Bàng*, Nguyễn Thị Vân Anh**

TÓM TẮT

Nhiễm virus viêm gan B (HBV) là vấn đề lớn của y tế công cộng, vì HBV là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây xơ gan và ung thư gan

Mục tiêu (1) Xác định tỷ lệ mang HBsAg ở các thành viên của các hộ gia đình tại một cộng đồng nông thôn

đồng bằng miền Trung, (2) tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng mang HBsAg của quần thể này

Đối tượng, phương pháp Nghiên cứu cắt ngang tại cộng đồng trên 1047 đối tượng là thành viên của 305

hộ gia đình được chọn ngẫu nhiên từ 1220 hộ với 5200 thành viên ở xã Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu, Nghệ An) Xác định HBsAg bằng kỹ thuật ELISA Đánh giá mối liên quan về tình trạng mang HBsAg giữa các thành viên trong gia đình bằng test λ 2 , đánh giá nguy cơ mang HBsAg bằng phân tích đơn và đa biến logistic regression

Kết quả Có 8,9% (93/1047) số đối tượng mang HBsAg Số người HBsAg(+) tập trung trong 63 hộ gia

đình gồm 275 thành viên Nam giới có tỷ lệ HBsAg(+) là 12,2% (56/460), cao hơn rõ rệt so với tỷ lệ 6,3% (37/587) ở nữ giới (p<0,001); nguy cơ mang HBsAg ở nữ giới giảm hơn 2 lần so với nam giới (OR (95%CI.): 0,53 (0,29-0,95)) Trẻ em ≤10 tuổi có tỷ lệ HBsAg(+) là 3,4% (5/146), thấp hơn rõ rệt so với tỷ lệ 9,8% (88/901) ở những người lứa tuổi cao hơn (p<0,005); nguy cơ mang HBsAg ở trẻ ≤10 tuổi giảm 4,3 lần so với nhóm >10 tuổi (OR (95% CI): 0,23 (0,09-0,63)) Những trẻ từ con thứ 3 trở lên có tỷ lệ HBsAg(+) cao hơn các anh chị, kể cả trong quần thể lẫn trong nhóm 275 thành viên của 63 gia đình có người HBsAg(+) Những đối tượng có tiền sử vàng da cấp có tỷ lệ HBsAg(+) thấp hơn những đối tượng khác trong quần thể (p<0,001), ít nguy cơ mang HBsAg hơn hẳn nhóm không có tiền sử vàng da (OR(95%CI): 0,33 (0,16-0,66)) Trong nhóm 275 đối tượng thuộc 63 hộ gia đình có người HBsAg(+), tỷ lệ HBsAg(+) ở nhóm có tiền sử tiêm truyền là 37,7% (83/220), cao hơn tỷ lệ 18,2% (10/55) ở nhóm chưa từng tiêm truyền bao giờ (p<0,006); nhóm có tiền sử tiêm truyền có nguy

cơ HBsAg(+) cao gấp gần 3 lần (OR (CI95%): 2,73 (1,30-5,70)) Không thấy có mối liên quan giữa tình trạng HBsAg của bố hoặc mẹ với tình trạng mang HBsAg của các con họ trong nghiên cứu này

Kết luận Tỷ lệ mang HBsAg ở quần thể nghiên cứu này phù hợp với đặc điểm vùng dịch tễ cao của nước

ta Cần nghiên cứu sâu thêm để làm rõ hơn vai trò lây truyền từ mẹ sang con, tác động của tiêm chủng và hậu quả tiêm truyền đối với sự thay đổi tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B tại cộng đồng

Từ khoá: HBsAg, tiêm phòng viêm gan B, thành viên hộ gia đình, tiêm truyền, vàng da

ABSTRACT

HBsAg RATE AND RISK FACTOR FOR HBsAg CARRIAGE IN HOUSEHOLD MEMBERS: A COMMUNITY-BASED STUDY AT QUYNH DOI VILLAGE (QUYNH LUU, NGHE AN)

Nguyen Van Bang, Nguyen Thi Van Anh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 14 - Supplement of No 4 - 2010: 116 - 122

Hepatitis B virus (HBV) infection is now becoming one of main preoccupations of public health in Vietnam

* Bộ môn Nhi Đại học Y Hà Nội, ** Bộ môn Giáo dục Y học ĐH Y Hà Nội

Trang 2

due to its devastating outcomes (active chronic hepatitis, hepatic cirrhosis and cancer)

Objectives To assess HBsAg(+) rate and risk factor for being HBsAg carriers among household members of

a healthy population living in a community in central region

Population and methods A community-based cross-sectional study was carried out on 1047 healthy

members of 305 households randomly selected from a rural commune with 5,200 inhabitants of 1,220 households HBsAg was determined by ELISA technique Data related to demographic features and intendedly studied factors (past history of transient jaundice and of IM/IV injection, and hepatitis B vaccination) were collected using structured questionnaire The data were analyzed using λ 2 test and univariate and multivariate logistic regression technique

Results HBsAg rate was 8.9% (93/1047), aggregated in 63 households with 275 subjects Female were

significantly less affected than male (6.3% versus 12.2%, respectively, p<0.001) with likelihood of HBsAg carrying reduced to a half (OR (95%CI.): 0.53 (0.29-0.95)) Children of age profiting from hepatitis B prophylaxis (≤10 years old) were significantly less affected than others (3.4% versus 9.8% respectively, p<0.005) with 4.3 fold reducing risk (OR (95% CI): 0.23 (0.09-0.63)) The HBsAg rate was significantly higher in third siblings or younger than in their elder brothers/sisters regarding either the whole study population or in 63 households with affected members In the whole study population, HBsAg rate was significantly lower in subjects with jaundice history than in others (3.7% versus 10.3% respectively, p<0.001), with 3 fold reducing risk (OR (95%CI): 0.33 (0.16-0.66)) Amongst 275 subjects from 63 households with at least one HBsAg positive person, HBsAg rate was significantly higher in those who got injection at least once in the life than others (37.7% versus 18.2% respectively, (p<0.006), with 2.7 fold higher in likelihood of HBsAg(+) (OR (CI95%): 2.73 (1.30-5.70)) There was

no significant relationship between HBsAg status of parent and that of their children in this study

Conclusion Prevalence of hepatitis B virus chronic carriers in this study population is as high as reported

in previous studies in the country Further in-depth studies looking at the role of parent-to-children transmission, protective role of vaccination as well as hazardous role of injection on hepatitis B virus transmission were warranted

Key words: HBsAg, hepatitis B vaccination, household members, injection, jaundice

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm virus viêm gan B (HBV) đang là vấn

đề lớn của y tế công cộng Khoảng 2/3 dân số thế

giới có tiền sử nhiễm HBV, trong đó gần 400

triệu người trở thành người mang HBV mạn

tính Hàng năm có hơn một triệu người trên thế

giới tử vong vì các bệnh liên quan đến nhiễm

HBV mà chủ yếu là do mang HBV mạn tính (suy

gan, xơ gan, ung thư gan) Việt Nam nằm trong

khu vực có tỷ lệ nhiễm HBsAg mạn tính cao (từ

8 đến 25%) nên nhiễm HBV và các bệnh gan liên

quan là gánh nặng y tế nên đang rất được quan

tâm trong chiến lược y tế quốc gia Nghiên cứu

dịch tễ học nhiễm HBV trên những đối tượng

cùng một gia đình có giá trị lớn trong việc đánh

giá sự lây truyền HBV, giúp đề ra chiến lược phòng bệnh, nhưng đến nay có rất ít nghiên cứu

về tình hình nhiễm HBV của tất cả các thành viên trong cùng hộ gia đình tại Việt Nam và ngay cả trên thế giới(6,9,1); đại đa số các nghiên cứu đều chỉ mới tiến hành trên các đối tượng không cùng một gia đình(2,3,4,5,10) Chúng tôi nghiên cứu đề tài này trên tất cả các đối tượng trong từng hộ gia đình tại một cộng đồng miền Trung (xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An), nhằm (1) xác định tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B trong các thành viên của từng hộ gia đình (2) tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng mang vi rút viêm gan B của quần thể đối tượng nghiên cứu trên

Trang 3

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu là 1047 thành viên của

305 hộ gia đình được chọn ngẫu nhiên từ 1.220 hộ

với 4200 thành viên thuộc xã Quỳnh Đôi, huyện

Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, trong đó 404 là nam

(43,9%) và 550 nữ (56,1%) Chỉ chọn vào nghiên

cứu này những hộ có tất cả các thành viên đều

chấp nhận tham gia nghiên cứu Huyết tương

chiết tách từ 3-5ml máu được giữ trong bình lạnh

bảo quản vac-xin, vận chuyển về cất giữ ở -400C,

xác định HBsAg bằng kỹ thuật ELISA và chuẩn

độ ALT (GPT) bằng phương pháp đo động học

enzyme tại phòng xét nghiệm trung tâm Đại học

Y Hà Nội Đặc điểm dân số học và một số yếu tố

có thể liên quan đến tình trạng lây nhiễm HBV

như tiêm truyền, tiền sử vàng da cấp, tiền sử tiêm

chủng viêm gan ở trẻ em sinh từ sau khi vắc-xin

viêm gan B được đưa vào lịch tiêm chủng mở

rộng trong cả nước được triển khai tại địa

phương (2001) được thu thập bằng bộ câu hỏi

điều tra hộ gia đình (questionnaire) Các số liệu

được xử lý bằng các thuật toán thống kê y-sinh

học (λ2 và logistic regression) với sự trợ giúp của

phần mềm SPSS 12.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong tổng số 1047 đối tượng từ 305 hộ gia

đình, có 93 đối tượng HBsAg(+) (8,9%), trong số

này có 7 đối tượng enzyme ALT tăng hơn bình

thường (>40 IU), trong đó có 2 người men ALT

cao >2 lần so với bình thường Phân bố tình

trạng mang HBsAg theo giới và theo từng thành

viên trong hộ gia đình của quần thể nghiên cứu

được trình bày trong hình 1 và 2

404

56

557 37

0 100 200 300 400 500 600

S ñố i t ượ ng

Gi ớ i

(+) (-)

Hình 1: Phân bố tình trạng mang HBsAg theo giới

của quần thể nghiên cứu

159

24 257 16

197 20

153 11

58

10

0 50 100 150 200 250 300

S ñố i t ượ ng

khác

Thành viên h ộ gia ñ ình

(+) (-)

Hình 2: Phân bố tình trạng mang HBsAg của các

thành viên hộ gia đình trong quần thể nghiên cứu

Sự khác biệt về tỷ lệ HBsAg(+) giữa nam (12,2%) và nữ (6,3%) rất có ý nghĩa thống kê

(p<0,001) Sự khác nhau về tỷ lệ HBsAg(+) giữa

bố (13,1%), mẹ (5,9%), con đầu (9,2%), con thứ hai (6,7%), con thứ 3 trở lên (17,1%) và những thành viên khác bao gồm: ông, bà nội ngoại, cô,

dì, chú, anh em họ (7,1%) có ý nghĩa thống kê

(p=0,015) Bảng 1 đánh giá mối liên quan giữa

HBsAg(+) với một số đặc điểm dân số học (tuổi, giới, ngôi thứ trong gia đình), một số sự kiện như tiền sử có vàng da cấp tính, tiền sử tiệm phòng viêm gan B (bắt đầu triển khai cho trẻ tại địa phương từ 2001) và tiền sử có tiêm truyền ít nhất 1 lần trong quá khứ

Bảng 1 Mối liên quan giữa HBsAg(+) trong quần thể với một số yếu tố được nghiên cứu

Y ế u t ố N HBsAg(+) (%) p OR (95% CI) OR © (95% CI)

Gi ớ i

<0,001

0,53 (0,29-0,95)

0,44 (0,28-0,69)

Trang 4

Y ế u t ố N HBsAg(+) (%) p OR (95% CI) OR © (95% CI)

Tu ổ i

≤ 10 tu ổ i 146 5 (3,4)

<0,005

0,23 (0,09-0,63)

Ngôi th ứ

Ng ườ i khác 140 10 (7,1)

<0,015

0,79 (0,34-1,84)

TS vàng da

<0,001

0,33 (0,16-0,66)

0,35 (0,21-0,69)

Tiêm phòng

TS tiêm

0,11

1,70 (0,89-3,25)

bậc trong gia đình, tiền sử vàng da cấp, tiêm chủng và tiền sử tiêm truyền

Nữ có tỷ lệ HBsAg(+) thấp hơn rất rõ rệt so

với nam (p<0,001) Qua phân tích logistic

regression đơn và đa biến, nữ ít nguy cơ bị

nhiễm HBsAg mạn tính hơn nam 2 lần Trẻ ≤10

tuổi ít có nguy cơ mang HBsAg mạn tính 3,4-4,4

lần so với người >10 tuổi Các con từ thứ 3 trở

lên có nguy cơ mang HBsAg mạn gấp 3,13 lần so

với các anh chị con thứ nhất và thứ 2 Những

người có tiền sử vàng da cấp ít nguy cơ mang

HBsAg mạn 3 lần so với những người không có

tiền sử vàng da Chưa thấy mối liên quan rõ rệt

giữa tiền sử tiêm truyền và tiêm chủng vắc-xin

viêm gan với tỷ lệ mang HBsAg trong toàn bộ

quần thể nghiên cứu này

Tất cả 93 đối tượng HBsAg(+) tập trung

vào 275 thành viên của 63 hộ gia đình, có đặc

điểm phân bố theo tuổi và theo thứ tự trong

gia đình được trình bày trong bảng 2

Bảng 2 Phân bố HBsAg(+) ở 273 đối tượng theo giới

và theo thành viên gia đình có người HBsAg(+)

Đố i t ượ ng S ố l ư ợ ng HBsAg(+) (%) p

Gi ớ i

N ữ 146 37 (25,3) <0,04

Con ≥ 3 27 11 (40,7)

Thành viên gia

ñ ình

Ng ư ờ i khác* 36 10 (27,8)

<0,05

chú, bác hoặc anh em họ ở cùng nhà

Tỷ lệ HBsAg(+) ở nam cao hơn nữ có ý

nghĩa thống kê (p<0,04) Bố và con từ thứ 3 trở

lên có tỷ lệ mang HBsAg cao hơn các thành viên khác trong gia đình Tuy nhiên, sự khác biệt chưa đủ ý nghĩa thống kê Mối liên quan giữa tình trạng mang HBsAg với một số yếu tố được nghiên cứu trong nhóm 275 đối tượng của 63 gia đình có người mang HBsAg được trình bày trong bảng 3

Bảng 3 Mối liên quan giữa tình trạng mang HBsAg trong 273 thành viên của 63 hộ gia đình có người mang

HBsAg với một số yếu tố được nghiên cứu

Y ế u t ố N HBsAg (+) (%) p OR (95% CI) OR © (95% CI)

Gi ớ i

<0,02

0,39 (0,23-0,68)

0,43 (0,25-0,73)

Tu ổ i

0,21 (0,08-0,56)

Trang 5

Y ế u t ố N HBsAg (+) (%) p OR (95% CI) OR © (95% CI)

Ng ư ờ i khác 26 10 (27,8)

TS vàng da c ấ p:

Tiêm phòng VGB:

0,31

0,72 (0,39-1,35)

TS tiêm truyền:

2,52 (1,29-5,12)

bậc trong gia đình, tiền sử vàng da cấp, tiêm chủng và tiền sử tiêm truyền

Trong nhóm những thành viên trong 63 gia

đình có người mang HBsAg này, nữ giới và

nhóm tuổi được tiêm chủng (≤10 tuổi) vẫn là

những nhóm đối tượng ít nguy cơ mang

HBsAg một cách có ý nghĩa Tiền sử vàng da

cấp không thấy có liên quan có ý nghĩa với

tình trạng mang HBsAg như trong quần thể

chung Nhóm trẻ đã được tiêm phòng viêm

gan B vẫn không thấy có liên quan với tỷ lệ mang HBsAg Những người có tiền sử tiêm truyền có nguy cơ tăng tỷ lệ mang HBsAg lên 2,5-2,7 lần so với những người chưa bị tiêm truyền Bảng 4 trình bày kết quả phân tích mối liên quan giữa tình trạng mang HBsAg của 47 người bố, 63 người mẹ với 127 con họ trong 63 gia đình có người mang HBsAg

Bảng 4 Mối liên quan giữa HBsAg(+) của bố, mẹ và con trong 63 gia đình có người HBsAg(+)

HBsAg b ố m ẹ HBsAg con

Ng ư ờ i HBsAg N HBsAg(+) n (%)

p OR (95% CI) OR © (95% CI)

B ố

M ẹ

B ố và m ẹ

© Phân tích đa biến logistic regression kỹ thuật bước lùi (conditional backward-stepwise) với các tham số: giới, nhóm tuổi, tình trạng HBsAg của bố, của mẹ và của các con (loại tham số tình trạng HBsAg của cả 2 bố mẹ)

Chưa thấy rõ mối liên quan có ý nghĩa giữa

tình trạng mang HBsAg của bố, mẹ với các con

cái họ trong nhóm đối tượng nghiên cứu này

BÀN LUẬN

Đây là một trong số ít các nghiên cứu về tình

hình nhiễm HBV tại cộng đồng được tiến hành

cho tất cả các thành viên trong cùng hộ gia đình

tại Việt Nam(6-8) Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ

lệ mang HBV ở những đối tượng sống tại vùng

nông thôn miền Trung này là 8,9% Tỷ lệ này

thấp hơn so với 12% trong nghiên cứu trước

đây của Cao Văn Viên và cộng sự (2003) ở 2.400

công nhân nhà máy xi măng Hoàng Thạch(2) Tuy nhiên, tỷ lệ này cao hơn so với tỷ lệ 6,6% trong nghiên cứu năm 2008 của chúng tôi trên tất cả các thành viên hộ gia đình tại một xã miền trung du Bắc bộ (xã Tiên Phong, Ba Vì, Hà Tây cũ)(6), nhưng lại thấp hơn tỷ lệ 11% trong nghiên cứu khác của chúng tôi (2008) trên toàn thể các thành viên hộ gia đình một cộng đồng các dân tộc vùng núi phía Bắc (xã Bản Cầm, Bảo Thắng, Lào Cai)(8)

Trong nghiên cứu này, chúng tôi cũng thấy

tỷ lệ nam giới mang HBV cao hơn nữ giới rõ rệt như đã được công bố trong nhiều nhiên cứu tại

Trang 6

Việt Nam và trong kết quả nghiên cứu của

chúng tôi tại xã Tiên Phong, Ba Vì(6)

Trong 2 nghiên cứu trước đây tại Tiên Phong

(Ba Vì, Hà Tây cũ) và Bản Cầm (Bảo Thắng, Lao

Cai) chúng tôi đều nhận thấy lứa tuổi từ 6-18

tuổi có tỷ lệ mang HBV cao nhất, gấp đôi lứa

tuổi nhỏ hơn và người lớn(6,8) Trong nghiên cứu

này, chúng tôi quan tâm đến lứa tuổi từ khi trẻ

em được tiêm phòng viêm gan B trong chương

trình tiêm chủng mở rộng triển khai đến địa

phương nghiên cứu (2001) nên chỉ đánh giá sự

khác nhau về tỷ lệ HBsAg ở nhóm được tiêm

phòng viêm gan B (từ 10 tuổi trở xuống) Kết

quả cho thấy nhóm trẻ từ 10 tuổi trở xuống có tỷ

lệ mang HBsAg thấp hơn rất rõ so với nhóm tuổi

cao hơn cả trong quần thể nghiên cứu và trong

nhóm 275 đối tượng là thành viên của 63 gia

đình có người mang HBsAg Tuy nhiên, khi

đánh giá tỷ lệ mang HBsAg ở nhóm có và không

tiêm phòng viêm gan B trong toàn quần thể

nghiên cứu và cả trong nhóm các đối tượng của

63 gia đình có người mang HBsAg, chúng tôi

chưa thấy có sự khác biệt có ý nghĩa nào Có thể

là do việc tiêm phòng viêm gan B mới triển khai,

chưa đủ thời gian để phát huy tác dụng trong

cộng đồng và tỷ lệ thấp ở trẻ ≤ tuổi chỉ đơn

thuần là do ảnh hưởng của lứa tuổi Ngoài ra,

cần xem xét thêm về tỷ lệ tiêm phòng viêm gan

B của địa phương này, vì đây là một yếu tố quan

trọng để phát huy tác dụng bảo vệ của việc tiêm

phòng một vắc-xin bất kỳ tại một cộng đồng

Hơn nữa, mẫu nghiên cứu của chúng tôi còn

khiêm tốn nên kết quả chưa đủ độ mạnh để

khẳng định Cần có nghiên cứu rộng hơn và sâu

hơn về lĩnh vực này

Trong nghiên cứu này chúng tôi chưa thấy

rõ mối liên quan giữa nhiễm HBV của bố mẹ với

con cái họ, cũng giống như kết quả nghiên cứu

của chúng tôi tại Tiên Phong (Ba Vì, 2008)(6)

Ngược lại, trong nghiên cứu tại cộng đồng dân

tộc miền núi phía Bắc năm 2008 (Bản Cầm, Bảo

Thắng, Lao Cai) với số đối tượng nghiên cứu

tương đương (1146 người), mối liên quan giữa

HBsAg(+) của mẹ và nhất là của cả bố lẫn mẹ đối

với tình trạng mang HBsAg của con rất chặt chẽ; con các mẹ HBsAg(+) có nguy cơ mang HBsAg cao gấp 15 lần so với con các mẹ HBsAg(-), và nếu cả bố và mẹ đều mang HBsAg, các con họ có nguy cơ mang HBsAg cao gấp đến 45 lần so với trẻ có cả bố và mẹ HBsAg(-)(8) Chúng tôi chưa biết nguyên nhân tại sao có sự khác biệt như vậy trong 2 nghiên cứu cùng loại và cùng cỡ mẫu, chỉ khác nhau về nhóm đối tượng là đồng bằng

và miền núi Điều này gợi ý chúng tôi đi sâu hơn trong những nghiên cứu cùng loại tiếp theo

Kết quả nghiên cứu này về mối liên quan giữa tiền sử có vàng da cấp với tỷ lệ mang HBsAg thấp hơn rõ rệt so với nhóm không có tiền sử vàng da trong quần thể và cùng xu hướng tuy chưa có ý nghĩa thống kê ngay cả trong nhóm 275 đối tượng của 63 gia đình có người HBsAg(+), điều này có vẻ trái với thông lệ

và cần được nghiên cứu kỹ càng hơn Tuy nhiên, chúng tôi thấy có thể lý giải rằng đây là nhóm những đối tượng chưa hề tiếp xúc với kháng nguyên viêm gan B trước đó, chưa có miễn dịch nên bị nhiễm vi rút và bị viêm gan B cấp tính, nhưng sau đó cơ thể đã tiêu diệt được vi rút và trở nên có miễn dịch chủ động như đại đa số các trường hợp viêm gan cấp khác đã được chứng minh, trong khi một phần các đối tượng không

có tiền sử vàng da cấp là do đã có vi rút viêm gan B trong máu Nhóm đối tượng có tiền sử tiêm truyền có nguy cơ mang HBsAg cao hơn khi xem xét trong toàn bộ quần thể nghiên cứu

và trở nên rất có ý nghĩa khi xem xét trong nhóm

275 người của 63 gia đình có người mang HBsAg Tuy số lượng đối tượng còn ít, giá trị khẳng định chưa cao, nhưng đó cũng là một thông điệp cảnh báo về hậu quả tiêm truyền đối với nhiễm vi rút viêm gan B nói riêng cũng như các bệnh lây qua đường máu khác nói chung Cần nghiên cứu sâu và rộng hơn để có kết luận chắc chắn về tác động của tiêm truyền đối với sự lây truyền vi rút viêm gan B, dù ngày nay việc

sử dụng các dụng cụ tiêm truyền một lần duy nhất đã hạn chế rất nhiều tác hại lây truyền bệnh của dụng cụ tiêm truyền

Trang 7

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu cắt ngang tại cộng đồng trên

1047 đối tượng là các thành viên của 305 hộ gia

đình tại một xã vùng đồng bằng miền Trung cho

thấy: Tỷ lệ HBsAg(+) là 8,9%, ở nam cao hơn rõ

rệt so với ở nữ; nguy cơ HBsAg(+) ở nữ giảm

hơn 2 lần so với ở nam Trẻ ≤10 tuổi có tỷ lệ

HBsAg(+) thấp hơn rõ rệt so với lứa tuổi cao

hơn; nguy cơ mang HBsAg ở trẻ ≤10 tuổi giảm

4,3 lần so với nhóm >10 tuổi Trẻ từ con thứ 3 trở

lên có tỷ lệ HBsAg(+) cao hơn các anh chị Các

đối tượng có tiền sử vàng da cấp có tỷ lệ

HBsAg(+) thấp và ít nguy cơ mang HBsAg hơn 3

lần so với nhóm không có tiền sử vàng da Trong

số 275 đối tượng thuộc 63 hộ gia đình có người

HBsAg(+), tỷ lệ HBsAg(+) ở nhóm có tiền sử

tiêm truyền cao hơn với nguy cơ HBsAg(+) cao

gấp gần 3 lần ở nhóm chưa từng bị tiêm truyền

Không thấy có mối liên quan giữa tình trạng

HBsAg của bố hoặc mẹ với tình trạng mang

HBsAg của các con họ Tình trạng mang HBsAg

ở quần thể nghiên cứu này phù hợp với đặc

điểm vùng dịch tễ cao của nước ta Cần nghiên

cứu sâu thêm để làm sáng tỏ hơn vai trò lây

truyền từ mẹ sang con, tác động của tiêm chủng

và hậu quả tiêm truyền đối với sự thay đổi tỷ lệ

nhiễm vi rút viêm ban B tại cộng đồng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bùi Xuân Trường, Nguyễn Văn Bàng (2009) Tỷ lệ nhiễm

virus viêm gan B, C và đồng nhiễm virus viêm gan B/C và

đồng nhiễm virus viêm gan B/C và các kiểu gen virus viêm

gan B thuộc khu vực biên giới Việt Trung (huyện Bát Xát, tỉnh

Lào Cai) Tạp chí nghiên cứu Y học, 64(5): 52-59

2 Cao Văn Viên, Trần Duy Hưng (2003) Khảo sát tình trạng

nhiễm trùng viêm gan virus B tại công ty xi măng Hoàng

Thạch (Hải Dương) năm 2002 Tạp chí y học Dự phòng, tập

XIII, Phụ bản số 1(59): 147-50

3 Hipgrave DB, Van NT, Huong VM et al (2003) Hepatitis B

infection in rural Vietnam and the implications for a national

program of infant immunization Am J Tro Med Hyg 69:288 -

294

4 Huy Thien Tuan Tran et al (2003) “Prevalance of hepatitis

virus types B through E genotypic distribution of HCV in Ho

Chi Minh City, Vietnam”, Hepatology Research, 26: 275-280

5 Nguyễn Trường Sơn, Bùi Xuân Trường, Nguyễn Khánh

Trạch, Trần Minh Phương, Nguyễn Công Long, Nguyễn Văn

Bàng (2006) Nghiên cứu tỷ lệ các kiểu gen của virus viêm gan

B ở một số người lành mang virus và người mắc bệnh gan

mạn tính tại miền Bắc Việt Nam Y học lâm sàng Bệnh viện

Bạch Mai, số 2 (đặc san), tr 139-142

6 Nguyễn Văn Bàng (2008) Tình hình nhiễm virus và các kiểu gien virus viêm gan B ở trẻ em và bố mẹ tại xã Tiền Phong (Ba

Vì, Hà Tây) Tạp chí Y học thực hành, 629: 406-411

7 Nguyễn Văn Bàng, Lương Công Sỹ (2008) Một số đặc điểm dịch tễ học nhiễm virus viêm gan B (HBV) ở trẻ em các dân tộc xã Bản Cầm, Bảo Thắng, Lào Cai Y học thành phố HCM, 12(4): 44-48

8 Nguyễn Văn Bàng, Nguyễn Thị Vân Anh, Lương Công Sỹ (2009) Một số đặc điễm dịch tễ học nhiễm virus viêm gan B (HBV) ở trẻ em và người lớn các dân tộc thuộc xã Bản Cầm, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lao Cai Tạp chí Nhi khoa, 2(2): 62-69

9 Nguyễn Văn Bàng, Nguyễn Thị Vân Anh (2010) Đặc điểm lâm sàng, sinh học nhiễm virus viêm gan B ở trẻ em và người lớn các dân tộc tại xã Bản Cầm, Bảo Thắng, Lao Cai Tạp chí Nhi khoa, 3(1): 48-55

10 Ni YH, Chang MH, Huang LM et al (2001) Hepatitis B virus infection in children and adolescents in a hyperendemic area:

15 years after mass hepatitis B vaccination Ann Intern Med, 135: 796-800

Ngày đăng: 21/01/2020, 17:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w