1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả nitơ lỏng so với podophyllin 30% trong điều trị bệnh sùi mào gà sinh dục ngoài phái nam

7 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 250,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu có mục tiêu nhằm xác định hiệu quả của Nitơ lỏng so với podophyllin 30% trong điều trị bệnh sùi mào gà sinh dục ngoài ở phái nam. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ về bệnh sui mào phòng tránh và kịp thời chữa trị.

Trang 1

HIỆU QUẢ NITƠ LỎNG SO VỚI PODOPHYLLIN 30%

TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH SÙI MÀO GÀ SINH DỤC NGOÀI PHÁI NAM

Lê Quốc Trung * , Lê Ngọc Diệp **

TÓM TẮT

Mở đầu: Bệnh sùi mào gà là bệnh phổ biến trong các bệnh lây qua tình dục, do HPV (Human Papillomavirus) gây ra Bệnh hay tái phát, chưa có phương pháp điều trị hữu hiệu Tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào về Nitơ lỏng trong điều trị bệnh sùi mào gà vì thế chúng tôi tiến hành nghiên cứu có so sánh Nitơ lỏng xịt với Podophyllin resin 30% bôi trong điều trị bệnh sùi mào gà sinh dục ngoài ở phái nam

Mục tiêu: Xác định hiệu quả của Nitơ lỏng so với Podophyllin 30% trong điều trị bệnh sùi mào gà sinh dục ngoài ở phái nam

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thực nghiệm

Kết quả: Nghiên cứu với 90 đối tượng tham gia bao gồm 47 người nhóm Nitơ và 43 người nhóm Podophyllin Kết quả sau 6 tuần điều trị: nhóm Nitơ có 40 đối tượng sạch sang thương, nhóm Podophyllin có 27 sạch tổn thương Tỉ lệ sạch sang thương của nhóm Nitro là 91% so với nhóm podophyllin 71% với RR = 1,28; KTC 95% (1,02-1,60), P = 0,02 Thời gian sạch sang thương trung bình của nhóm Nitơ là 2,2 ± 1,4 tuần so với 2,9 ± 1,4 tuần nhóm podophyllin với P = 0,052 Tỉ lệ tái phát trong nhóm nitơ lỏng là 26% so với 52% trong nhóm podophyllin với RR = 0,49, KTC 95% (0,27-0,95); P = 0,03

Kết luận: Nitơ lỏng có hiệu quả hơn và tỉ lệ tái phát ít hơn so với Podophyllin 30% trong điều trị bệnh sùi mào gà sinh dục ngoài

Từ khóa: Bệnh sùi mào gà, mồng gà, mục cóc sinh dục, mụn cơm sinh dục

ABSTRACT

EFFECTIVENESS OF LIQUID NITROGEN VERSUS PODOPHYLLIN 30% IN THE TREATMENT OF

EXTERNAL GENITAL WARTS IN MEN

Le Quoc Trung, Le Ngoc Diep * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - Supplement of No 1 - 2013: 318 - 324

Background: Genital warts are common sexually transmitted diseases, caused by HPV (Human Papillomavirus).and usually recurrent In Vietnam, no published studies of liquid nitrogen in the treatment of warts so we conducted this study comparing liquid nitrogen spray with Podophyllin 30% applied in the treatment

of external genital warts in men

Objective: To determine the effectiveness of liquid nitrogen compared with podophyllin 30% in the treatment of external genital warts in men

Methods: Randomized controlled trial (RCT)

Results: 90 participants were enrolled included 47 people in Nitrogen group and 43 people in Podophyllin group The results were recorded after 6 weeks of treatment: 40 Lesions clearance were seen in Nitrogen group and 27 Lesions clearance in Podophyllin group Clearance rate of the Nitro group was 91% compared to 71% Podophyllin group with RR = 1.28; CI 95% = (1.02- 1.60); P = 0.02 Lesions clearance average time of Nitro group is 2.2 ± 1.4 weeks compared to 2.9 ± 1.4 weeks podophyllin group with P = 0.052 Recurrence rate in the group of liquid nitrogen

is 26% compared to 52% in Podophyllin group with RR = 0.49; CI 95% (0.27- 0.95); P = 0.03

* Lớp chuyên khoa II Da Liễu khóa 2010 - 2012, ĐHYD TPHCM ** Bộ môn Da liễu ĐHYD TPHCM

Trang 2

Conclusion: Liquid nitrogen is 30% more effective than Podophyllin in the treatment of external genital warts in men Recurrence rate of liquid nitrogen is 30%, lower than podophyllin

Keywords: Condylomata acuminata, genital warts, human papilloma virus

MỞ ĐẦU

Bệnh sùi mào gà (hay mồng gà) hiện nay là

bệnh phổ biến, chiếm tỉ lệ cao nhất trong những

bệnh lây qua tình dục Bệnh hay tái phát, chưa

có phương pháp nào là lý tưởng trong điều trị

bệnh sùi mào gà

Một phương pháp điều trị đơn giản, hiệu

quả vẫn là điều những nhà điều trị nhắm đến

Liệu pháp lạnh (Cryotherapy), được nhiều

tác giả đánh giá khá cao trong điều trị bệnh sùi

mào gà

Tại Việt Nam, hiện nay chưa có nghiên cứu

nào hiệu quả Nitơ lỏng trong điều trị bệnh sùi

mào gà vì thế chúng tôi tiến hành nghiên cứu có

so sánh Nitơ lỏng xịt với Podophyllin resin 30%

bôi trong điều trị bệnh sùi mào gà sinh dục ngoài

ở phái nam

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Xác định hiệu quả của Nitơ lỏng so với

Podophyllin 30% trong điều trị bệnh sùi mào gà

sinh dục ngoài ở phái nam

Mục tiêu chuyên biệt

- Xác định tỉ lệ khỏi bệnh của Nitơ lỏng và

Podophyllin 30% trong điều trị bệnh sùi mào gà

sinh dục ngoài ở phái nam

- Mô tả tác dụng phụ của Nitơ lỏng và

Podophyllin 30% trong điều trị bệnh sùi mào gà

sinh dục ngoài ở phái nam

- Xác định tỉ lệ tái phát của Nitơ lỏng và

Podophyllin 30% trong điều trị bệnh sùi mào gà

sinh dục ngoài ở phái nam

TỔNG QUAN

Bệnh sùi mào gà được nhận biết qua những

tân sinh lành tính ở vùng sinh dục, hậu môn và

vùng niêm mạc do nhiễm HPV (Human

Papillomavirus)(7) Theo S A Bushby(4) hiện nay

HPV có hơn 130 type trong đó đã xác định 80

genotype, có 40 type gây bệnh sùi mào gà(2), HPV được chia thành nhóm có nguy cơ thấp không gây ung thư và nhóm nguy cơ cao có thể gây ung thư vùng sinh dục và hậu môn Hiện nay 90% bệnh sùi mào gà do 2 type 6, 11 HPV hiện diện trên 90% trong ung thư cổ tử cung và 70%

do 2 type 16,18 gây ra

Dịch tễ học

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC)(4) Bệnh sùi mào gà là bệnh thường gặp nhất trong những bệnh lây truyền qua đường tình dục, tỉ lệ lưu hành 106/100.000 dân, tuổi mắc bệnh nhiều nhất 17-33 tuổi (80%) và tỉ lệ nhiễm HPV trên toàn thế giới

340 triệu người Ước tính chi phí điều trị mỗi năm 220 triệu USD Theo công bố của CDC 2010 nước Mỹ có 20 triệu nhiễm HPV và có 6 triệu ca nhiễm mới mỗi năm

Lâm sàng

Bệnh sùi mào gà có thời gian ủ bệnh dài 1-8 tháng, biểu hiện bằng những sẩn sùi màu hồng đến nâu kích thước từ 1-2 mm đến vài cm có khi

to bằng bông cải.Vi trí thường gặp là vùng sinh dục, hậu môn

Chẩn đoán

Chủ yếu dựa vào lâm sang Theo CDC(4) các

kỹ thuật cận lâm sàng ít được dùng chỉ dùng trong những trường hợp khó chẩn đoán, điều trị kéo dài không khỏi hoặc nghi ngờ ung thư

Điều trị

Theo CDC 2010(1,4) điều trị bệnh sùi mào gà là phải loại bỏ thương tổn và cả điều trị dự phòng(6)

bao gồm dùng bao cao su và vaccine Không có một điều trị nào được cho là lý tưởng trên bệnh sùi mào gà, điều trị sẽ thay đổi tùy thuộc vào nhiều yếu tố: tình trạng bệnh nhân, vị trí, kích thước, mức độ của thương tổn, điều kiện trang thiết bị, kinh nghiệm của bác sĩ và giá thành của phương pháp đó… Tất cả những yếu tố trên sẽ

Trang 3

quyết định phương pháp nào là thích hợp cho

từng bệnh nhân cụ thể(8) Các phương pháp điều

trị bệnh sùi mào gà hiện nay

- Phẫu thuật: đốt điện, laser, cắt Phương

pháp phẫu thuật thường chỉ định cho những tổn

thương lớn, hiệu quả nhanh tuy nhiên những

nguy cơ trong phẫu thuật, gây đau, loét sau

phẫu thuật cũng không nhỏ và tỉ lệ tái phát cũng

rất lớn

- Thuốc bôi tại chỗ: Acid trichloacetic 50-80%,

Podophyllin 10-25%, Podophyllotoxin 0,5%,

5-FU (Fluorouracil) 5%, Imiquimod 5%, Chiết xuất

trà xanh 10-15%, Liệu pháp lạnh (Cryotherapy):

đối với những tổn thương nhỏ thì những trị liệu

bôi tại chỗ cũng chứng tỏ khá hiệu quả, mỗi trị

liệu có những ưu khuyết điểm của nó

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu thực nghiệm (không làm mù)

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh sùi mào gà sinh dục ngoài phái nam,

đến khám Bệnh Viện Da Liễu từ 09/2011 đến

05/2012

Tiêu chí đưa vào

Bệnh sùi mào gà sinh dục ngoài, đường kính

sang thương (chiều dài lớn) nhỏ hơn 2cm, tổng

số sang thương dưới 30 và tuổi 18 đến 60

Tiêu chí loại ra

- Bệnh sùi mồng gà đang điều trị bởi phương

pháp khác dưới 3 tháng

- Đang mắc những bệnh tình dục khác: HIV,

Lậu, Giang mai và Herpes sinh dục

- Bệnh nhân mắc các bệnh mạn tính có dùng

corticoid lâu dài, hay thuốc ức chế miễn dịch

Các bước tiến hành

- Các đối tượng sau khi được khám và chẩn

đoán bệnh sùi mào gà, nếu thỏa các điều kiện

nghiên cứu sẽ đưa vào nghiên cứu

- Bệnh nhân được chụp ảnh ở mỗi lần khám

- Phân nhóm ngẫu nhiên vào 1 trong 2

phương pháp hoặc Nitơ lỏng xịt hoặc

Podophyllin 30% bôi: Nitơ lỏng xịt lên sang thương 10-15 giây; Podophyllin 30% bôi lên sang thương

Cả 2 phương phápđiều trị: mỗi tuần/1 lần liên tục 6 tuần Những đối tượng sạch sang thương sau 6 tuần điều trị được theo dõi 2 tuần/1 lần trong 12 tuần kế tiếp để đánh giá tỉ lệ tái phát

Xử lý dữ liệu

- Toàn bộ số liệu thu thập được nhập EpiData 3.0 và phân tích trên phần mềm thống

kê Stata 10

- So sánh đặc tính mẫu giữa 2 phương pháp điều trị

+ Biến định tính: dùng phép kiểm Chi bình phương, Fisher chính xác để so sánh 2 phương pháp điều trị

+ Đối với biến định lượng: Dùng phép kiểm t

để so sánh 2 biến số định lượng có phân phối bình thường và phương sai đồng nhất Phép kiểm Mann Whitney được sử dụng khi các giả định của phép kiểm t trên là không thỏa

+ RR (Nguy cơ tương đối), KTC 95% (Khoảng tin cậy) dùng để xác định mối liên quan giữa phương pháp điều trị và hiệu quả điều trị + Dùng hồi qui GEE, phân phối Gaussian và tùy chọn Robust để xác định mối liên quan giữa phương pháp điều trị, thời gian theo dõi và các biến số định lượng

+ Dùng hồi quy GEE với phân phối nhị thức

“binomial” và tùy chọn Robust để xác định mối liên quan giữa phương pháp điều trị, thời gian theo dõi với các biến số nhị giá được đo lường lập lại theo thời gian

Ngưỡng có ý nghĩa thống kê P ≤ 0,05

KẾT QUẢ

Nghiên cứu có 90 đối tượng tham gia nhóm Nitơ lỏng 47, nhóm Podophyllin 43 Kết quả sau

6 tuần điều trị: nhóm Nitơ có 40 ca sạch sang thương, 4 còn sang thương, 3 bỏ cuộc Nhóm Podophyllin có 27 ca sạch sang thương, 11 còn

Trang 4

sang thương, 5 bỏ cuộc Những đối tượng sạch

sang thương 2 nhóm được theo dõi 12 tuần kế

tiếp kết quả như sau: nhóm Nitơ có 10 tái phát, 1

bỏ cuộc, 29 sạch sang thương; nhóm Podophyllin

có 13 tái phát, 2 bỏ cuộc, 12 sạch sang thương

Đặc tính mẫu nghiên cứu

Tuổi

Trung bình 30, tuổi nhỏ nhất 20 tuổi, lớn

nhất 56 tuổi

Nơi cư ngụ

Đa phần sống tại TP.HCM

Trình độ học vấn

Trình độ tiểu học chiếm 11%, trung học 46%

và cao đẳng/đại học 43%

Nghề nghiệp

Công nhân viên (nhân viên văn phòng) 30%,

kinh doanh 24%, công nhân (lao động phổ

thông) 21%, sinh viên 11%, tài xế 7%

Tình trạng hôn nhân

Tỉ lệ bệnh sùi mào gà ở những người độc

thân và người đã kết hôn là như nhau 50%

Thời gian mắc bệnh

Thời gian 1-3 tháng 38%, dưới 1 tháng 35%

và trên 3 tháng 27%

Đối tượng quan hệ tình dục

Trong 45 đối tượng có vợ có 16 đối tượng

(36%) quan hệ tình dục với bạn tình không phải

là vợ và 6 đối tượng (13%) có quan hệ tình dục

với người bán dâm

Số lượng bạn tình trong 3 tháng

Chỉ 1 bạn tình 61%, nhiều bạn tình 33% và

không có bạn tình trong 3 tháng 6%

Tình trạng sùi mào gà ở bạn tình

Các đối tượng không biết bạn tình mắc bệnh

sùi mào gà chiếm 68%, biết bạn tình có bệnh sùi

mào gà 30% và bạn tình có đi khám nhưng chưa

phát hiện bệnh 2%

Quan hệ tình dục qua hậu môn

Có 2 đối tương có quan hệ tình dục qua

đường hậu môn có sang thương ở bộ phận sinh dục nhưng không thấy ở hậu môn

Tình dục qua miệng

Tỉ lệ quan hệ tình dục qua đường Miệng-Sinh dục trong nghiên cứu là 15%

Sử dụng bao cao su (BCS)

Luôn luôn 15%, đôi khi 46% và không bao giờ dùng 39%

Tiền sử bệnh tình dục

Có 14 đối tượng (16%) có tiền sử bệnh tình dục gồm: bệnh sùi mào gà 5, lậu 9 đối tượng Không có sự khác biệt giữa các yếu tố dịch

tễ, các yếu tố nguy cơ trong 2 nhóm điều trị với p> 0,05 Không có tác động gây nhiễu bởi các yếu

tố dịch tễ, yếu tố nguy ảnh hưởng đến kết quả của 2 phương pháp điều trị

Đặc tính lâm sàng của 2 nhóm

Số lượng sang thương trung bình trong 2 nhóm điều trị là như nhau, với P=0,15 Tuy nhiên, kích thước sang thương lớn nhất và nhỏ nhất trung bình trong nhóm điều trị Nitơ lỏng (Nitơ) lớn hơn nhóm Podophyllin (Podo), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P< 0,05

Hiệu quả điều trị của nitơ lỏng so với podophyllin

Khả năng sạch sang thương trong nhóm điều trị Nitơ cao gấp 1,28 lần so với nhóm Podo với RR=1,28; KTC 95% (1,02-1,60); P=0,02 Thời gian sạch sang thương ở phương pháp Nitơ ngắn hơn Podo nhưng sự khác biệt này không có

ý nghĩa thống kê với P=0,052

Số lượng sang thương theo thời gian điều trị

Số lượng sang thương trung bình ở nhóm điều trị bằng Nitơ cao hơn 22% so với nhóm Podo sự khác biệt với RR =1,22; KTC 95% (0,75-2,00); P=0,42 Nếu cùng phương pháp điều trị, thời gian theo dõi tăng lên 1 tuần thì số lượng sang thương sẽ giảm 34% với RR=0,66; KTC 95%(0,59-0,75); P<0,001

Trang 5

Kích thước sang thương lớn nhất thời

gian điều trị

Kích thước sang thương lớn nhất ở nhóm

điều trị bằng Nitơ cao hơn 30% so với nhóm điều

trị bằng Podo và sự khác biệt với RR =1,30; KTC

95% (1,01-1,67); P=0,05 Nếu cùng phương pháp

điều trị, thời gian theo dõi tăng lên 1 tuần thì

kích thước sang thương lớn nhất sẽ giảm 35%

với RR=0,65; KTC 95% (0,59-0,75); P<0,001

Kích thước sang thương nhỏ nhất thời gian

điều trị

Kích thước sang thương nhỏ nhất ở nhóm

điều trị bằng Nitơ cao hơn 1% so với nhóm điều

trị bằng Podo với RR =1,01; KTC 95% (0,78-1,30);

P=0,96 Nếu cùng phương pháp điều trị, thời

gian theo dõi tăng lên 1 tuần thì kích thước sang

thương nhỏ nhất sẽ giảm 32% với RR=0,68; KTC

95% (0,60-0,77); P<0,001

Tác dụng phụ

Đau

Nhóm Nitơ có nguy cơ đau cao hơn 4,34 lần

so với nhóm Podo và sự khác biệt với RR=4,34;

KTC95% (1,63-11,60); P=0,003 Cùng phương

pháp điều trị nếu thời gian theo dõi tăng lên 1

tuần thì tác dụng phụ đau sẽ giảm 49% với RR

=0,51; KTC 95% (0,44-0,59); P<0,001

Rát

Nhóm Nitơ có nguy cơ rát cao gấp 5,09 lần so

với nhóm Podo với RR = 5,09; KTC 95%

(2,20-11,71); p<0,001 Nếu cùng phương pháp điều trị

thời gian tăng lên 1 tuần thì nguy cơ rát giảm

45% với RR=0,55; KTC 95% (0,49-0,62); P<0,001

Sưng

Nhóm Nitơ có nguy cơ sưng cao gấp 10,15

lần so với nhóm Podo với RR = 10,15; KTC 95%

(1,38-74,51); P< 0,05 Cùng phương pháp điều trị,

nguy cơ sưng giảm 67% nếu thời gian tăng lên 1

tuần với RR=0,33; KTC 95% (0,26-0,43); P<0,001

Loét

Nguy cơ bị loét ở nhóm điều trị Nitơ cao hơn

50% nhóm Podo với RR=1,50; KTC95%

(1,10-2,22); P< 0,05 Cùng phương pháp điều trị, nguy

cơ loét giảm 61% nếu thời gian tăng lên 1 tuần với RR=0,39; KTC 95% (0,34-0,45); P<0,001

Rối loạn sắc tố (RLST)

Nguy cơ bị rối loạn sắc tố ở nhóm Nitơ cao hơn 8,32 lần so nhóm Podo với RR=8,32; KTC95% (2,46-28,15); P< 0,001 Cùng phương pháp điều trị, nguy cơ RLST tăng 18% nếu thời gian điều trị tăng lên 1 tuần với RR=1,18; KTC 95% (1,10-1,23); P<0,001

Nguy cơ tái phát

Nguy cơ tái phát trong nhóm điều trị bằng Nitơ chỉ bằng 0,49 lần so với nhóm Podo và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với RR =0,49; KTC 95% (0,27-0,95); P=0,03

Rối loạn sắc tố sau 12 tuần theo dõi

Sau 12 tuần theo dõi, chỉ có nhóm điều trị bằng Nitơ lỏng có tác rối loạn sắc tố (RLST), tác dụng phụ này không xảy ra ở nhóm được điều trị Podophyllin, tình trạng RLST giảm dần theo thời gian theo dõi

BÀN LUẬN Đặc tính lâm sàng trong 2 nhóm điều trị

Số lượng sang thương trung bình của nhóm điều trị bằng phương pháp Nitơ lỏng là 4 trong khi ở nhóm Podophyllin là 3, không có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê với P=0,15 Tuy nhiên, kích thước sang thương lớn nhất trung bình của nhóm điều trị bằng Nitơ lỏng là 6mm so với 5mm của nhóm Podophyllin Trong khi kích thước nhỏ nhất trung bình nhóm điều trị Nitơ lỏng là 3mm và kích thước nhỏ nhất trung bình nhóm điều trị Podophyllin là 2mm, sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê với P< 0,05

Hiệu quả điều trị của nitơ lỏng so với podophyllin

Trong nghiên cứu này tỉ lệ sạch sang thương của nhóm được điều trị bằng Nitơ là 91% so 71% của Podo với RR= 1,28; KTC= 95% (1,02-1,60); P= 0,02 Hiệu quả của phương pháp Nitơ cao hơn Podophyllin là 28% và sự khác biệt có ý nghĩa

Trang 6

thống kê Theo British Association For Sexual

Health and HIV(3) tỉ lệ sạch sang thương Nitơ

63-92% Theo KM Stone và cs(6), tỉ lệ sạch sang

thương Nitơ là 79% và Podophyllin 41% Theo

Raymond Maw tỉ lệ sạch sang thương Nitơ là

27-88% và Podophyllin là 23-72% Theo Abdullah

An và cs tỉ lệ sạch sang thương Nitơ 86%

Thời gian sạch sang thương trong 2 phương

pháp điều trị

Thời gian sạch sang thương trung bình của

nhóm điều trị bằng Nitơ lỏng 2,2 (±1,4) tuần,

ngắn hơn so với Podophyllin là 2,9 (±1,4) tuần

Tuy nhiên, sự khác biệt không có ý nghĩa thống

kê với P= 0,052 Theo Bashi Sami Anwer và cs(1)

thời gian sạch sang thương của Nitơ lỏng là

2,3(±1,2) tuần; của Podophyllin là 4,7(±2,4) tuần

Số lượng sang thương trong 2 phương

pháp theo thời gian điều trị

Số lượng sang thương trung bình lúc bắt đầu

điều trị ở nhóm Nitơ cao hơn nhóm Podo 22%,

tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống

kê với RR= 1,22, KTC 95% (0.75-2,00); P=0,42 Với

cùng phương pháp điều trị nếu thời gian tăng

lên 1 tuần thì số lượng sang thương trung bình

giảm 34%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với

RR= 0,66; KTC 95% (0,59-0,75); P<0,001 Số lượng

sang thương trung bình trong 2 nhóm điều trị

đều giảm rất nhanh trong 2 tuần đầu tiên điều trị

và nhóm điều trị bằng Nitơ giảm nhanh hơn

nhóm Podo

Kích thước sang thương lớn nhất ở 2

phương pháp điều trị và thời gian theo dõi

Kích thước sang thương lớn nhất trung bình

(trong 6 tuần điều trị) ở nhóm Nitơ cao hơn

nhóm Podo 30%, sự khác biệt với RR= 1,30; KTC

95% (1,01-1,67); P=0,05 Với cùng phương pháp

điều trị nếu thời gian tăng lên 1 tuần thì số kích

thước sang thương lớn nhất trung bình giảm

35%, sự khác biệt với RR= 0,65; KTC 95%

(0,58-0,74); P<0,001 Kích thước sang thương lớn nhất

trung bình ở tuần bắt đầu điều trị là 5mm và

nhanh chóng đạt 0 mm ở tuần thứ 2 Đối với

bệnh sùi mào gà trong 2 tuần điều trị mà đạt

được sạch sang thương thì có thể nói đây là những phương pháp rất hữu hiệu

Kích thước sang thương nhỏ nhất ở 2 phương pháp điều trị và thời gian theo dõi

Kích thước sang thương nhỏ nhất trung bình

ở nhóm Nitơ cao hơn nhóm Podo là 1%, sự khác biệt với RR= 1,01; KTC 95% (0,78-1,30); P=0,96 Với cùng phương pháp điều trị nếu thời gian tăng lên 1 tuần thì số kích thước sang thương nhỏ nhất trung bình giảm 32%, sự khác biệt với RR= 0,68; KTC 95% (0,60-0,77); P<0,001

Tương tự như sang thương có kích thước lớn nhất thì kích thước sang thương nhỏ nhất cũng giảm nhanh trong 2 tuần đầu điều trị

Mối liên quan tác dụng phụ đau và phương pháp điều trị, thời gian theo dõi

Tác dụng phụ đau trong nhóm điều trị bằng Nitơ cao hơn nhóm điều trị bằng Podo 4,34 lần,

sự khác biệt với RR= 4,34; KTC 95% (1,63-11,60); P< 0,03 Với cùng phương pháp điều trị thời gian tăng lên 1 tuần thì nguy cơ đau giảm 49% với RR=0,51; KTC 95% (0,44-0,59); P< 0,001

Mối liên quan tác dụng phụ rát và phương pháp điều trị, thời gian theo dõi

Nguy cơ rát trong nhóm Nitơ cao hơn nhóm Podo 5,09 lần, sự khác biệt với RR=5,09; KTC 95%(2,20-11,71); P< 0,001 Với cùng phương pháp điều trị, thời gian tăng lên 1 tuần thì nguy cơ rát giảm 45%, với RR=0,55; KTC 95%(0,49-0,62); P< 0,001

Mối liên quan tác dụng phụ sưng và phương pháp điều trị, thời gian theo dõi

Nguy cơ sưng trong nhóm Nitơ cao hơn nhóm Podo 10,15 lần, sự khác biệt với RR=10,15; KTC 95% (1,38-74,51); P < 0,05 Với cùng phương pháp điều trị thời gian tăng lên 1 tuần thì nguy

cơ sưng giảm 67%, với RR=0,33; KTC 95% (0,26-0,43); P < 0,001

Trang 7

Mối liên quan tác dụng phụ loét và

phương pháp điều trị, thời gian theo dõi

Nguy cơ loét trong nhóm Nitơ cao hơn nhóm

Podo 1,5 lần, sự khác biệt với RR=1,5; KTC 95%

(1,01-2,22); P < 0,05 Cùng phương pháp điều trị

thời gian tăng lên 1 tuần thì nguy cơ loét giảm

61%, với RR=0,39; KTC 95% (0,34-0,45); P < 0,001

Loét xảy ra nhiều ở tuần điều trị thứ 1 và thứ 2,

tuy nhiên tình trạng loét giảm dần từ tuần thứ 3

và không còn ở tuần thứ 5, 6 Cả 2 phương pháp

Nitơ và Podophyllin đều gây phá hủy mô do đó

việc tạo vết loét là điều tất yếu

Mối liên quan rối loạn sắc tố và phương

pháp điều trị, thời gian theo dõi

Nguy cơ RLST trong nhóm Nitơ cao hơn

nhóm Podo 8,32 lần, sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê với RR=8,32; KTC 95% (2,46-28,15); P <

0,001 Với cùng phương pháp điều trị thời gian

tăng lên 1 tuần thì nguy cơ RLST tăng 18%, với

RR=1,18; KTC 95% (1,10-1,23); P < 0,001

Tỉ lệ tái phát của Nitơ so Podophyllin sau

12 tuần theo dõi

Tỉ lệ tái phát trong nhóm Nitơ lỏng 26%,

trong khi nhóm điều trị bằng Podophyllin là 52%

với RR=0,49; KTC 95% (0,27-0,95); P=0,03 Đây là

ưu điểm của phương pháp Nitơ lỏng vì đa số

những phương pháp điều trị bệnh sùi mào gà

đều có tỉ lệ tái phát khá cao, gây thất vọng cho cả

bệnh nhân và người điều trị Theo tác giả Lacey

CJ và cs tỉ lệ tái phát trong sùi mào gà điều trị

bằng Podophyllin 45%.Theo Raymond Maw tỉ lệ

tái phát của liệu pháp lạnh 21%, của Podophyllin

23-65%

Mối liên quan rối loạn sắc tố và phương

pháp điều trị, thời gian theo dõi sau 12 tuần

Sau 12 tuần theo dõi, chỉ các đối tượng trong

phương pháp điều trị bằng Nitơ có RLST, trong

khi nhóm điều trị bằng Podo thì không RLST và tình trạng RLST giảm dần theo thời gian theo dõi Nếu thời gian tăng lên 1 tuần thì trạng RLST

sẽ giảm 12%, với RR= 0,88; KTC 95% (0,81-0,97); P=0,008

KẾT LUẬN

Nitơ lỏng xịt có hiệu quả cao hơn Podophyllin 30% bôi trong điều trị bệnh sùi mào

gà sinh dục ngoài và thời gian điều trị để sạch sang thương lâm sàng của Nitơ lỏng ngắn hơn Podophyllin Nitơ lỏng gây nhiều tác dụng phụ khó chịu trong lúc điều trị tuy nhiên đa phần những tác dụng này là nhẹ nhàng không cần điều trị hỗ trợ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bashi SA et al (1985), Cryotherapy Versus Podophyllin in the

Treatment of Genital Warts, Iuternational Journal Of

Dermatology, 24, pp.535-536

2 Bernard HU, Burk RD et al (2010), Classification of papillomaviruses (PVs) based on 189 PV types and proposal of

taxonomic amendments, Virology, 401(1), pp-70-79

3 British Association For Sexual Health and HIV (2007), UK National Guideline on the management of ano-genital warts pp.50-52

4 Bushby SA., and Chauhan M., (2008), Management of internal

genital warts: do we all agree? A postal survey June, Int J STD

AIDS 19, pp.367-369

5 CDC (2010), Sexually Transmitted Diseases Treatment

Guidelines, MMWR, 59 No RR-12

6 Kelly AP, Taylor SC, (2009), Genital warts, Dermatology for

Skin of Color The McGraw-Hill Companies, Inc, pp.395-396

7 Kirnbauer R, Lenz P et al (2008), Human Papillomavirus,

Bolognia: Dermatology, 2nd ed., 1,chapter 78, Elsevier Inc

8 Sherrard J, Riddell L (2007), Comparison of the effectiveness of commonly used clinic-based treatments for external genital

warts, International Journal of STD & AIDS, 18, pp.365-368

9 Ston KM, Becker TM, et al (1990), Treatment ofexternal genital warts: a randomised clinical trial comparingpodophyllin,

cryotherapy, and electrodesiccation, Genitourin Med, 66,

pp.16-19

Ngày đăng: 21/01/2020, 17:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w