1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả điều trị viêm nha chu đối với kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2

7 77 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 266,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, bệnh đái tháo đường và viêm nha chu khá phổ biến. Kiểm soát đường huyết có thể cải thiện bệnh nha chu và ngược lại, kiểm soát nhiễm khuẩn mô nha chu giúp cải thiện việc kiểm soát đường huyết. Vì vậy, nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của điều trị viêm nha chu đối với kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2.

Trang 1

HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM NHA CHU ĐỐI VỚI KIỂM SOÁT

ĐƯỜNG HUYẾT Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2

Vũ Thị Thúy Hồng*, Nguyễn Thị Hồng**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Ngày nay, bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) và viêm nha chu (VNC) khá phổ biến Kiểm soát đường

huyết có thể cải thiện bệnh nha chu và ngược lại, kiểm soát nhiễm khuẩn mô nha chu giúp cải thiện việc kiểm soát đường huyết

Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của điều trị VNC đối với kiểm soát đường huyết ở bệnh

nhân ĐTĐ típ 2

Phương pháp: Với thiết kế nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng mù đơn có nhóm chứng, mẫu nghiên cứu gồm

60 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 và VNC được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm Tất cả bệnh nhân được hướng dẫn vệ sinh răng miệng, riêng nhóm can thiệp còn được kê toa doxycycline 100mg/ngày dùng 7 ngày, cạo vôi răng và xử lý mặt gốc răng Các số liệu thu thập gồm chỉ số mảng bám PI, chỉ số nướu GI, độ sâu túi PPD, độ mất bám dính lâm sàng CAL, chảy máu nướu khi thăm khám BOP và giá trị HbA1c được ghi nhận vào lúc khám ban đầu và sau 3 tháng

Kết quả: Sau 3 tháng, thay đổi có ý nghĩa các chỉ số GI, PPD, BOP và giá trị HbA1c trong nhóm can thiệp,

trong khi ở nhóm chứng sự thay đổi các chỉ số này không đáng kể

Kết luận: Việc điều trị nha chu không phẫu thuật kết hợp sử dụng kháng sinh không những cải thiện tình

trạng nha chu mà còn góp phần nâng cao việc kiểm soát biến dưỡng đường trên BN ĐTĐ típ 2

Từ khoá: Đái tháo đường típ 2, viêm nha chu, kiểm soát biến dưỡng đường huyết

ABSTRACT

THE EFFECT OF PERIODONTAL TREATMENT ON GLYCEMIC CONTROL IN TYPE 2 DIABETES

PATIENTS

Vu Thi Thuy Hong, Nguyen Thi Hong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - Supplement of No 2 - 2013: 110 - 116

Background: At present, diabetes mellitus and periodontitis are quite common diseases Glycaemic control

can make periodontal status better, and in contrast, periodontal disease can improve glycaemic control

Objectives: The aim of the present study was to investigate the effect of periodontal treatment on glycemic

control in type 2 diabetes mellitus (DM) patients

Material and methods: In this controlled single- blind randomized clinical trial, 60 patients with type 2

DM and periodontitis were selected Subjects were randomly assigned into two groups All patiens received oral

hygiene instructions, the treatment group received full-mouth scaling and root planing combined with systemic doxycycline 100mg/day for 7 days Data collection included plaque index (PI), gingival index (GI), probing pocket depth (PPD), clinical attachment levels (CALs), bleeding on probing (BOP) and glycated haemoglobin (HbA1c) were recorded at baseline and 3 rd month

Results: A statistically significant effect could be demonstrated for PlI, GI, PPD and BOP for the treatment

* Bệnh viện đa khoa khu vực Thủ Đức, **Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược TP.HCM

Trang 2

group HbA1c levels in the treatment group decreased significantly whereas the control group showed a slight but insignificant decrease for this parameter

Conclusions: The results of this study showed that non-surgical periodontal therapy with adjunctive

systemic antimicrobial treatment is associated with improved both periodontal health and glycaemic control in type 2 DM patients

Key words: Type 2 diabetes mellitus, periodontitis, glycemic control

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) và viêm nha chu

(VNC) hiện nay khá phổ biến trên thế giới(5) Ở

Việt Nam, tỉ lệ mắc bệnh ĐTĐ trong cả nước trên

5% Bên cạnh đó, bệnh nha chu luôn là nguyên

nhân hàng đầu gây mất răng ở người trưởng

thành, với 90% người mắc bệnh nha chu, trong

đó 32% bị VNC(11) Mối liên hệ hai chiều giữa hai

bệnh này đã được chứng minh từ lâu, kiểm soát

đường huyết có thể cải thiện bệnh nha chu, và

ngược lại, kiểm soát nhiễm khuẩn mô nha chu

giúp cải thiện việc kiểm soát đường huyết(13)

Cho đến nay, xét nghiệm HbA1c vẫn là

phương pháp tốt nhất để theo dõi mức đường

huyết ở bệnh nhân ĐTĐ(1) Huyết sắc tố kết hợp

với glucose thành glycohemoglobin trong đó

HbA1c chiếm 4-6% tổng số huyết sắc tố HbA1c

tăng trong trường hợp tăng đường huyết mạn

tính Glycohemoglobin sẽ tồn tại trong suốt đời

sống của hồng cầu (khoảng 120 ngày), do vậy

HbA1c cho biết sự kiểm soát đường huyết trong

thời gian dài Nồng độ HbA1c 5-7% cho biết đã

ổn định đường huyết tốt trong 2-3 tháng trước,

nếu HbA1c > 8% thì đường huyết không được

kiểm soát tốt(1,9)

Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về tình

trạng bệnh nha chu trên bệnh nhân ĐTĐ típ 2

Tuy nhiên, điều trị VNC có cải thiện được việc

kiểm soát đường huyết vẫn còn là một vấn đề

chưa rõ Với mong muốn cải thiện tình trạng nha

chu ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2, chúng tôi thực hiện

đề tài này với mục tiêu xác định hiệu quả của

việc điều trị VNC đối với việc kiểm soát đường

huyết được đánh giá qua xét nghiệm HbA1c ở

bệnh nhân ĐTĐ típ 2

ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Mẫu nghiên cứu

Gồm 60 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 được chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Đa Khoa Khu Vực

Thủ Đức Tp.HCM

Tiêu chí chọn mẫu

Bệnh nhân ĐTĐ típ 2 có 6,5% ≤ HbA1c ≤ 8%, được điều trị ngoại trú

Trên 40 tuổi(12) VNC có ≥ 2 răng túi nha chu từ 4-7mm hoặc

≥ 2 răng có độ mất bám dính ≥ 3mm(7) Còn nhiều hơn 10 răng và có khả năng tự chăm sóc răng

Đồng ý tham gia nghiên cứu và tái khám đúng hẹn

Tiêu chí loại trừ

Bệnh nhân ĐTĐ típ 2 kiểm soát đường huyết kém (HbA1c > 8%)

Bệnh nhân ĐTĐ típ 2 đang điều trị nội trú Bệnh nhân béo phì BMI ≥ 30

Có điều trị nha chu trong vòng 6 tháng tính đến thời điểm nghiên cứu

Bệnh nhân đủ những tiêu chí nghiên cứu được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm: nhóm can thiệp (31 bệnh nhân) và nhóm chứng (29 bệnh nhân)

Thiết kế nghiên cứu

Thử nghiệm lâm sàng mù đơn, có nhóm

chứng

Phương pháp thu thập dữ liệu

Nhân lực

2 bác sĩ Răng Hàm Mặt và 3 y sĩ răng trẻ em,

đã được huấn luyện định chuẩn tại bộ môn Nha

Trang 3

Chu của Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược

Tp.HCM Việc khám răng và nha chu trước và

sau 3 tháng do hai bác sĩ RHM khác nhau thực

hiện, không biết thông tin về tình trạng kiểm

soát đường huyết của bệnh nhân Bác sĩ đánh giá

kết quả điều trị viêm nha chu không biết bệnh

nhân thuộc nhóm can thiệp hay nhóm chứng,

không biết tình trạng nha chu trước khi điều trị

Phương tiện nghiên cứu

Xét nghiệm HbA1c tại phòng xét nghiệm

huyết học Bệnh viện Đa Khoa Khu Vực Thủ

Đức, bằng máy ADVIA 1650 Chemistry System

Máy này đã được Trung Tâm Kiểm Chuẩn Xét

Nghiệm Tp.HCM thẩm định kết quả

Khám nha chu bằng bộ dụng cụ khám răng,

cây đo túi William, mỗi bệnh nhân được chụp 6

phim quanh chóp (ở nhóm răng cửa trên, răng

cửa dưới và các răng cối lớn thứ nhất) để xác

định mức độ tiêu xương ổ răng Dụng cụ điều trị

nha chu gồm máy cạo vôi và bộ cạo vôi răng của

Densply, bộ xử lý mặt gốc răng Gracey

Các biến nghiên cứu

Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Họ tên, giới tính, tuổi, trình độ văn hóa, nghề

nghiệp, chiều cao, cân nặng, thời gian mắc bệnh

ĐTĐ, số lần chải răng trong ngày, thói quen hút

thuốc lá, loại phục hình đang sử dụng, số răng

hiện diện trên hai hàm

Bệnh ĐTĐ

Chẩn đoán bệnh ĐTĐ khi có kết quả một

trong ba xét nghiệm sau(9): (1) Đường huyết lúc

đói (sau 8 giờ không ăn) ≥ 126mg/dl (7mmol/l),

(2) Một mẫu đường huyết bất kỳ ≥ 200mg/dl

(11,1mmol/l) kết hợp với các triệu chứng của

tăng đường huyết, (3) Đường huyết 2 giờ sau khi

uống nước có chứa 75g glucose ≥ 200mg/dl

(11,1mmol/l)

Theo dõi tình trạng bệnh ĐTĐ: HbA1c

Viêm nha chu

Chẩn đoán VNC: Khi có ≥ 2 răng có túi nha

chu ≥ 4 mm hoặc ≥ 2 răng có độ mất bám dính ≥

3mm(7)

Tình trạng nha chu: Chỉ số mảng bám (PI), chỉ số nướu (GI), độ sâu túi (PPD), độ mất bám dính lâm sàng (CAL), chảy máu nướu khi thăm

dò (BOP), mức độ VNC

Các bước thực hiện

Bệnh nhân khám và điều trị ĐTĐ tại phòng khám Nội tiết được chỉ định xét nghiệm máu HbA1c và chuyển khám chuyên khoa Răng Hàm Mặt (RHM)

Một bác sĩ RHM khám răng và nha chu, chọn những bệnh nhân đủ tiêu chí chọn mẫu Sau đó, một y sĩ Răng trẻ em phân ngẫu nhiên bệnh nhân vào nhóm can thiệp hoặc nhóm chứng với

sự đồng ý của bệnh nhân, ghi nhận giá trị HbA1c trong phiếu thu thập dữ liệu

Điều trị nha chu cho nhóm can thiệp: Hướng dẫn vệ sinh răng miệng, phát kem đánh răng, bàn chải, nước súc miệng, sử dụng kháng sinh doxycycline 100mg/ngày trong 7 ngày, cạo vôi răng, xử lý mặt gốc răng Nhóm chứng được hướng dẫn vệ sinh răng miệng, phát kem đánh răng, bàn chải, nước súc miệng

Đánh giá tình trạng nha chu và biến dưỡng đường huyết sau 3 tháng: Tất cả BN tái khám sau

3 tháng, làm lại xét nghiệm HbA1c Một y sĩ răng trẻ em ghi nhận giá trị HbA1C Một bác sĩ RHM khác khám răng và nha chu, đánh giá kết quả điều trị viêm nha chu

Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm Excel

và Stata 10 Dùng kiểm định Chi bình phương và chính xác Fisher để so sánh các tỉ lệ %, kiểm định

t để so sánh các giá trị trung bình, tương quan Pearson để xác định tương quan giữa HbA1c với

GI, PPD, BOP Liên quan có ý nghĩa khi p<0,05

KẾT QUẢ Đặc điểm của bệnh nhân ĐTĐ có VNC

Mẫu nghiên cứu ĐTĐ típ 2 có VNC mạn tính gồm 31 bệnh nhân trong nhóm can thiệp và 29 bệnh nhân trong nhóm chứng Tại thời điểm ban đầu, không có sự khác biệt giữa hai nhóm về tuổi, chỉ số khối cơ thể (BMI), thời gian phát hiện ĐTĐ, thói quen hút thuốc, số lần chải răng, số

Trang 4

răng còn và loại phục hình răng (p>0,05) Tuy

nhiên, có sự khác biệt về sự phân bố giới tính

giữa nhóm can thiệp với nhóm chứng (p<0,05)

(Bảng 1)

Bệnh ĐTĐ típ 2 có VNC xảy ra ở nữ nhiều

hơn nam (tỉ lệ nam: nữ là 0,71:1), thường gặp

từ 50-70 tuổi (chiếm 70%), trung bình 58,5 ± 8,5

tuổi Đa số BN có BMI ở mức bình thường (67%), còn trung bình 23,6 ± 4,3 răng Thời gian bệnh đái tháo đường trung bình 4,61 ± 3,07 năm Về thói quen răng miệng, 10% bệnh nhân có thói quen quen hút thuốc lá, 83% chải răng 2-3 lần trong ngày

Bảng 1 Đặc điểm của 60 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 có VNC

Nhóm can thi p

Tổng

(60 ca) Giá trị p

S năm ñái tháo ñưng

(TB ± ðLC) 4,85 ± 2,64 4,36 ± 3,15 4,61 ± 3,07 0,54 (Wilcoxon)

Chi răng (tỉ lệ %)

1 lần/ngày

2 lần/ngày

3 lần/ngày

16

65

19

17

73

10

17

68

15

0,62

(Fisher)

Ph$c hình

Hàm giả (số ca)

Cố ñịnh (số ca)

2

3

3

3

5

6

0,85

(Fisher)

Tình trạng nha chu trước và sau 3 tháng

Tại thời điểm ban đầu nghiên cứu, không có

sự khác biệt về các chỉ số nha chu và HbA1c giữa

nhóm can thiệp và nhóm chứng (p>0,05) Sau 3

tháng, có một số thay đổi ở hai nhóm (Bảng 2)

Cả hai nhóm đều có sự cải thiện việc kiểm soát

mảng bám: nhóm can thiệp từ 1,81 ± 0,59 giảm

xuống 0,91 ± 0,34 rất có ý nghĩa (p<0,001), nhóm

chứng từ 1,87 ± 0,52 giảm còn 1,47 ± 0,39 có ý

nghĩa (p<0,05) Sự khác biệt giữa hai nhóm rất có

ý nghĩa (p<0,001)

Cả hai nhóm đều giảm điểm số viêm nướu:

nhóm can thiệp từ 1,09 ± 0,30 giảm còn 0,46 ±

0,22 rất có ý nghĩa (p<0,001); trong khi nhóm

chứng giảm rất ít từ 1,13 ± 0,34 còn 0,99 ± 0,26

không có ý nghĩa (p>0,05) Có sự khác biệt có ý

nghĩa về mức độ giảm viêm nướu giữa hai

nhóm (p<0,05) Cả hai nhóm đều giảm độ sâu túi

nha chu, nhóm can thiệp từ 2 ± 0,27 giảm còn

1,54 ± 0,19 rất có ý nghĩa (p<0,001); trong khi

nhóm chứng giảm rất ít từ 1,95 ± 0,23 còn 1,92 ±

0,27 không có ý nghĩa (p>0,05) Sự khác biệt về

giảm độ sâu túi nha chu giữa hai nhóm rất có ý nghĩa (p<0,001)

Tỉ lệ % vị trí nướu chảy máu khi thăm khám (BOP) đều giảm ở cả hai nhóm, tuy nhiên ở nhóm can thiệp từ 21,54 ± 13,81 giảm còn 4,62 ± 2,7 rất có ý nghĩa (p<0,001); trong khi nhóm chứng giảm rất ít từ 20,47 ± 10,52 còn 18,32 ± 10,69 không có ý nghĩa (p>0,05) Mức độ giảm chảy máu nướu giữa hai nhóm khác nhau rất có

ý nghĩa (p<0,001)

Mất bám dính lâm sàng CAL không cải thiện

ở cả hai nhóm (p>0,05)

Kiểm soát đường huyết

Sau 3 tháng, trung bình HbA1c giảm ở cả hai nhóm, nhóm can thiệp giảm 0,74% có ý nghĩa thống kê (từ 7,43% xuống còn 6,68%) (p<0,05), trong khi nhóm chứng giảm 0,17% (từ 7,40% còn 7,24%) không có ý nghĩa (p>0,05) Mức độ giảm HbA1c giữa hai nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Trang 5

Bảng 2: Các chỉ số nha chu và HbA1c trước và sau 3 tháng

PI (TB ± ðLC)

GI (TB ± ðLC)

PPD (mm) (TB ± ðLC)

CAL (mm) (TB ± ðLC)

BOP (%) (TB ± ðLC)

HbA1c (%) (TB ± ðLC)

Nhóm can thiệp

Ban ñầu 1,81 ± 0,59 1,09 ± 0,3 2 ± 0,27 2,69 ± 0,57 21,54 ± 13,81 7,43 ± 0,47 Sau 3 tháng 0,91 ± 0,34 0,46 ± 0,22 1,54 ± 0,19 2,57 ± 0,58 4,62 ± 2,7 6,68 ± 1,09

Nhóm chứng

Ban ñầu 1,87 ± 0,52 1,13 ± 0,34 1,95 ± 0,23 2,54 ± 0,66 20,47 ± 10,52 7,4 ± 0,50

Sau 3 tháng 1,47 ± 0,39 0,99 ± 0,26 1,92 ± 0,27 2,58 ± 0,62 18,32 ± 10,69 7,24 ± 0,33

: thay đổi giữa lúc ban đầu và sau 3 tháng p: giá trị p khi so sánh trước và sau 3 tháng p CT-Chứng : giá trị p khi so sánh nhóm can thiệp với nhóm chứng

Tương quan giữa thay đổi tình trạng nha

chu với HbA1C sau 3 tháng

Phân tích tương quan Pearson cho thấy

không có mối tương quan giữa sự thay đổi

HbA1c với sự thay đổi về mức độ viêm nướu

(GI), độ sâu túi nha chu (PPD) và tỉ lệ % vị trí

nướu chảy máu khi thăm khám (BOP) sau 3

tháng

BÀN LUẬN

Đây là nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng đầu

tiên ở Việt Nam về hiệu quả điều trị VNC trên

bệnh nhân ĐTĐ típ 2 Mẫu nghiên cứu gồm 60

bệnh nhân ĐTĐ típ 2 và VNC, theo dõi bệnh 3

tháng Tại thời điểm ban đầu, không có sự khác

biệt giữa nhóm chứng và nhóm can thiệp về

tuổi, trình độ văn hóa, BMI, thời gian bị ĐTĐ,

thói quen hút thuốc, số lần chải răng, phục hình

răng và số răng còn Bên cạnh đó, các chỉ số về

VNC và các chỉ số đường huyết giữa hai nhóm

cũng tương đương nhau

Về tình trạng nha chu của bệnh nhân ĐTĐ

típ 2

Tất cả 60 BN đều được hướng dẫn vệ sinh

răng miệng và phát kem đánh răng, bàn chải và

nước súc miệng Các bệnh nhân nhóm can thiệp

được điều trị VNC theo phác đồ cạo vôi, xử lý

mặt gốc răng và sử dụng kháng sinh như nhiều

nghiên cứu(6,12) Có sự cải thiện đáng kể PI, GI,

BOP và PPD sau 3 tháng ở nhóm can thiệp có điều trị VNC, trong khi ở nhóm chứng chỉ thay đổi ở chỉ số PI còn các chỉ số khác hầu như không thay đổi Kết quả đã cung cấp thêm bằng chứng cho thấy việc loại bỏ nhiễm khuẩn ở mô nha chu thông qua việc điều trị nha chu không phẫu thuật và dùng kháng sinh toàn thân là có hiệu quả

Có những ý kiến khác nhau về thời điểm đánh giá đáp ứng của việc điều trị nha chu không phẫu thuật Morrison đề nghị đánh giá sau 1 tháng(10), Badersten cho rằng việc thay đổi túi có độ sâu 4-7mm xảy ra trong 4-5 tháng(2) Việc đáp ứng tốt đối với việc điều trị nha chu trên bệnh nhân ĐTĐ trong nghiên cứu này khẳng định kết quả của những nghiên cứu trước đây(8,12) Tuy nhiên, CAL và mức độ cải thiện tình trạng nha chu trong thời gian dài thì cần nghiên cứu thêm

Về ổn định đường huyết sau khi điều trị nha chu trên bệnh nhân ĐTĐ típ 2

Mối liên hệ hai chiều giữa bệnh ĐTĐ và bệnh nha chu là một ví dụ của bệnh toàn thân ảnh hưởng lên nhiễm khuẩn răng miệng và ngược lại nhiễm khuẩn răng miệng sẽ làm trầm trọng thêm bệnh toàn thân sẵn có(3,5) Cơ chế biến

chứng VNC trong bệnh ĐTĐ có thể liên quan đến sự gắn dính glucose vào một số phân tử lớn (như protid, lipid, acid nucleic), tạo thành những

Trang 6

sản phẩm cuối cùng glucose hóa tích cực (AGE)

Khi các thụ thể của đại thực bào kết hợp với

những sản phẩm cuối cùng này sẽ thay đổi kiểu

hình, sinh ra nhiều cytokin viêm như interleukin

IL-1, IL-6 và TNF-α Các IL-1 hoạt hóa các

lymphô bào B và T, TNF-α gây tiêu xương, IL-6

kích thích sản sinh các hủy cốt bào làm tăng tiêu

xương(3) Mặt khác, trong VNC, các cytokin viêm

cũng được phóng thích ra, trong đó TNF-α giữ

vai trò quan trọng nhất, có tác dụng làm tăng đề

kháng với insulin trong bệnh ĐTĐ típ 2, làm khó

kiểm soát đường huyết Khi VNC được điều trị,

sẽ làm giảm các chất AGE, TNF-α, HbA1c(4)

Hiện nay, ĐTĐ được xem là một yếu tố

nguy cơ của bệnh nha chu, và bệnh nha chu

ảnh hưởng đến việc kiểm soát đường huyết

trong bệnh ĐTĐ(14) Do vậy, đối với bệnh nhân

ĐTĐ và VNC, phác đồ điều trị nha chu phụ

thuộc phần lớn vào việc kiểm soát đường

huyết Trong những biện pháp tại chỗ, đầu

tiên vẫn là những biện pháp vệ sinh cá nhân

bao gồm chải răng, chải niêm mạc, dùng chỉ

nha khoa và nước súc miệng diệt khuẩn để

làm giảm mảng bám và viêm nướu Kết hợp

cạo vôi răng, xử lý mặt gốc răng và sử dụng

kháng sinh sẽ cải thiện tình trạng nha chu và

việc kiểm soát đường huyết ở những bệnh

nhân này(6,8,13) Tuy nhiên, không phải tất cả

nghiên cứu cho thấy HbA1c được cải thiện sau

khi điều trị nha chu, mà có khi chỉ cải thiện

được tình trạng bệnh nha chu(12) Mục tiêu

chính của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả

của điều trị nha chu lên khả năng ổn định

đường huyết trên bệnh nhân ĐTĐ típ 2 Cùng

với hiệu quả điều trị VNC ở nhóm can thiệp,

kết quả HbA1c cũng đã giảm đáng kể 0,74%

sau 3 tháng (p<0,05), trong khi nhóm chứng

chỉ giảm 0,17% (p>0,05)

Tuy nhiên, phân tích tương quan Pearson

cho thấy không có mối tương quan giữa sự thay

đổi HbA1c với sự thay đổi GI, BOP và PPD Như

vậy, mặc dù tình trạng nha chu và đường huyết

ở nhóm can thiệp sau 3 tháng điều trị nha chu có

cải thiện hơn so với nhóm chứng, nhưng nghiên

cứu này chưa thể kết luận việc cải thiện mức độ

ổn định đường huyết sau 3 tháng điều trị VNC

là do hiệu quả của việc giảm viêm nhiễm nha chu Sự không tương quan giữa mức độ cải thiện tình trạng nha chu với mức độ cải thiện đường huyết trong nghiên cứu này phản ánh những thay đổi trong kiểm soát đường huyết có thể do những yếu tố khác hơn là những thay đổi trong VNC Sự kiểm soát biến dưỡng đường phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, không chỉ VNC mà còn liên quan với những yếu tố quan trọng khác như chế độ dinh dưỡng, việc tập thể dục(9) Nếu trước đây người ta coi biến chứng của ĐTĐ là một điều đương nhiên thì ngày nay nhiều nghiên cứu cho thấy kiểm soát đường huyết chặt chẽ có thể làm biến chứng ít xảy ra hơn, chỉ cần HbA1c giảm 0,9% đã giảm được hầu hết các biến chứng liên quan đến ĐTĐ(9)

KẾT LUẬN

Việc điều trị nha chu bao gồm vôi răng, xử lý

mặt gốc răng, kết hợp sử dụng kháng sinh không những cải thiện tình trạng nha chu mà còn góp phần nâng cao việc kiểm soát biến dưỡng đường trên bệnh nhân ĐTĐ típ 2

Cần tiếp tục nghiên cứu dọc, cỡ mẫu lớn hơn, dân số mẫu đồng nhất hơn, thử nghiệm lâm sàng với thời gian theo dõi dài hơn để đánh giá chính xác quan hệ nhân quả của mối liên hệ hai chiều giữa bệnh nha chu với bệnh ĐTĐ và để khẳng định hiệu quả của việc điều trị nha chu trên việc kiểm soát đường huyết

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 American Diabetes Association (2001) Report of the expert committee on the diagnosis and classification of diabetes mellitus Diabetes Care, 24(1): 5-20

2 Badersten A, Nilveus R, Egelberg J (1981) Effect of nonsurgical periodontal therapy J Clin Periodontol, 8: 57-72

3 Bjeland S, Bray P, Gupta N, Hirsch R (2002) Diabetes and periodontitis Australian Dent J, 47(3): 202-207

4 D’Aiuto F, Nibali L, Parkar M, Suvan J, Tonetti MS (2005) Short-term effects of intensive periodontal therapy on seruminflammatory markers and cholesterol J Dent Res, 84: 269-273

5 Debora C (2002) The relationship between diabetes and periodontal disease J Can Dent, 68(3): 161-164

6 Huỳnh Anh Lan (2010) Viêm nha chu và đái tháo đường, mối tương tác và ứng dụng trong thực hành RHM Bản tin Răng

Trang 7

Hàm Mặt, 4: 18-23

7 Janket SJ, Wightman A, Baird AE, Van Dyke TE, Jones JA

(2005) Does periodontal treatment improve glycemic control

in diabetic patients? A meta-analysis of intervention studies J

Dent Res, 84(12): 1154-1159

8 Jones JA, Miller DR, Wehler CJ, Rich SE, Krall-Kaye EA,

McCoy LC, Christiansen CL, Rothendler JA, Garcia RI (2007)

Does periodontal care improve glycemic control? The

Department of veterans affairs dental diabetes study J Clin

Periodontol, 34: 46-52

9 Kiran M, Arpak N, Unsal E, Erdogan MF (2005) The effect of

improved periodontal health on metabolic control in type 2

diabetes mellitus J Clin Periodontol, 32: 266-272

10 Mai Thế Trạch, Nguyễn Thy Khuê (2007) Bệnh đái tháo

đường In: Nội tiết học đại cương, Nhà xuất bản Y Học, chi

nhánh TP HCM, tr.467-504

11 Morrison EC, Ramfjord SP, Hill RW (1980) Short term effects

of initial, nonsurgical periodontal treatment (hygienic phase) J Clin Periodontology, 7: 199-211

12 Nguyễn Cẩn, Ngô Đồng Khanh (2007) Phân tích dịch tễ bệnh sâu răng và nha chu ở Việt Nam Tạp chí Y học TP HCM, 11(3): 144-149

13 Promsudthi A, Pimapansri S, Deerochanawong C, Kanchanavasita W (2005) The effect of periodontal therapy on uncontrolled type 2 diabetes mellitus in older subjects Oral Dis, 11: 293-298

14 Seppala B, Seppala M, Ainamo J (1993) A longitudinal study

on insulin-dependent diabetes mellitus and periodontal disease J Clin Periodontol, 20: 161-165

15 Tervonen T, Knuuttila M, Pohjamo L, Nurkkala H (1991) Immediate response to nonsurgical periodontal treatment in subjects with diabetes mellitus J Clin Periodontology, 18:

65-68

Ngày đăng: 21/01/2020, 17:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w