1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát một số yếu tố dịch tễ học liên quan tới u trung mạc ác tính màng phổi

6 74 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 453,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết đề cập về vấn đề: U trung mạc màng phổi là một bệnh lý hiếm gặp và thường có liên quan với tiền sử có tiếp xúc với amiăng lâu dài. Gần đây người ta còn thấy có liên quan tới virus simian 40 (SV‐ 40). Việc xác định có liên quan tới tiếp xúc với amiăng dựa vào bệnh sử và tìm thể amiăng trong mô bệnh phẩm giải phẫu bệnh.

Trang 1

KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ DỊCH TỄ HỌC   LIÊN QUAN TỚI U TRUNG MẠC ÁC TÍNH MÀNG PHỔI 

Nguyễn Sơn Lam*, Vũ Thị Hiếu*, Nguyễn Huy Dũng*, Nguyễn Hữu Lân*, Lê Tự Phương Thảo** 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: U trung mạc màng phổi là một bệnh lý hiếm gặp và thường có liên quan với tiền sử có tiếp xúc

với amiăng lâu dài Gần đây người ta còn thấy có liên quan tới virus Simian 40 (SV‐ 40) Việc xác định có liên quan tới tiếp xúc với amiăng dựa vào bệnh sử và tìm thể amiăng trong mô bệnh phẩm giải phẫu bệnh Chẩn đoán có liên quan tới SV‐40 dựa vào nhuộm hóa mô miễn dịch tìm kháng nguyên SV‐40 dòng T lớn

Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu thống kê mô tả Khảo sát bằng phỏng vấn bệnh nhân và khảo sát mẫu

bệnh phẩm tìm thể amiăng và nhuộm hóa mô miễn dịch tìm kháng nguyên SV‐40 dòng T lớn

Kết  quả:Từ tháng 1/2008 đến tháng 12/2012 tại BV Phạm Ngọc Thạch có 60 trường hợp chẩn đoán u

trung mạc màng phổi, bao gồm 29 nam, 31 nữ; với phân loại mô bệnh học: 28 trường hợp u trung mạc màng phổi ác tính dạng biểu mô (46,7%), 11 trường hợp dạng hỗn hợp (18,3%); 09 trường hợp dạng sarcôm (15%),

06 trường hợp dạng bó sợi (10%), 04 trường hợp dạng nhú biệt hóa cao (6,7%) và 02 trường hợp UTMP dạng bất sản (3,3%) Có yếu tố liên quan tiếp xúc amiăng: 22 trường hợp (44,4%) Chẩn đoán xác định có thể amiăng trong mô bệnh phẩm: 12 trường hợp (20%) Sự hiện diện kháng nguyên SV‐40 dòng T lớn: 11 trường hợp(18,3%) Chỉ có 01 trường hợp (2,2%) có cả hai yếu tố: thể amiăng và SV‐40 Và có 16 trường hợp (26,7%) không xác định yếu tố dịch tế nào

Kết luận: Qua 60 ca u trung mạc màng phổi, bước đầu đưa ra cảnh báo về yếu tố gây bệnh trên u trung

mạc màng phổi, bao gồm: tiếp xúc lâu dài với amiăng và có thể do nhiễm virus Simian 40

Từ khóa: u trung mạc màng phổi, amiăng, virus Simian 4

ABSTRACT 

IN MALIGNANT PLEURAL MESOTHELIOMA

Nguyen Son Lam, Vu Thi Hieu, Nguyen Huy Dung, Nguyen Huu Lan, Le Tu Phuong Thao 

 * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 167 ‐ 172 

Objects: Pleural Mesothelioma is a rare disease and often associated with a history of long‐term exposure to

asbestos Recently, It’s related to Simian virus 40 (SV‐40) The determination is related to exposure to asbestos based on clinical history and possible asbestos in tissue pathology specimens Diagnosis related to SV‐40 based on immunohistochemical staining The Simian Virus 40 Large T Antigen

Research  Methods: Retrospective descriptive statistics Survey by interviewing patients and pathological

examine specimens can find asbestos and immunohistochemistry with The Simian Virus 40 Large T Antigen.

Results: From Jan, 2008 to Dec, 2012 at the Pham Ngoc Thach Hospital, we have take diagnosis of 60 cases

of malignant pleural mesothelioma, including 29 men and 31 women, with histopathological classification: 28 cases of epitheliod malignant pleural mesothelioma (MPM) (46.7%), 11 cases with biphasic MPM (18.3%), 09 cases with sarcomatoid MPM (15%), 06 cases with Desmoplastic MPM (10%), 04 cases with Well‐ Differentiated Papillary Mesothelioma (6.7%) and 02 cases with Anaplastic MPM (3.3%) Elements related to

*Bệnh Viện Phạm Ngọc Thạch, **Bộ Môn Nội Thần Kinh – ĐH Y Khoa Phạm Ngọc Thạch 

Tác giả liên lạc: Ths.Bs.Nguyễn Sơn Lam  ĐT: 0913148308 Email: drnsl1963@yahoo.com.vn

Trang 2

contact asbestos: 22cases (44.4%) Confirm the diagnosis of asbestos in tissue specimens: 12 cases (20%) Presence of the Simian Virus 40 Large T Antigen: 11 cases (18.3%) Only one case (1.7%) with both two factors positive asbestos and SV‐40 And having 16 cases (26.7%) did not identify epidemiological factors

Conclusion: Through the study series cases of Malignant Pleural Mesothelioma, initially issued a warning

about the causative factors in those tumors, including long‐term exposure to asbestos and can be caused by infections with Simian virus 40

Keywords: mesothelioma, Asbestos, Simian Virus 40

ĐẶT VẤN ĐỀ  

U trung mạc bệnh lý hiếm gặp và thường có 

liên quan với tiền sử có tiếp xúc với amiăng thời 

gian dài. Bệnh phát triển từ tế bào trung mạc của 

các  màng  lót  ở  cơ  thể:  màng  phổi,  màng  bụng, 

màng  tim.  Nhưng  màng  phổi  hay  gặp  nhất  và 

được gọi là u trung mạc màng phổi. Tuy nhiên, 

u  trung  mạc  màng  phổi  cũng  là  một  bệnh  lý 

hiếm gặp ở lồng ngực. 

U  trung  mạc  lần  đầu  tiên  được  ghi  nhận 

1870 và mãi đến năm 1960 người ta xác định mối 

liên  quan  giữa  amiăng  và  u  trung  mạc  màng 

phổi  được  báo  cáo  tại  Nam  Phi.  Tuy  nhiên  có 

nhiều trường hợp không tìm thấy được mối liên 

quan này. Theo nhiều báo cáo trên y văn, người 

ta  nhận  thấy  u  trung  mạc  màng  phổi  có  liên 

quan với tình trạng phơi nhiễm Virus Simian 40 

(SV‐40), đây là 1 trong 40 virus bị nhiễm ở tế bào 

thận  khỉ  Macacus  đã  dùng  để  sản  xuất  vaccine 

bại  liệt  sống  vào  những  năm  1960.  Mặt  khác 

chuỗi  gen  SV‐40  đã  được  xác  định  trong  nhiều 

loại  u  ác  tính  khác  như:  ung  thư  não,  sarcôm 

xương, lymphôm không Hodgkin và có thể trên 

50% u trung mạc màng phổi. 

Qua những vấn đề còn chưa biết về mối liên 

quan một số yếu tố dịch tễ học đối với u trung 

mạc màng phổi, chúng tôi thực hiện với các mục 

tiêu sau: 

‐  Khảo  sát  yếu  tố  phơi  nhiễm  amiăng  qua 

điều  tra  bệnh  sử  và  qua  các  kỹ  thuật  thăm  dò 

chẩn đoán của chuyên ngành giải phẫu bệnh. 

‐ Khảo sát yếu tố phơi nhiễm SV‐40 bằng kỹ 

thuật nhuộm hoá mô miễn dịch. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng nghiên cứu 

Các bệnh nhân được chẩn đoán xác định u  trung mạc màng phổi bằng giải phẫu bệnh hoá 

mô miễn dịch tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch 

từ đầu tháng 1 năm 2008 đến hết tháng 12 năm 

2012. 

Phương pháp nghiên cứu 

Hồi cứu thống kê mô tả loạt ca 

Tiêu chuẩn chọn mẫu 

Những  bệnh  nhân  u  trung  mạc  màng  phổi  được chẩn đoán: 

‐ Còn mẫu bệnh phẩm mô học vùi nến có thể  tiến hành khảo sát thêm về hoá mô miễn dịch. 

‐  Có  thể  liên  lạc  dễ  dàng  (địa  chỉ  cụ  thể,  số  điện thoại, email). 

‐  Bệnh  nhân  hay  người  nhà  đồng  ý  phỏng  vấn: trực tiếp hay qua thư từ, email, điện thoại.  

Tiêu chuẩn loại trừ 

Mẫu bệnh phẩm mô học vùi nến không thể  khảo  sát  thêm  (quá  nhỏ  hay  không  còn  mô  u)  hoặc  không  liên  lạc  được  với  bệnh  nhân  và  người nhà của bệnh nhân.  

Cách bước tiến hành 

Tìm các bệnh nhân được chẩn đoán u trung  mạc bằng hoá mô miễn dịch. 

Xem kiểm tra lại mẫu mô bệnh phẩm. 

Mượn hồ sơ bệnh án điều trị và liên lạc với  bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân để phỏng  vấn tìm yếu tố bệnh sử tiếp xúc với chất amiăng  hay các sản phẩm từ amiăng. Trong đó có nhiều  ngành sản xuất như: 

‐  Xây  dựng:  sản  xuất  tấm  lợp  sợi  xi  măng 

Trang 3

‐  Sản  xuất  vật  liệu  cách  âm,  nhiệt,  nồi  hơi, 

má phanh. 

‐  Sản  xuất  gạch  xây  dựng  ceramic,  gốm 

trang trí, vật liệu xây dựng… 

‐ Sửa chữa và đóng tàu thủy. 

‐ Sản xuất phân lân. 

‐ Khai thác mỏ. 

Xác  định  thể  amiăng  trong  mẫu  bệnh  học 

bằng các kỹ thuật chẩn đoán: 

‐ Tế bào học: qua dịch màng phổi, dịch rửa 

phế quản‐phế nang. 

‐ Mô học: qua các mẫu bệnh phẩm sinh thiết 

qua soi phế quản (xuyên thành phế quản), sinh 

thiết  màng  phổi  bằng  kim  (Abrams,  Castelain), 

sinh  thiết  màng  phổi  qua  nội  soi  màng  phổi, 

sinh  thiết  mô  phổi  qua  nội  soi  lồng  ngực  dưới 

màn  hình  video  (VATs),  sinh  thiết  phổi  dưới 

hướng dẫn của CT. 

Xác định tình trạng phơi nhiễm SV 40 bằng 

phương  pháp  nhuộm  hóa  mô  miễn  dịch:  với 

chất đánh dấu đặc hiệu với kháng thể đơn dòng 

của chuột có tên và mã số SV40 Large T Antigen 

Ab‐1  (Clone  Pab101).  Kháng  nguyên  của  virut 

Simian dòng T lớn giữ vai trò quan trọng trong 

sự sao chép và nhân đôi của loại virus này được 

điều  chế  bằng  các  kỹ  thuật  Western  Blotting, 

miễn  dịch  huỳnh  quang  của  hãng  Thermo 

Scientific  Labvision.  Chúng  tôi  đánh  giá  độ 

dương  tính  của  chất  đánh  dấu  này  qua  thang 

điểm  của  Allred  với  độ  dương  tính  từ  1  –  3 

điểm. 

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 

Số liệu tổng quát 

Tổng số ca: 60 ca. 

Giới tính: Nam: 29 ca ‐ Nữ: 31 ca (Tỉ lệ Nam: 

Nữ # 1:1). 

Tuổi trung bình mắc bệnh: 59 ± 15 tuổi. 

Bảng 1: So sánh tỉ lệ giới tính và độ tuổi mắc bệnh

Tuổi trung bình (Tuổi)

Nam (%)

Nữ (%)

Nationl Center for Heath Statistics USA (1999)

(86,9%)

33 ca (13,1%)

Y Suzuki và cs (2001) 58,8 (Tuổi

bệnh nhân 50-79 tuổi)

92,3% 7,7%

A.P Chahinian và cs

Cesar A.Moran (2007) > 50 Tỉ lệ Nam/Nữ 3:1 Richard W Light (2007) Đa số > 60 Tỉ lệ Nam/Nữ # 6:1 Nghiên cứu tại BV.PNT

Kết  quả  cho  thấy  độ  tuổi  trung  bình  mắc  bệnh  của  bệnh  nhân  tại  BV.  Phạm  Ngọc  Thạch  thấp hơn đa số các nghiên cứu khác (P = 0,012‐ 0,036).  Điều  này  có  thể  do  các  yếu  tố  việc  tiếp  xúc  tác  nhân  gây  bệnh  sớm  và  nồng  độ  bụi  amiăng  cao  trong  môi  trường  sống.  Tỉ  lệ  bệnh  nhân nam và nữ mắc phải cũng khác biệt rõ rệt 

so với các nghiên cứu khác trên thế giới: đa số là  bệnh  nhân  nam.  Trong  khi  đó  nghiên  cứu  của  chúng tôi số bệnh nhân nam và nữ tương đương  với nhau (P < 0,001). 

Phân  loại  mô  học  u  trung  mạc  màng  phổi  trong nghiên cứu: 

‐  U  trung  mạc  ác  tính  dạng  hỗn  hợp:  11  ca  (18,3%). 

‐  U  trung  mạc  ác  tính  dạng  biểu  mô:  28  ca  (46,7%). 

‐  U  trung  mạc  ác  tính  dạng  sarcôm:  09  ca  (15%).  

Dạng biến thể: u trung mạc dạng bó sợi: 06 

ca (10%). 

Các loại khác: 10%. 

U trung mạc ác tính biệt hoá cao dạng nhú: 

04 ca (6,7%). 

U  trung  mạc  ác  tính  dạng  bất  sản:  02  ca  (3,3%) 

Trang 4

Kết  quả  phân  loại  mô  học  các  u  trung  mạc 

phát hiện tại BV. Phạm Ngọc Thạch cho thấy đa 

số là loại  u  trung  mạc  dạng  biểu  mô,  còn  lại  là 

những  loại  mô  học  khác.  Nhận  định  này  cũng 

tương tự như kết luận của các nghiên cứu khác 

trên thế giới(2,3,9,12,13,18). Tuy nhiên, tỉ lệ loại mô học 

này có cao hơn và có khác biệt so với kết quả tại 

BV. Phạm Ngọc Thạch (P = 0,0131 – 0,032 < 0,05). 

Việc  đánh  giá  đúng  phân  loại  mô  học  các  u  trung  mạc  cũng  rất  quan  trọng  vì  điều  này  có  ảnh hưởng đến tiên lượng của bệnh: loại u trung  mạc dạng biểu mô có tiên lượng tốt nhất trong  tất cả các loại u trung mạc, còn loại u trung mạc  dạng sarcôm đặc biệt là loại  sarcôm  mạch  máu  màng phổi có tiên lượng xấu hơn(2,3,9,11,12,13,16). 

Bảng 2: So sánh phân bố loại mô học của u trung mạc

U trung mạc dạng biểu mô

U trung mạc dạng sarcôm

U trung mạc dạng hỗn

hợp

Các u trung mạc dạng khác

Kei Kushitani va cs (2006)

(N/C 90 ca u trung mạc)

Hoda M.Ismail và cs (2006)

(N/C 61 ca u trung mạc)

Các yếu tố liên quan tới amiăng  

Số  trường  hợp  phát  hiện  phơi  nhiễm  với 

amiăng  qua  điều  tra  dịch  tễ  học  (phỏng  vấn 

bệnh  nhân  hay  người  nhà  bệnh  nhân):  22  ca 

(36,7%). 

Số  trường  hợp  phát  hiện  thể  amiăng  trong 

các mẫu  bệnh  phẩm:  12  ca  (20%).  Trong  đó  chỉ 

có  1  ca  có  thể  amiăng  trong  mô  sinh  thiết  phổi 

qua nội soi dưới màn hình video và 11 ca phát 

hiện trong dịch rửa phế quản‐phế nang. 

Số  trường  hợp  vừa  phát  hiện  qua  điều  tra 

dịch  tễ  lẫn  phát  hiện  qua  xét  nghiệm  các  mẫu 

bệnh phẩm: 2 ca (3,3%). 

Tổng  số  ca  có  yếu  tố  phơi  nhiễm  với 

amiăng hay còn gọi là có liên quan tới amiăng: 

32 ca (53,3%). 

Yếu tố dịch tễ quan trọng nhất là có tiếp xúc 

với amiăng và thường xuất hiện sau nhiều năm 

tiếp xúc (> 10 năm). Tuy nhiên, chỉ có khoảng 2‐

10% trường hợp phơi nhiễm amiăng lâu ngày và 

nặng phát triển thành u trung mạc, nhưng có thể 

hơn 80% bệnh nhân u trung mạc màng phổi có  tiền  sử  phơi  nhiễm  amiăng(2,5,11,10,20).  Phơi  nhiễm  nghề  nghiệp  thường  là  thợ  hàn  ống  nước,  ống  hơi,  công  nhân  xây  dựng  nặng  hay  công  nghệ  đóng tàu… Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất 

cả các mẫu bệnh phẩm tìm thấy sự hiện diện của  thể amiăng bao gồm mẫu sinh thiết mô phổi và  qua dịch rửa phế quản phế nang. Điều này cho  thấy thể amiăng chỉ nằm trong nhu mô phổi chứ  không  thâm  nhiễm  vào  mô  màng  phổi.  Tổn  thương ở màng phổi tạo sự tân sinh khối u phù  hợp  với  lý  thuyết  cảm  ứng  phôi  gây  ra.  Các  nhận  định  trên  cũng  phù  hợp  với  các  nghiên  cứu  và  nhận  xét  trước  đây  về  ảnh  hưởng  của  amiăng  trên  bệnh  lý  u  trung  mạc  màng  phổi(2,3,4,12,13,15,18). Tổng số ca có yếu tố tiếp xúc với  amiăng qua điều tra dịch tễ và qua các kỹ thuật  chẩn đoán lâm sàng trong nghiên cứu của chúng  tôi  là  32  ca  (53,3%),  số  liệu  này  tương  đương  hoặc thấp hơn một số nghiên cứu khác trên thế  giới(5,9,11,13,20). 

Hiện diện Virus SV‐40 

Trang 5

Trong  nghiên  cứu  cùa  chúng  tôi  có  tổng 

cộng  11  ca  (18,3%),  đều  được  thực  hiện  bằng 

phương  pháp  nhuộm  hoá  mô  miễn  dịch  trên 

mẫu  mô  sinh  thiết  màng  phổi  (sinh  thiết  mù 

bằng  kim  Abrams  hay  Castelain;  sinh  thiết  qua 

nội soi màng phổi). 

Tình  trạng  phơi  nhiễm  SV40  do  dùng 

vaccine  ngừa  bại  liệt  uống  đựơc  sản  xuất  từ 

trước  1960  đã  được  các  nhà  khoa  học  báo  cáo. 

Các vaccine sản xuất sau 1961 đã được xác nhận 

an  toàn  không  có  nhiễm  SV40(1,6,10,14,17).  Các 

trường  hợp  của  chúng  tôi  ghi  nhận  có  nhiễm 

SV40  trên  hóa  mô  miễn  dịch  qua  khảo  sát  gần 

như không ai biết mình có dùng vaccine bại liệt 

sống,  mặt  khác  vào  thập  niên  1960  việc  tiêm 

chủng mở rộng tại Việt nam gần như chưa phát 

triển rộng rãi. Trong loạt bệnh này, bệnh nhân ở 

lứa tuổi từ 44‐59 tuổi (có khả năng dùng vaccine 

bại  liệt  sống  thập  niên  1960)  chỉ  ghi  nhận  có  2 

bệnh  nhân  có  biểu  hiện  phơi  nhiễm  SV‐40  trên 

lam  kính  nhuộm  hóa  mô  miễn  dịch,  09  trường 

hợp  còn  lại  ở  ngoài  khoảng  tuổi  trên.  Có  lẽ 

những trường hợp phơi nhiễm SV‐40 của chúng 

tôi  là  do  tiếp  xúc  virus  trong  môi  trường  sống. 

Tuy  số  lượng  phơi  nhiễm  SV‐40  của  chúng  tôi 

thấp, nhưng gợi ý cho chúng ta biết có khả năng 

có  tình  trạng  phơi  nhiễm  SV‐40  trong  cộng 

đồng. 

Một  số  các  tác  giả  khác  còn  làm  thêm  PCR 

của SV 40 (Polymerase Chain Reaction for SV‐40 

DNA) để xác định tình trạng phơi nhiễm SV 40. 

Galateau‐Salle và Dhaene(7) cùng các cộng sự đã 

báo cáo kết quả hóa mô miễn dịch SV‐40 âm tính 

48%  và  giải  trình  tự  DNA  của  SV‐  40  bằng 

phương pháp PCR âm tính 46% các trường hợp 

u  trung  biểu  mô  ác  tính.  Cũng  vậy  Soon‐Hee 

Jung và Cs(17) không phát hiện có hiện diện SV‐

40 trong u  trung  mạc  màng  phổi  tại  Hàn  Quốc 

với kỹ thuật PCR‐RealTime và nuôi cấy virus(6). 

Ngày  nay  người  ta  đã  phát  hiện  SV‐40 

không  chỉ  có  trong  ung  thư  trung  mạc  mà  còn 

liên quan tới một số ung thư khác như u sao bào 

ở  não,  sarcome  xương,  lymphôm  không 

Hodgkin(1,6,7,8,14,19). 

Số ca không tìm thấy yếu tố dịch tễ nào 

16 ca (26,7%). 

KẾT LUẬN 

Việc nghiên cứu điều tra các yếu tố liên quan  trong u trung mạc màng phổi đã được thực hiện 

từ lâu. Tại Việt Nam, ít có công trình nghiên cứu 

về vấn đề này, nghiên cứu của chúng tôi qua 60 

ca  u  trung  mạc  màng  phổi,  bước  đầu  đưa  ra  cảnh  báo  về  yếu  tố  gây  bệnh  trên  u  trung  mạc  màng  phổi,  bao  gồm:  tiếp  xúc  lâu  dài  với  amiăng  và  có  thể  do  nhiễm  virus  SV‐40.  Tuy  nhiên,  cần  những  nghiên  cứu  lâu  dài  và  với  những kỹ thuật chẩn đoán tốt hơn để đưa ra kết  luận  chính  xác  về  nguồn  gây  bệnh  và  đưa  ra  những khuyến cáo về dịch tễ học rộng rãi hơn.  Như những kỹ thuật tầm soát dịch tễ học trong 

dự án của Cục Vệ Sinh Môi Trường‐Bộ Y Tế: đo  nồng độ các sơi amiăng trong không khí các nhà  máy, điều tra các bệnh lý gây ra do amiăng… 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Bocchetta  M,  Miele  L,  Pass  H,  Carbone  M  (2003).  Notch‐1  Induction,  a  novel  activity  of  SV40  required  for  growth  of  SV40  transformed  human  mesothelial  cells.  Oncogene  2003,  22: 81‐89. 

2 Boutin C, Schlesser M, Frenay C, Astoul PH (1998). Malignant  Pleural Mesothelioma. Series The Pleura. Europe Respiratory  Journal, 12: 972‐981. 

3 Butchart  EG  (1999).  Contemporary  Management  of  Malignant Pleural Mesothelioma. The Oncologist, Volume 4:  488‐491. 

Mesothelioma.  In:  Mesothelioma,  Chapter  89,  Bruce  W.S.  Robinson  &  A.  Philippe  Chainian,  Martin  Dunitz  Inc.,  First  Edition: 1294‐1298. 

5 Cugell  DW,  Kamp  DW  (2004).  Asbestos  and  the  pleura:  a  review. Chest. 2004; 125: 1103‐1117. 

6 Cutrone  R,  Lednicky  J,  Dunn  G  et  al  (2005).  Some  oral  poliovirus vaccines  were  contaminated  with  infectious  SV40  after 1961. Cancer Res. 2005;65: 10273‐10279. 

7 Dhaene  K,  Verhulst  A,  Marck  EV  (1999).  SV‐40  large  T‐ Antigen  and  human  pleural  mesothelioma:  screening  by  polymerase  chain  reaction  and  tyramine‐amplified  immunohistochemistry. Virchows Arch(A) 1999; 435:1–7. 

8 Fernanda  M,  Alfredo  C,  Veronica  B,  Silvia  S  (2007).  Simian  Virus  40  in  Humans,  Section  of  Microbiology,  University  of  Ferrara,  Via  Luigi  Borsari,  46.  44100  Ferrara,  Italy,  BioMed  Central: 1‐12. 

9 John  HE  (2007).  Diagnosis  and  Management  of  Malignant  Pleural  Effusions.  Asian  Pacific  Society  of  Respirology,  Journal Complication, 13: 5‐20. 

10 Katharina  L,  Andreas  L,  Heimo  C  (2006).  Mesothelioma  Mortility  in  Europe:  Impact  of  Asbestos  Comsumption  and 

Trang 6

Simian  Virus  40,  Orphanet Journal of Rare Diseases 2006, 

BioMed Central Ltd: 1‐12. 

11 Kouki I (2010). Pathological Diagnosis of Asbestos‐Exposure‐

Related‐Diseases & Pathological Diagnosis of Mesothelioma. 

Consultancy  on  asbestos‐related  disease,  Viet  Nam,  Courses 

Training, 15‐25. 

12 Marchevsky  AM  (2004).  Differentiated  Diagnosis.  Surgical 

Pathology  of  The  Pleura.  Washington  D.C.,  College  of  of 

American Pathologist, Third Edition: 4‐10. 

13 MORAN CA & SUSTER S (2007).  Tumors  of  The  Lung  and 

Pleura.  In:  Christopher  D.M.  Fletcher,  Diagnostic 

Histopathology of Tumors, Volume 1, Third Edition, pp. 205‐

210, Churchill Livingstone, Elsevier, Boston, USA.  

14 Simsir A, Fetsch P, Bedrossian CW, Ioffe OB, Abati A (2004). 

Absence  of  SV‐40  Large  T  Antigen  (Tag)  in  Malignant 

Mesothelioma  Effusions,  Diagnostic Cytopathology, Vol 25, No

4, Wiley‐Liss Inc.: 203‐206. 

15 Soini Y, Kinnula V, Haklos K (2006). Claudins in Differential 

Adenocarcinoma of The Pleura. Journal of Clinical Pathology, 

V.59(3): 250‐254. 

16 Soon HJ, Minseob E et al (2011). No detection of simian virus 

40  DNA  in  malignant  mesothelioma  tissues  in  Korea‐Basic  and  Applied  Pathology  Volume  4,  Issue  Supplement  s1,  Article first published online: 1 Feb, 2011, Abstract 3718. 

17 Strickler  HD,  Goedert  JJ  et  al  (2003).  Trends  in  U.S.  pleural  mesothelioma  incidence  rates  following  simian  virus  40  contamination of early poliovirus vaccines. J Natl Cancer Inst.  2003;95:38‐45. 

18 Suzuki  Y  (2001).  Pathology  of  Human  Malignant  Mesothelioma – Preliminary Analysis of Mesothelioma Cases.  Industrial Health 2001, 39, 183‐185. 

19 Valeria B, Cristiano S, Arianna C, Cristiana P and Giorgio P 

(2010). View and review on viral oncology research, Infectious

Agents and Cancer 2010: 2‐11. 

20 Wagner  JC,  Sleggs  CA,  Marchand  P  (1960).  Diffuse  pleural  mesothelioma  and  asbestos  exposure  in  the  North  Western  Cape Province. Br J Ind Med. 1960; 17: 260‐271. 

 

Ngày nhận bài báo 09‐06‐2013 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20‐06‐2013 Ngày bài báo được đăng: 15–07‐2013 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 17:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w