1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sự tăng trưởng sọ mặt ở trẻ em Việt Nam từ 10 đến 14 tuổi theo phân tích ricketts

10 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm khảo sát sự tăng trưởng sọ mặt của trẻ em Việt Nam từ 10 đến 14 tuổi theo phân tích ricketts. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

SỰ TĂNG TRƯỞNG SỌ MẶT Ở TRẺ EM VIỆT NAM TỪ 10 ĐẾN 14 TUỔI

THEO PHÂN TÍCH RICKETTS

Lê Võ Yến Nhi*, Hoàng Tử Hùng*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát sự tăng trưởng sọ mặt của trẻ em Việt Nam từ 10 đến

14 tuổi theo phân tích Ricketts

Đối tượng và phương pháp: Đây là một nghiên cứu dọc thuần túy được thực hiện bằng cách đo đạc và

chồng phim trên 117 phim sọ nghiêng của 39 trẻ em Việt Nam (19 nam, 20 nữ) ở ba độ tuổi 10, 12 và 14 tuổi Các số đo đường thẳng và góc độ (26 số đo) được đo đạc và các bản vẽ nét trên phim của mỗi đối tượng được chồng theo phương pháp của Ricketts

Kết quả: Sự tăng trưởng của phức hợp sọ mặt ở giai đoạn từ 10 đến 12 tuổi diễn ra mạnh hơn ở giai đoạn

từ 12 đến 14 tuổi; trong đó, nữ tăng trưởng mạnh hơn nam trong giai đoạn từ 10 đến 12 tuổi, trong khi nam tăng trưởng mạnh hơn nữ trong giai đoạn từ 12 đến 14 tuổi Hầu hết các số đo về kích thước ở từng lứa tuổi của nam lớn hơn nữ: chiều dài nền sọ trước, khoảng cách từ khớp thái dương hàm đến mặt phẳng chân bướm, chiều dài cành ngang xương hàm dưới Không có sự khác biệt giữa nam và nữ về các số đo còn lại ở cả ba độ tuổi Từ

10 đến 14 tuổi, hướng tăng trưởng chung của mặt tương đối ổn định theo hướng xuống dưới và ra trước do góc trục mặt thay đổi không có ý nghĩa; cằm nhô ra trước (góc mặt tăng); xương hàm dưới xoay ra trước (góc mặt phẳng hàm dưới giảm và góc cung hàm dưới tăng); xương hàm trên duy trì tương quan với nền sọ và với xương hàm dưới tương đối ổn định (góc Ba-N-A và độ lồi mặt không đổi); tỷ lệ chiều cao giữa các tầng mặt không thay đổi; khối sọ mặt tiếp tục gia tăng kích thước (chiều dài nền sọ, chiều cao mặt phía sau, chiều dài cành ngang xương hàm dưới đều tăng) Khi chồng phim tại điểm trung tâm Pt theo mặt phẳng Ba-N, các trục mặt của ba độ tuổi trùng nhau và các điểm mốc của cấu trúc sọ mặt tăng trưởng theo mọi hướng, ngày càng xa Pt Kết quả chồng phim phù hợp và bổ sung cho kết quả đo đạc các giá trị của các đặc điểm nghiên cứu

Kết luận: Ở trẻ em Việt Nam từ 10 đến 14 tuổi, không có sự khác biệt về hình dạng của phức hợp sọ mặt

giữa nam và nữ, tuy nhiên kích thước sọ mặt của nam lớn hơn nữ Đồng thời, khối sọ mặt tăng trưởng theo mọi hướng so với tâm tăng trưởng Pt

Từ khóa: Chiều dài nền sọ trước, chiều dài cành ngang xương hàm dưới, góc mặt, góc mặt phẳng hàm

dưới, góc cung hàm dưới, độ lồi mặt, trục mặt, cao mặt toàn bộ, cao mặt dưới

ABSTRACT

THE CRANIOFACIAL GROWTH OF VIETNAMESE CHILDREN AGED 10 TO 14 YEARS

ACCORDING TO RICKETTS ANALYSIS

Le Vo Yen Nhi, Hoang Tu Hung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 2 - 2011: 21 - 30

Objectives: This study was to investigate into the craniofacial growth of Vietnamese children aged 10 to 14

years according to Ricketts analysis

Materials and method: This pure longitudinal study was conducted on 39 Vietnamese children (19 males,

20 females) at 10, 12 and 14 years-old Linear and angular measurements (26 measurements) were performed on

* Khoa RHM, Đại học Y dược TPHCM

Tác giả liên lạc: BS Lê Võ Yến Nhi ĐT: 0918595956 Email: yennhi_le@yahoo.com

Trang 2

lateral cephalometric tracings and the tracings were superimposed according to Ricketts’ method

Results: The study results showed that the growth of craniofacial complex in the period from 10 to 12 years

of age was more than that in the period from 12 to 14 years Females experienced more growth during the period from 10 to 12 years-old, and vice versa in the later period from 12 to 14 years-old Most dimensional measurements were higher in male such as the anterior cranial length, the distance from TMJ to PTV (pterygoid vertical plane) and the corpus length There was no difference between male and female on the rest of measurements at all studied ages From 10 to 14 years, growth was relatively stable in downward-forward direction due to insignificant alteration of the facial axis; the chin protruded (increased facial depth); the mandible rotated forward (reduced mandibular plane angle and increased mandibular arch); the maxilla remained unchanged relative to cranial base and the mandible was relatively stable (no change in Ba-N-A angle and convexity was observed) The ratio between facial thirds was stable; and the craniofacial complex continued to increase in size (cranial length, the posterior facial height, and the corpus length) Superimposition on Ba-N plane registered at Pt showed that the facial axis at three ages coincided and the landmarks of craniofacial structure grew in every direction increasingly away from Pt The superimposition results were in accordance with and were complementary to the measurements values of the studied characteristics

Conclusion: there was no difference in craniofacial morphology between Vietnamese male and female from

10 to 14 years old However, craniofacial dimensions were larger in male Also, the craniofacial growth was in all directions from the growth center Pt

Key words: Anterior cranial length, corpus length, facial angle, mandibular plane angle, mandibular arch,

convexity, facial axis, total facial height, lower facial height

MỞ ĐẦU

Sự tăng trưởng ở tuổi nhỏ và dậy thì có một

vai trò quan trọng trong sự phát triển răng mặt

với sự thay đổi từ bộ răng hỗn hợp sang bộ răng

vĩnh viễn, sự gia tăng tốc độ tăng trưởng của

mặt và sự khác nhau về tốc độ tăng trưởng của

xương hàm trên và xương hàm dưới Cách tốt

nhất để nghiên cứu sự tăng trưởng là theo dõi

dọc Có nhiều phương pháp phân tích sọ mặt

được áp dụng, trong đó, phân tích Ricketts

(1960) là một trong những công cụ phục vụ đắc

lực cho nghiên cứu dọc Ricketts đã xây dựng

một phương pháp đơn giản, có thể áp dụng vào

thực hành lâm sàng hàng ngày để mô tả, đánh

giá các đặc điểm của răng, xương và mô mềm,

đồng thời có thể dự báo sự tăng trưởng của

chúng trong tương lai gần và xa Các tâm điểm

hình học (CC, Pt, Xi) được dùng làm điểm tham

chiếu, giúp phân tích này có nhiều ưu điểm hơn

những phân tích sọ mặt khác do đây là những

điểm ít thay đổi nhất trong quá trình tăng

trưởng của hệ thống sọ mặt và có thể xác định

khá chính xác(7,5,4,16,19,20,27)

Trên thế giới đã có nhiều tác giả sử dụng phân tích Ricketts trong nghiên cứu và thực hành để để khảo sát các đặc điểm hình thái cũng như dự đoán sự tăng trưởng của sọ mặt như Li (2001), Matias (2004), Valdes (2004), Valente (2003) Ở Việt Nam, Lê Nguyên Lâm (2007) đã

áp dụng phân tích Ricketts trên phim sọ nghiêng

để nghiên cứu đặc điểm sọ mặt của trẻ 12 tuổi

Nhằm xác định mẫu tăng trưởng ở tuổi dậy thì của trẻ em Việt Nam và khai thác thế mạnh của phân tích Ricketts trong nghiên cứu và dự đoán tăng trưởng, chúng tôi tiến hành thực hiện

đề tài này theo giả thuyết nghiên cứu: Không có

sự khác biệt về đặc điểm hình thái nghiên cứu trên phim sọ nghiêng giữa trẻ 14 tuổi so với trẻ

10 tuổi

Mục tiêu tổng quát

Khảo sát sự tăng trưởng sọ mặt của trẻ em Việt Nam từ 10 đến 14 tuổi theo phân tích Ricketts

Trang 3

Mục tiêu chuyên biệt

(1) Xác định mẫu tăng trưởng qua so sánh

các số đo sọ mặt theo phân tích Ricketts trên trẻ

em Việt Nam theo giới tính và theo độ tuổi 10,

12 và 14, (2) công bố hình ảnh chồng phim và

kết quả về hướng tăng trưởng của các cấu trúc

sọ mặt theo các vị trí chồng phim của hai giới ở

các độ tuổi 10, 12 và 14

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu gồm 39 trẻ (19 nam và 20

nữ) tương ứng với tổng số phim nghiên cứu là

117 phim sọ nghiêng (57 phim của nam và 60

phim của nữ) Các đối tượng nghiên cứu phải có

cha mẹ là người Việt, dân tộc Kinh, tuổi từ 10

đến 14, sức khỏe bình thường, có khớp cắn hạng

I, không có chấn thương hàm mặt, sự bất hài

hòa của mặt, thói quen xấu và không có răng

mọc chen chúc Mỗi đối tượng nghiên cứu phải

có đủ cả ba phim sọ nghiêng (năm 10, 12 và 14

tuổi) đạt các tiêu chuẩn: chất lượng tốt, thấy rõ

hình ảnh của mô cứng, có đầy đủ răng và mầm

răng trên phim, răng ở tư thế lồng múi tối đa và

môi ở vị trí thư giản tự nhiên

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu dọc thuần túy trên 39 trẻ em từ

10 đến 14 tuổi

Phương pháp theo dõi dọc, định kỳ mỗi 2

năm lúc 10, 12 và 14 tuổi

Phương pháp thu thập số liệu

Tất cả phim được chụp bởi một kỹ thuật

viên tại Bộ môn Tia X, Khoa Răng Hàm Mặt,

Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh Kỹ

thuật chụp phim sọ nghiêng được chuẩn hóa

để có thể so sánh các phim đầu tiên với các

phim kế tiếp của cùng một bệnh nhân với

nhau Việc vẽ nét theo phương pháp đã được

thống nhất trên thế giới, việc xác định điểm

mốc, mặt phẳng và trục theo phân tích Ricketts

được thực hiện bởi một người duy nhất Các

đặc điểm được khảo sát trong nghiên cứu:

chiều dài nền sọ trước, chiều dài nền sọ sau về phía bên, vị trí Porion, mặt phẳng khẩu cái, độ lồi mặt, góc trục mặt, góc mặt, góc mặt phẳng hàm dưới, góc mặt phẳng khớp cắn, góc cành đứng, góc cung hàm dưới, chiều dài cành ngang xương hàm dưới, cao mặt toàn bộ, cao mặt dưới, chiều cao mặt phía sau, vị trí của răng cối lớn hàm trên, độ nhô của răng cửa hàm dưới, độ nghiêng của răng cửa hàm dưới, độ nhô của răng cửa hàm trên, độ nghiêng của răng cửa hàm trên, góc răng cửa

Đối với các kích thước, dùng thước kẹp điện

tử có độ nhạy 0,01mm Đối với các số đo góc, dùng thước đo góc chuyên dụng (Hiệu Ormco Sybron) trong chỉnh hình răng mặt Các phim sọ nghiêng của mỗi đối tượng được chồng phim theo phương pháp của Ricketts tại điểm Pt theo mặt phẳng Ba-N

Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu được nhập vào máy tính, lưu giữ

và xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 Số trung bình, độ lệch chuẩn của các số đo được tính theo mỗi độ tuổi và theo giới tính Kiểm định t-test cho hai mẫu độc lập được dùng để xác định sự khác biệt nếu có giữa các đặc tính nghiên cứu giữa: (1) nam và nữ Việt Nam ở từng thời điểm

10 tuổi, 12 tuổi và 14 tuổi, (2) nam và nữ Việt Nam với các nhóm trẻ tương ứng của các nghiên cứu khác ở cùng độ tuổi, (3) nam và nữ Việt Nam về mức độ thay đổi vị trí của các điểm mốc khi chồng phim giữa 10 và 12 tuổi, giữa 12 và 14 tuổi Sự thay đổi các tham số đo lường của trẻ ở các độ tuổi khác nhau được đánh giá bằng phân tích ANOVA một yếu tố có lặp lại kết hợp phương pháp Greenhouse-Geisser, t-test bắt cặp kết hợp phương pháp Bonferroni trong đo lường một yếu tố có lặp với p(T)<0,017

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN Mức độ tăng trưởng sọ mặt theo tuổi và theo giới

Chiều dài nền sọ trước (Cc-N) và nền sọ sau

về phía bên đều tăng có ý nghĩa thống kê ở cả nam và nữ (p<0,017) ở cả ba giai đoạn từ 10 đến

Trang 4

12 tuổi, từ 12 đến 14 tuổi và từ 10 đến 14 tuổi

Chiều dài nền sọ trước tăng chủ yếu nhờ sự hình

thành xoang trán và sự đắp xương ở mặt ngoài

xương trán, đẩy điểm Nasion về phía trước ra xa

điểm Cc Nền sọ sau về phía bên (Cp⊥PtV) tăng

tổng cộng 2,97mm ở nam và 3,58mm ở nữ về

chiều dài trong thời gian từ 10 đến 14 tuổi Do

hoạt động đắp xương ở bờ sau cành đứng,

xương hàm dưới tăng trưởng ra sau mang theo

lồi cầu, làm tăng khoảng cách giữa lồi cầu và

mặt phẳng chân bướm

Góc trục mặt tăng không có ý nghĩa ở nam

và nữ (p ≥ 0,017) trong thời gian từ 10 đến 14

tuổi, cho thấy mặt tăng trưởng ra trước và

xuống dưới theo một hướng không đổi và duy

trì tương quan ổn định với nền sọ Tương tự kết

quả nghiên cứu của Valdes (2004) trên trẻ em

Cuba, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

về góc trục mặt giữa nhóm 12 và 14 tuổi

quả nghiên cứu của Li và cộng sự (2001), góc trục mặt có thay đổi theo tuổi và ở nhóm người trưởng thành 19 tuổi (93,22°) thấp hơn có ý nghĩa so với góc này ở nhóm trẻ em 12 tuổi (95,56°) (p<0,017)(12)

Góc mặt tăng có ý nghĩa ở nam, nữ và chung cho cả hai giới từ 10 đến 14 tuổi (p<0,017) cho thấy cằm ngày càng nhô ra trước hơn Theo Ricketts, góc mặt tăng 0,33° mỗi năm Khác với kết quả nghiên cứu của Valdes (2004), góc mặt ở trẻ em Cuba tăng không có ý nghĩa thống kê Kết quả nghiên cứu của Li (2001) trên người Trung Quốc cũng không phát hiện sự thay đổi

Bảng 1: Thay đổi trung bình các số đo chiều dài nền sọ và khoảng cách từ khớp thái dương hàm đến mặt phẳng

chân bướm ở trẻ em Việt Nam từ 10 đến 12 và 14 tuổi

( 1 ) Kiểm định t cho 2 mẫu độc lập

( 2 ) Kiểm định t bắt cặp với ngưỡng xác suất có ý nghĩa khi p(T)<0,017 (phương pháp Bonferroni)

Bảng 2: Thay đổi trung bình các số đo góc trục mặt và góc mặt ở trẻ em Việt Nam từ 10 đến 12, và 14 tuổi

( 1 ) Kiểm định t cho 2 mẫu độc lập

( 2 ) Kiểm định t bắt cặp với ngưỡng xác suất có ý nghĩa khi p(T)<0,017 (phương pháp Bonferroni)

Trang 5

Bảng 3: Thay đổi trung bình các số đo ở vùng xương hàm dưới của trẻ em Việt Nam từ 10 đến 12 và 14 tuổi

( 1 ) Kiểm định t cho 2 mẫu độc lập

( 2 ) Kiểm định t bắt cặp với ngưỡng xác suất có ý nghĩa khi p(T)<0,017 (phương pháp Bonferroni)

Góc giữa mặt phẳng hàm dưới và mặt

phẳng Frankfort giảm có ý nghĩa ở nam, nữ và

chung cho cả hai giới (p<0,017) (Bảng 2 và 3)

Hoạt động đắp xương ở bờ dưới xương hàm

dưới diễn ra ở vùng phía sau nhiều hơn phía

trước, nhất là vùng góc hàm góp phần làm giảm

độ nghiêng của mặt phẳng hàm dưới so với mặt

phẳng Frankfort Kết quả nghiên cứu của

Ricketts trên trẻ người Âu cũng cho kết quả

tương tự, góc mặt phẳng hàm dưới giảm 0,3°

mỗi năm Khác với kết quả nghiên cứu của

Valdes (2004) và Li (2001), không có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê về góc mặt phẳng hàm dưới

giữa các nhóm tuổi nghiên cứu ở Cuba và Trung

Quốc(29,12)

Góc cung hàm dưới tăng có ý nghĩa ở nam,

nữ và chung cho cả hai giới (p<0,017) Như vậy,

độ phân kỳ của trục lồi cầu và trục cành ngang

xương hàm dưới giảm, xương hàm dưới càng

“vuông” hơn Nghiên cứu của Ricketts cũng cho

kết quả tương tự với góc cung hàm dưới tăng 0,5° mỗi năm Kết quả nghiên cứu của Li ở Trung Quốc cũng cho thấy góc cung hàm dưới ở người trưởng thành 19 tuổi (24,95°) lớn hơn có ý

Góc giữa mặt phẳng khớp cắn và trục càng ngang xương hàm dưới (Xi-Pm) tăng ở nam, nữ

và chung cho cả hai giới (p<0,017), chứng tỏ mặt phẳng khớp cắn tăng độ nghiêng so với nền xương hàm dưới Nghiên cứu của Ricketts cũng cho kết quả tương tự, độ nghiêng của mặt phẳng

Chiều dài cành ngang xương hàm dưới tăng

có ý nghĩa ở nam và ở nữ (p<0,017) từ 10 đến 14 tuổi (Bảng 4), chứng tỏ có sự tiêu xương ở bờ trước đi kèm với sự đắp xương ở bờ sau cành đứng làm tăng chiều dài của cành ngang và cung cấp chỗ trống cho các răng sau mọc Trong nghiên cứu của Ricketts, chiều dài này cũng tăng khoảng 1,6mm mỗi năm

Trang 6

Bảng 4: Thay đổi trung bình các số đo ở vùng xương hàm trên của trẻ em Việt Nam từ 10 đến 12 và 14 tuổi

( 1 ) Kiểm định t cho 2 mẫu độc lập

( 2 ) Kiểm định t bắt cặp với ngưỡng xác suất có ý nghĩa khi p(T)<0,017 (phương pháp Bonferroni)

Độ lồi mặt thay đổi không có ý nghĩa ở nam,

chứng tỏ xương hàm trên và xương hàm dưới di

chuyển ra trước và xuống dưới cùng mức độ

như nhau và duy trì ổn định tương quan hai

hàm trong giai đoạn từ 10 đến 14 tuổi Khác với

kết quả nghiên cứu của Ricketts, độ lồi mặt giảm

0,2mm mỗi năm ở trẻ người Âu từ 3 đến 44 tuổi

Valdes thì ghi nhận độ lồi mặt tăng có ý nghĩa ở

trẻ Cuba từ 12 đến 14 tuổi Ngược lại, Li nghiên

cứu trên người Trung Quốc thấy độ lồi mặt của

nhóm 12 tuổi lớn hơn có ý nghĩa so với nhóm 19

tuổi(2,3,9,29,12)

Khoảng cách từ mặt xa răng cối lớn thứ nhất hàm trên đến mặt phẳng chân bướm tăng có ý nghĩa thống kê (p<0,017) trong thời gian từ 10 đến 14 tuổi (Bảng 4) Điều này cho thấy có sự đắp xương ở lồi củ, làm xương hàm trên gia tăng kích thước về chiều dài để cung cấp khoảng trống cần thiết cho răng cối lớn thứ hai và thứ ba mọc lên Nghiên cứu của Valdes (2004) trên trẻ

em Cuba ở độ tuổi 12 và 14 và Li (2001) trên trẻ

em Trung Quốc ở độ tuổi 12 và 19 cũng cho kết quả tương tự

Bảng 5: Thay đổi trung bình các số đo chiều cao các tầng mặt ở trẻ em Việt Nam từ 10, đến 12 và 14 tuổi

( 1 ) Kiểm định t cho 2 mẫu độc lập ( 2 ) Kiểm định t bắt cặp với ngưỡng xác suất có ý nghĩa khi p(T)<0,017 (phương pháp Bonferroni)

Trang 7

Cao mặt toàn bộ và cao mặt dưới thay đổi

không có ý nghĩa ở nam, nữ và chung cho hai

giới (p>0,017) trong thời gian từ 10 đến 12 tuổi,

12 đến 14 tuổi và 10 đến 14 tuổi (Bảng 5) Đánh

giá sự thay đổi chiều cao các tầng mặt không thể

thực hiện qua việc khảo sát riêng rẻ cao mặt toàn

bộ hay cao mặt dưới Do hai góc này có chung

một cạnh tham chiếu là Xi-Pm, nên tỷ lệ giữa

chúng phản ánh chiều cao của tầng mặt dưới so

với chiều cao toàn mặt Theo Ricketts, chiều cao

tầng mặt dưới chiếm khoảng 76% chiều cao toàn

bộ mặt và tỷ lệ này được duy trì trong suốt quá

trình tăng trưởng bình thường của mặt Trong

nghiên cứu này, tỷ lệ giữa góc tầng mặt dưới và góc toàn mặt là từ 77-78%, tương đối ổn định trong thời gian từ 10 đến 14 tuổi Tỷ lệ này gợi ý chiều cao tầng mặt dưới ở trẻ em Việt Nam lớn

Răng cửa hàm trên tăng độ nhô có ý nghĩa

từ 10 đến 12 tuổi và từ 10 đến 14 tuổi (p<0,017) Răng cửa hàm dưới tăng có ý nghĩa về độ nghiêng trong giai đoạn từ 12 đến 14 tuổi và từ

10 đến 14 tuổi (p<0,017) (Bảng 6) Kết quả của sự thay đổi độ nhô và độ nghiêng của các răng này

là góc tạo bởi trục của răng cửa trên và dưới giảm có ý nghĩa thống kê với p<0,017 (Bảng 6)

Bảng 6: Thay đổi trung bình các số đo thể hiện tương quan của răng ở trẻ em Việt Nam từ 10 đến 12, và 14 tuổi

( 1 ) Kiểm định t cho 2 mẫu độc lập ( 2 ) Kiểm định t bắt cặp với ngưỡng xác suất có ý nghĩa khi p(T)<0,017 (phương pháp Bonferroni)

Ngoài ra, khi so sánh giữa nam và nữ ở từng

độ tuổi, hầu hết các số đo về kích thước của nam

lớn hơn nữ (p<0,05): chiều dài nền sọ trước,

khoảng cách từ khớp thái dương hàm đến mặt

phẳng chân bướm, chiều dài cành ngang xương

hàm dưới Không có sự khác biệt về hình dạng

của phức hợp sọ-mặt-răng giữa nam và nữ

(p>0,05) ở cả ba độ tuổi: hướng tăng trưởng

chung của mặt ra trước và xuống dưới ở nam và

nữ như nhau; xương hàm trên của nam và nữ có

cùng độ nhô ra trước so với xương hàm dưới;

hình dạng xương hàm dưới ở nam và nữ tương

tự nhau với cùng độ gập và xoay ra trước; các

răng cửa ở nam và nữ có cùng độ nhô, nghiêng

và trồi

Sự thay đổi do tăng trưởng thể hiện qua chồng phim

Theo phương pháp chồng phim của Ricketts, việc chồng phim được thực hiện tại điểm Pt theo mặt phẳng Ba-N, sao cho các mặt phẳng Ba-N song song hoặc trùng nhau Hình ảnh chồng phim cho thấy khối sọ mặt tăng trưởng theo mọi hướng và các điểm mốc trên các cấu trúc sọ mặt thay đổi vị trí theo hướng ngày càng xa điểm Pt Càng gần điểm này, sự thay đổi do tăng trưởng càng ít; càng ra xa điểm trung tâm, sự tăng trưởng càng nhiều, sự thay đổi càng lớn Đồng thời, các trục mặt trên phim lúc 10, 12 và 14 tuổi của mỗi trẻ gần như trùng nhau (Hình 1), phù hợp với kết quả thống kê của giá trị góc trục mặt (Bảng 4) Góc tạo bởi trục mặt và mặt

Trang 8

phẳng Ba-N thay đổi không có ý nghĩa trong độ

tuổi từ 10 đến 14 (p>0,017), nên khi chồng phim

tại Pt, ba trục mặt của ba phim sẽ trùng nhau

Hệ trục vuông góc gồm mặt phẳng Frankfort và

mặt phẳng chân bướm PtV được dùng làm

tham chiếu để xác định sự thay đổi vị trí lên

trên hay xuống dưới, ra trước hay ra sau của các

điểm mốc sọ mặt So với Pt và mặt phẳng Ba-N,

các điểm mốc chính của sọ mặt dịch chuyển

như sau:

- Điểm cằm (Gn) di chuyển ra trước và

xuống dưới theo hướng của trục mặt: góc giữa

trục mặt và nền sọ không đổi

- Tâm của cành đứng (Xi) di chuyển ra sau

và xuống dưới theo hướng của mặt phẳng

Cf-Xi: góc giữa Cf-Xi và mặt phẳng Frankfort

không đổi

- Tâm cổ lồi cầu (Dc) di chuyển ra sau và lên

trên theo hướng của trục lồi cầu

- Điểm gai mũi trước (ANS) di chuyển ra

trước và xuống dưới sao cho góc giữa N-A và

mặt phẳng Ba-N không đổi

- Điểm khớp trán-mũi (N) di chuyển ra

trước, lên trên theo hướng của mặt phẳng Ba-N

- Điểm giữa hố yên xương bướm (S) di chuyển ra sau và lên trên

Mức độ thay đổi vị trí của các điểm mốc Gn,

Xi, Dc, ANS, N và S, đại diện cho các hướng tăng trưởng khác nhau, được trình bày ở bảng 7

và 8

Hình 1: Hình ảnh chồng phim tại điểm Pt theo mặt

phẳng Ba-N

Bảng 7: Mức độ thay đổi vị trí của các điểm mốc chính trên phim lúc 12 tuổi so với lúc 10 tuổi thể hiện qua

chồng phim

Trang 9

Bảng 8: Mức độ thay đổi vị trí của các điểm mốc chính trên phim lúc 14 tuổi so với lúc 12 tuổi thể hiện qua

chồng phim

Ngoài ra, mức độ thay đổi vị trí ra trước, ra

sau, lên trên và xuống dưới của các điểm mốc

còn cho thấy sự tăng trưởng diễn ra ở phía trước

mặt phẳng PtV nói chung nhiều hơn ở phía sau

mặt phẳng này và sự tăng trưởng ở phía dưới

mặt phẳng Frankfort diễn ra nhiều hơn ở phía

trên Điều này hợp với sự phát triển tự nhiên vì

lúc mới sinh, phần sọ lớn gấp 8 đấn 9 lần phần

xương mặt, sự tăng trưởng ở phía trước mặt

phẳng PtV và phía dưới mặt phẳng Frankfort

diễn ra mạnh hơn ở giai đoạn sau khi sinh giúp

cho phần xương mặt tăng trưởng “bắt kịp” với

sọ để đạt đến tỷ lệ cân đối giữa phần sọ và mặt

lúc trưởng thành

KẾT LUẬN

Nghiên cứu dọc được thực hiện bằng cách

đo đạc và chồng phim trên 117 phim sọ nghiêng

của 39 trẻ em Việt Nam (19 nam, 20 nữ) ở ba độ

tuổi 10, 12 và 14 tuổi Qua nghiên cứu chúng tôi

rút ra một số kết luận sau đây:

1 Mẫu hình thái sọ mặt ở nam và nữ: Sự

tăng trưởng của phức hợp sọ mặt ở giai đoạn từ

10 đến 12 tuổi diễn ra mạnh hơn ở giai đoạn từ

12 đến 14 tuổi Nam và nữ có cùng hướng tăng

trưởng, nhưng khác nhau về mức độ tăng

trưởng Nữ tăng trưởng mạnh hơn nam trong

giai đoạn từ 10 đến 12 tuổi, trong khi nam tăng

trưởng mạnh hơn nữ trong giai đoạn từ 12 đến

14 tuổi Hầu hết các số đo về kích thước ở từng

lứa tuổi của nam lớn hơn nữ (p<0,05) và không

có sự khác biệt về hình dạng của phức hợp

sọ-mặt-răng giữa nam và nữ (p>0,05) ở cả ba độ

tuổi 10, 12 và 14

2 Mẫu tăng trưởng sọ mặt từ 10 đến 14 tuổi: Hướng tăng trưởng chung của mặt tương đối ổn định theo hướng xuống dưới và ra trước do góc trục mặt thay đổi không có ý nghĩa (p<0,017) Cằm nhô ra trước (góc mặt tăng 2,13 ở nam; 2,67 ở nữ và 2,41 chung cho cả hai giới) Xương hàm dưới xoay ra trước (góc mặt phẳng hàm dưới giảm 2,92 ở nam, 4,1 ở nữ và 3,52 chung cho cả hai giới và góc cung hàm dưới tăng 2,74 ở nam, 3 ở nữ và 2,87 chung cho cả hai giới) Chiều cao xương ổ tiếp tục tăng (góc mặt phẳng khớp cắn tăng 2,53 ở nam, 2,6 ở nữ

và 2,56 chung cho cả hai giới) Xương hàm trên duy trì tương quan với nền sọ và với xương hàm dưới tương đối ổn định (góc Ba-N-A và độ lồi mặt không đổi (p<0,017)) Tỷ lệ chiều cao giữa các tầng mặt không thay đổi (p<0,017) Các cung răng trên và dưới tăng kích thước theo chiều trước sau (khoảng cách từ mặt xa răng cối lớn hàm trên đến mặt phẳng chân bướm tăng 5,94mm ở nam, 6mm ở nữ và 5,97mm chung cho

cả hai giới) Các răng cửa ngày càng nhô ra trước, độ nhô của răng cửa hàm trên tăng từ 0,5 đến 1mm, độ nghiêng của răng cửa hàm dưới tăng từ 2 đến 3,5)

Khối sọ mặt tiếp tục gia tăng kích thước thể hiện ở chiều dài nền sọ, chiều cao mặt phía sau, chiều dài cành ngang xương hàm dưới đều tăng (chiều dài nền sọ trước tăng 5,25mm ở nam; 3,89mm ở nữ và 4,55mm chung cho cả hai giới, chiều dài nền sọ sau tăng 2,97mm ở nam; 3,58mm ở nữ và 3,28mm chung cho cả hai giới, chiều cao mặt phía sau tăng 8,95mm ở nam;

Trang 10

7,85mm ở nữ và 8,38mm chung cho cả hai giới;

chiều dài cành ngang xương hàm dưới tăng

7,41mm ở nam; 6,05mm ở nữ và 6,71mm chung

cho cả hai giới)

3 Kết quả chồng phim phù hợp và bổ sung

cho kết quả đo đạc các giá trị của các đặc điểm

nghiên cứu Khi chồng phim tại điểm trung tâm

Pt theo mặt phẳng Ba-N, các điểm mốc của cấu

trúc sọ mặt tăng trưởng theo mọi hướng, ngày

càng xa Pt

Qua nghiên cứu, chúng tôi đã đưa ra giá trị

“bình thường” và xu hướng tăng trưởng của các

đặc điểm sọ mặt ở trẻ em Việt Nam từ 10 đến 14

tuổi Kết quả đạt được trong nghiên cứu này sẽ

hỗ trợ cho chẩn đoán lâm sàng, phát hiện những

bất hài hòa giữa các cấu trúc sọ mặt cũng như

những bất thường trong tăng trưởng ở mỗi bệnh

nhân, từ đó có kế hoạch điều trị thích hợp

Ngoài ra, kết quả còn là phương tiện dự đoán

tăng trưởng có triển vọng mà tính hiệu quả của

nó cần được xem xét ở những nghiên cứu tiếp

theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Athanasiou AE (1978) Orthodontic cephalometry

Mosby-Wolfe

2 Enlow DH, Hans M.G (1996) Essentials of facial growth

W.B Saunders Company

3 Evans CA (1992) Growth and development in orthodontics

Curr Opin Dent, Dec, 2,19-27

4 Hồ Thị Thùy Trang (1999) Những đặc trưng của khuôn mặt

hài hòa qua ảnh và qua phim sọ nghiêng Luận văn thạc sĩ y

học, Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh

5 Hoàng Trọng Kim (2004) Nhi khoa, Tập I Nhà xuất bản Y

học, Tp.Hồ Chí Minh

6 Hoàng Tử Hùng (2001) Mô phôi răng miệng Nhà xuất bản Y

học, Tp.Hồ Chí Minh

7 Hoàng Tử Hùng (2005) Cắn khớp học Nhà xuất bản Y học,

Tp.Hồ Chí Minh

8 Jacobson A (1995) Radiographic cephalometry from basics to

video imaging Quintessence

9 Kocadereli I, Telli AE (1999) Evaluation of Ricketts’

long-range growth prediction in Turkish children Am J Orthod

Dentofacial Orthop, May, 115 (5), 515-20

10 Lê Đức Lánh (2002) Đặc điểm hình thái đầu mặt và cung

răng ở trẻ em từ 12 đến 15 tuổi tại Tp.Hồ Chí Minh Luận án

tiến sĩ y học, Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh

11 Lê Nguyên Lâm (2007) Phân tích Ricketts ở trẻ 12 tuổi

(Nghiên cứu trên phim sọ nghiêng) Luận văn thạc sĩ y học,

Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh

12 Li F, Wei C, Gang S (2001) A cephalometric investigation on Shanghainese with normal occlusion using Ricketts analysis Shanghai Journal od Stomatology, Dec, 10 (4), 309-312

13 Matias C (2004) Valores cephalométricos de una población de escolares Peruanos, con oclusión normal, según et análisis

lateral de Ricketts Tesis, Facultad de Odontologia, Lima- Peru

14 Moyers RE (1988) Handbook of orthodontics, 4 th edition Year Book Medical Publishers

15 Netter F.H (2008) Atlas giải phẫu người Nhà xuất bản Y học, Tp.Hồ Chí Minh

16 Ngô Thị Quỳnh Lan (2000) Nghiên cứu dọc sự phát triển của đầu mặt và cung răng ở trẻ từ 3 đến 5,5 tuổi Luận án tiến sĩ y học, Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh

17 Ngô Thị Thanh Tâm (2007) “Khảo sát tam giác Tweed ở

người Việt Nam trưởng thành”, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ Răng Hàm Mặt, Trường đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh

18 Nguyễn Quang Quyền (2004) Bài giảng giải phẫu học, Tập 1 Nhà xuất bản Y học, Tp Hồ Chí Minh

19 Nguyễn Thị Bích Ngọc (2002) Phân tích Coben có cải tiến nghiên cứu cắt ngang trên người Việt từ 17-27 tuổi Luận văn tốt nghiệp bác sĩ Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh

20 Nguyễn Thị Vũ Minh (2004) Phân tích Sassouni trên người Việt trưởng thành Luận văn tốt nghiệp bác sĩ Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh

21 Rakosi T (1982) An atlas and manual of cephalometric radiography Wolfe Medical Publications Ltd

22 Ranly DM (1980) A synopsis of craniofacial growth Elsevier Science

23 Ranly DM (2000) Craniofacial growth Dent Clin North Am, Jul, 44 (3), 457-70

24 Ricketts RM (1996) Progressive cephalometrics paradigm

2000 American Institute for Bioprogressive Education, Scottsdale, Arizona

25 Riolo ML, Moyers RE, McNamara JA, Hunter WS (1974) An atlas of craniofacial growth: Cephalometric Standards from the University School Growth Study The center of human growth and development, The University of Michigan, Monograph No.2, 14-21

Craniofacial changes in Icelandic children between 6 and 16 years of age - a longitudinal study European Journal of Orthodontics, 28, 152-165

27 Trần Thúy Nga (2000) Sự tăng trưởng phức hợp sọ mặt răng

ở trẻ em từ 3 đến 5 tuổi (Nghiên cứu dọc trên phim sọ nghiêng) Luận án tiến sĩ y học, Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh

28 Trương Văn Ngọc, Đống Khắc Thẩm (2004) Chỉnh hình răng mặt Nhà xuất bản Y học, Tp.Hồ Chí Minh

29 Valdes ZR, Diaz FL (2004) Cefalometría lateral de Ricketts en adolescentes de 12 a 14 anos con oclusión normal, 2001-2003 Rev Cubana Estomatol, 41 (2), 14-25

30 Valente RO, Oliveira MG (2003) Normative values and sexual dimorphism in aesthetically pleasant profiles, through cephalometric computerized analysis (Ricketts and McNamara) Pesqui Odontol Bras, 17(1), 29-34

Ngày đăng: 21/01/2020, 16:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w