1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm giải phẫu bệnh u trung mạc màng phổi

7 79 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 426,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu trình bày về: U trung mạc ác tính màng phổi là loại u thường gặp do tiếp xúc với amiăng. Đây là một loại u khó chẩn đoán, thường bị bỏ sót hoặc chẩn đoán lầm với ung thư di căn vào màng phổi đặc biệt là loại carcinôm tuyến phế quản xâm lấn vào màng phổi. Gần đây nhờ vào các chất đánh dấu mới của phương pháp hóa mô miễn dịch đã giúp cho việc chẩn đoán loại u này được thuận lợi và chính xác hơn.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU BỆNH U TRUNG MẠC MÀNG PHỔI

Nguyễn Sơn Lam*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: U trung mạc ác tính màng phổi là loại u thường gặp do tiếp xúc với amiăng Đây là một loại u

khó chẩn đoán, thường bị bỏ sót hoặc chẩn đoán lầm với ung thư di căn vào màng phổi đặc biệt là loại carcinôm tuyến phế quản xâm lấn vào màng phổi Gần đây nhờ vào các chất đánh dấu mới của phương pháp hóa mô miễn dịch đã giúp cho việc chẩn đoán loại u này được thuận lợi và chính xác hơn

Đối tượng & Phương pháp nghiên cứu: Trong loạt ca nghiên cứu của chúng tôi về u trung mạc màng

phổi, chúng tôi dùng 6 dấu ấn bao gồm: CK, TTF-1, surfactant protein A, desmin, HBME-1 và calretinin để chẩn đoán xác định các u trung mạc và đồng thời giúp chẩn đoán phân biệt với carcinôm tuyến phế quản xâm lấn vào màng phổi

Kết quả & Bàn luận: Với 39 ca thu nhận được trong 3 năm từ 2008-2010, cho thấy việc chẩn đoán u

trung mạc màng phổi cần có những gợi ý về dịch tễ học, hình ảnh học, tế bào học và mô học trên nhuộm HE thường qui để đi đến thực hiện hóa mô miễn dịch giúp chẩn đoán xác định tốt hơn Tuy nhiên, việc nghiên cứu

và đánh giá về kỹ thuật chẩn đoán này cũng rất cần thiết Với 6 dấu ấn kể trên theo chúng tôi vẫn chưa thật sự hoàn hảo để chẩn đoán hết về những yếu tố trong bệnh lý u trung mạc như: chẩn đoán phân biệt với các loại carcinôm di căn tới màng phổi, tiên lượng và điều trị của bệnh

Kết luận: Việc chẩn đoán u trung mạc ác tính màng phổi là một chẩn đoán khó Cần thiết thực hiện nhuộm

hóa mô miễn dịch và hóa tế bào miễn dịch với nhiều loại dấu ấn để có chẩn đoán chính xác Ngoài ra, hóa mô miễn dịch còn giúp ích trong nhiều khía cạnh của loại u trung mạc: chẩn đoán phân biệt với các loại carcinôm di căn vào màng phổi, tiên lượng bệnh và điều trị

Từ khóa: U trung mạc ác tính màng phổi, hóa mô miễn dịch, hóa tế bào miễn dịch, chất đánh dấu

ABSTRACT

PATHOLOGICAL FEATURES OF PLEURAL MESOTHELIOMA

Nguyen Son Lam * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 2 - 2011: 137 - 143

Opening: Malignant pleural mesotheliomas are frequently caused by exposure to asbestos These tumors are

difficult to diagnose, and often overlooked or misdiagnosed with cancer metastasis invasive to the pleura, especially bronchogenic adenocarcinoma Recently, basing on new markers of immunohistochemical methods have enabled the diagnosis of this tumor more convenient and more accurate

Subjects & Methods: In our case series study of malignant pleural mesothelioma, we used 6 markers including CK, TTF-1, Surfactant Protein-A, Desmin, Calretinin and HBME-1 to diagnose this tumor and to exclude bronchogenic adenocarcinoma, a pleural invasive tumor

Results & Discussion: 39 cases obtained in 3 years from 2008 to 2010 show that the diagnosis of malignant pleural mesothelioma needs suggestions on epidemiology, imaging studies, cytology and histology on routine HE staining to make immunohistochemical staining and finally, to make the diagnosis more accurate However, it is essential to have more researches and evaluations of this diagnostic techniques With the above six markers it has not really perfected to diagnose all of the elements in the malignant pleural mesothelioma, such as the diagnosis,

*BV Phạm Ngọc Thạch

Trang 2

prognosis and treatment of pleural metastatic carcinomas

Conclusion: It is difficult to make a diagnosis of malignant mesothelioma The implementation of

immunohistochemical staining of a variety of markers is necessary for accurate diagnoses In addition, immunohistochemical methods are also helpful in differential diagnosing with other types of carcinomas metastatic to the pleura, prognosis and treatment

Key words: Malignant Pleural Mesothelioma, Immunohistochemistry, Immunocytochemistry, Marker

ĐẶT VẤN ĐỀ

U trung mạc ác tính màng phổi là u tân

sinh nguyên phát ở màng phổi Trong thực

hành chẩn đoán bệnh học hàng ngày cho loại

bệnh lý này thường gặp rất nhiều khó

khăn(1,4,6,9,15,17,22) Do hình ảnh trên mô học

nhuộm hematoxylin-eosin thường qui rất dễ

lầm lẫn với những loại carcinôm di căn tới

màng phổi, đặc biệt là loại carcinôm tuyến

Nhiều trường hợp các bác sĩ chuyên khoa giải

phẫu bệnh không thể phân biệt được giữa

carcinôm tuyến và u trung mạc màng phổi

Trước đây, khi chưa có hóa mô miễn dịch, tại

BV Phạm Ngọc Thạch chúng tôi thường dùng

kỹ thuật nhuộm mucicarmine để phân biệt

giữa hai loại bệnh lý này(1,20) Tuy nhiên, kết

quả cho thấy cũng có nhiều trường hợp

không thể đưa ra được chẩn đoán chính xác

để có hướng điều trị thật tốt cho bệnh nhân

Vì vậy, trong nghiên cứu của chúng tôi dùng

hóa mô miễn dịch để chẩn đoán các u trung

mạc màng phổi và để chẩn đoán phân biệt với

các bệnh lý carcinôm di căn tới màng phổi,

chủ yếu là các loại carcinôm phế quản

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu hồi cứu,

thống kê mô tả loạt ca bệnh lý với 39 trường hợp

bệnh nhân nhập viện tại BV Phạm Ngọc Thạch

từ tháng 1/2008 đến 12/2010, có chẩn đoán xác

định ung thư màng phổi dựa vào xét nghiệm

giải phẫu bệnh của mẫu mô lấy bằng sinh thiết

màng phổi kín, soi màng phổi hoặc nội soi lồng

ngực quan sát dưới màn hình video

(video-assistedthoracoscopy) Tất cả các bệnh nhân đều

được ghi nhận tuổi, giới tính, một số ghi nhận

về hình ảnh học, loại mô ung thư, cách lấy bệnh

phẩm, hình thái tế bào học, chẩn đoán mô học

bằng nhuộm hematoxylin-eosin thường qui trước khi có nhuộm hóa mô miễn dịch Các dấu

ấn chúng tôi sử dụng gồm có 6 loại: CKLMW,

Calretinin

Các số liệu sau khi thu thập sẽ được mã hóa

và nhập vào máy vi tính, sử dụng phần mềm SPSS 14.0 để xử lý số liệu Chúng tôi sử dụng phép kiểm T-Test để so sánh tỉ lệ khác biệt cho các biến định tính Tất cả các phương pháp kiểm định giả thuyết được thực hiện bằng cách sử dụng kiểm định 2 bên (two-sided alternatives) Ngưỡng ý nghĩa là 0,05 (p < 0,05) để chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết thống kê

Qua những dữ liệu thu nhận được, chúng tôi phân tích những đặc điểm sau:

- Ghi nhận một số yếu tố về: dịch tễ học, hình ảnh học của các trường hợp u trung mạc

- Ghi nhận hình thái về tế bào học và mô bệnh học với nhuộm thường qui HE so với nhuộm hóa mô miễn dịch trong chẩn đoán u trung mạc

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN Một số kết quả về dịch tễ học và lâm sàng

Tuổi trung bình: 54,7 ± 5,34 tuổi

Giới: nữ chiếm 23 ca (58,9%), nam chiếm 16

ca (41,1%), tỉ lệ nam/nữ # 2/3: 1 Ghi nhận các triệu chứng về hình ảnh học (X-quang và CT-Scan):

Tràn dịch màng phổi: 39 ca (100%) Tràn dịch màng phổi bên phải: 19 ca

Tràn dịch màng phổi bên trái: 15 ca

Tràn dịch màng phổi hai bên: 5 ca

Tràn khí màng phổi: 4 ca (10,3%)

Trang 3

Tổn thương màng phổi (khối, nốt màng

phổi, mảng màng phổi…): 7 ca (17,9%)

Xâm lấn nhu mô phổi: 3 ca (7,7%)

Xâm lấn trung thất: 2 ca (5,1%)

Nhiều loại tổn thương phối hợp: 11 ca (28,2%)

Kỹ thuật lấy mẫu bệnh phẩm chẩn đoán:

Rút dịch màng phổi lấy mẫu làm tế bào học:

39 ca

Sinh thiết màng phổi mù bằng kim (Abrams,

Castelain): 18 ca

Sinh thiết qua nội soi màng phổi: 16 ca

Nội soi lồng ngực dưới màn hình video

(VATs): 5 ca

Số bệnh nhân có tiếp xúc amiăng hay các

sản phẩm từ amiăng là nguyên nhân chính

hiện nay gây ra u trung mạc: 21 trường hợp

(chiếm tỉ lệ 53,8%)

So sánh tuổi trung bình và giới u trung mạc

giới(3,4,5,6,9,12,13,14,15,19,25,28):

Bảng 1: So sánh tuổi trung bình và giới các nghiên

cứu về u trung mạc

Tuổi trung bình

Nam Nữ

Boutin C và cs (1998) 60 90% 10%

Nationl Center for Heath

Statistics USA (1999)

72,0 219 ca

(86,9%)

33 ca (13,1%) Suzuki Y và cs (2001) 85,8% BN

50-79 tuổi

92,3% 7,7%

Roohi IK và cs (2006) 64 81% 19%

Chahinian AP và cs

(2002)

60 59% 41%

Inai K và cs (2006) 67,5 65% 35%

Moran CA (2007) > 50 Tỉ lệ Nam/Nữ 3:1

Light RW (2007) Đa số > 60 Tỉ lệ Nam/Nữ # 6:1

Nghiên cứu tại BV.PNT

(2010)

54,7 41,1 58,9

Kết quả cho thấy độ tuổi trung bình mắc

bệnh của bệnh nhân tại BV Phạm Ngọc Thạch

thấp hơn đa số các nghiên cứu khác (P = 0,0012-0,036 đều có ý nghĩa thống kê) Điều này có thể

do các yếu tố việc tiếp xúc tác nhân gây bệnh sớm và nồng độ bụi amiăng cao trong môi trường sống Tỉ lệ bệnh nhân nam và nữ mắc phải cũng khác biệt rõ rệt so với các nghiên cứu khác trên thế giới: đa số là bệnh nhân nam Trong khi đó nghiên cứu của chúng tôi đa số là bệnh nhân nữ (P < 0,001)

Trong các dấu hiệu hình ảnh học ghi nhận được qua các trường hợp nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi chủ yếu mô tả các hình ảnh về tràn dịch màng phổi, tràn khí màng phổi, các tổn thương trong màng phổi (khối u, nốt phổi lan tỏa hay khu trú, mảng dầy màng phổi…), tổn thương xâm lấn nhu mô phổi, tổn thương xâm lấn trung thất(15,21,24) Những tổn thương chi tiết về độ phân giải, độ dầy của lát cắt CT-Scan, siêu âm, xạ hình xương…không có ghi nhận trong nghiên cứu này Đây chỉ là những đánh giá chung nhất các triệu chứng hình ảnh học dễ phát hiện trong u trung mạc màng phổi chúng tôi ghi nhận được(20)

So sánh với các nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỉ lệ phát hiện các tổn thương khác ngoài tràn dịch màng phổi, tại BV Phạm Ngọc Thạch

có nhiều khác biệt (P = 0,003 – 0,027 < 0,05) và ít hơn Điều này cũng chưa chứng minh được khả năng phát hiện sớm bệnh của BV Phạm Ngọc Thạch Vì có thể còn một số trường hợp bỏ sót chưa phát hiện hết các tổn thương Nguyên nhân có thể do thực hiện các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh học chúng tôi chỉ làm chụp X-quang phổi thường qui (bao gồm phim phổi thẳng và phim phổi nghiêng bên có tổn thương) và CT-Scan, không có chụp MRI hoặc CT-Scan với nhiều lát cắt hơn (64 lát cắt) để phát hiện các tổn thương nhỏ hơn và có xâm lấn mô lân cận như ở trung thất, màng tim(1,3,6,11,14,19,22)…

Bảng 2: So sánh các dấu hiệu hình ảnh học u trung mạc màng phổi

Tràn dịch màng phổi

Tràn khí màng phổi

Tổn thương màng phổi

Xâm lấn nhu

mô phổi

Xâm lấn trung thất

Trang 4

Tràn dịch màng phổi

Tràn khí màng phổi

Tổn thương màng phổi

Xâm lấn nhu

mô phổi

Xâm lấn trung thất

Kawashima và cs (2005) 74% 92% (8% có khối

u đơn độc)

50% > 50%

So sánh các thủ thuật chẩn đoán tại BV

Phạm Ngọc Thạch và các nghiên cứu khác trên

thế giới cho thấy: các nghiên cứu khác trên thế

giới họ thực hiện nội soi lồng ngực quan sát

dưới màn hình video (VATs) cao hơn so với BV

Phạm Ngọc Thạch, tỉ lệ thực hiện sinh thiết mù

bằng kim (Abrams, Castelain) ít dùng và thực

hiện nội soi màng phổi cũng nhiều hơn Trong

khi đó, tại BV Phạm Ngọc Thạch thực hiện sinh

thiết màng phổi mù bằng kim cao tương đương

với soi màng phổi (16 ca # 18 ca)

So sánh yếu tố dịch tễ học phơi nhiễm với

amiăng(1,2,3,4,6,8,10,11,12,16,20,22,23,29,31)

Bảng 3: Tỉ lệ tiếp xúc với yếu tố nguy cơ gây u trung

trung mạc

Tiếp xúc Amiăng

Nhiễm virus SV-40

Có cả hai yếu

tố dịch tễ học

Wang NS (1996) > 90%

Boutin C và cs

(1998)

> 70% 30%

Suzuki Y (2001) 98,1% 43% 12%

Chahinian AP

(2002)

70 – 80% 40% 25%

Gulyás M (2003) > 80% 40 – 70% # 30%

Pistolesi M và cs

(2004)

> 80% 10%

Pass HIvà cs

(2005)

> 70% > 50% # 40%

Sterman DH và cs

(2005)

> 90% 86% > 50%

Rooshi IK (2006) 80% > 50% # 35%

Carbone PK và cs

(2006)

# 80% > 60% # 40%

Nghiên cứu tại

BV.PNT (2010)

53,8%

Kết quả cho thấy tỉ lệ tiếp xúc với amiăng

và các sản phẩm từ amiăng ở các nước đều

khá cao và khác biệt so với kết quả tại BV

Phạm Ngọc Thạch (P = 0,0014 – 0,021 < 0,05)

Điều này có thể do việc điều tra dịch tễ học của chúng tôi chưa hoàn chỉnh Các nước trên thế giới đã có những điều tra sâu rộng và chi tiết hơn về tình hình dịch tễ bệnh lý do tiếp xúc amiăng về nhiều mặt như: nồng độ bụi và sợi amiăng trong không khí, loại sợi amiăng đang sử dụng, số lượng và khối lượng dùng hàng năm(2,5,8,10,14,15,16,18,22,23)… Ngoài ra, chúng tôi chưa có điều kiện để nghiên cứu về tình hình nhiễm virus SV-40 (Simian Virus 40) trên bệnh nhân u trung mạc ác tính Việc khảo sát tiếp tục về yếu tố dịch tễ học này là rất cần thiết(3,4,11,12,15)

Kết quả về chẩn đoán tế bào học và mô học

Tất cả 39 trường hợp u trung mạc màng phổi trong nghiên cứu này đều có làm tế bào học dịch màng phổi với những nhận xét như sau:

Số trường hợp có tế bào bất thường: 13 ca (chiếm tỉ lệ 33,3%)

Số trường hợp chỉ thấy tế bào viêm lymphocytes hoặc vài tế bào trung mạc không điển hình: 26 ca (chiếm tỉ lệ 66,7%)

Số trường hợp có tế bào bất thường chẩn đoán sai là carcinôm tuyến: 8 ca (chiếm tỉ

lệ 20,5%)

Số trường hợp có nhuộm mucicarmine (-): 15

ca (chiếm tỉ lệ %)

Hình thái tế bào học dịch màng phổi gợi ý tới u trung mạc thường là hình ảnh mẫu dịch giàu tế bào, các tế bào trung mạc tạo dạng cửa

sổ, dạng ôm với nhau, có thể thấy hình ảnh nhân không điển hình hoặc tạo dạng giống tuyến với các không bào chế tiết…Trong các trường hợp này chúng tôi thường thực hiện thêm kỹ thuật nhuộm mucicarmine để phân biệt với carcinôm tuyến Dựa vào nguyên lý: nhuộm

Trang 5

mucicarmine sẽ bắt màu dương tính trong các tế

bào tuyến có không bào chứa chất nhầy

mucopolysaccharide, còn tế bào trung mạc chứa

glycogen trong bào tương sẽ không ăn màu khi

nhuộm mucicarmine Tuy nhiên, những trường

hợp nhuộm mucicarmine (-) vẫn chưa thể loại

trừ carcinôm tuyến(1,6,7,9,13,27,29) Ngoài ra, với bệnh

phẩm dịch màng phổi cần thực hiện thêm kỹ

dịch(Immunohistochemistry)nhằm tận dụng hết

khả năng chẩn đoán của tế bào học trong dịch

màng phổi Với những dấu ấn mới như: Glu-1,

XIAP, CA 19-9…sẽ giúp ích rất nhiều(7,9,12,19,27,29)

Kết quả chẩn đoán mô học

U trung mạc dạng biểu mô (Epitheliod

Malignant Mesothelioma): 19 ca (chiếm tỉ lệ 48,7%)

U trung mạc dạng sarcôm (Sarcomatoid

Malignant Mesothelioma): 8 ca (chiếm tỉ lệ 20,5%)

U trung mạc dạng hỗn hợp (Biphasic

Malignant Mesothelioma): 6 ca (chiếm tỉ lệ 15,4%)

Các loại u trung mạc khác: 6 ca (chiếm tỉ lệ 15,4%), bao gồm: 3 ca u trung mạc biệt hóa cao

Mesothelioma), 2 ca u trung mạc dạng bó sợi (Desmoplastic Mesothelioma), 1 ca u trung mạc dạng bất sản (Anaplastic Mesothelioma)

Kết quả phân loại mô học các u trung mạc phát hiện tại BV Phạm Ngọc Thạch cho thấy đa

số là loại u trung mạc dạng biểu mô, còn lại là những loại mô học khác Nhận định này cũng tương tự như kết luận của các nghiên cứu khác trên thế giới(2,3,4,10,11,18,22,29,30) Tuy nhiên, tỉ lệ loại

mô học này có cao hơn và có khác biệt so với kết quả tại BV Phạm Ngọc Thạch (P = 0,0031 – 0,0043 < 0,05) Việc đánh giá đúng phân loại mô học các u trung mạc cũng rất quan trọng vì điều này có ảnh hưởng đến tiên lượng của bệnh: loại

u trung mạc dạng biểu mô có tiên lượng tốt nhất trong tất cả các loại u trung mạc, còn loại u trung mạc dạng sarcôm đặc biệt là loại sarcôm mạch máu màng phổi (angiosarcomatous mesothelioma)(2,3,4,10,11,12,14,15,16,18,23,26,30)

Bảng 4: So sánh phân bố loại mô học của u trung mạc

U trung mạc dạng biểu mô

U trung mạc dạng sarcôm

U trung mạc dạng hỗn hợp

Các u trung mạc dạng

khác

Chahinian A.P (2002) 50 – 70% 7 – 20% 20 – 35%

Kushitani K và cs (2006)

(N/C 90 ca u trung mạc)

Ismail HM.và cs (2006)

(N/C 61 ca u trung mạc)

Kết quả các chi tiết kỹ thuật chẩn đoán mô học:

Số dấu ấn dùng chẩn đoán cho u trung mạc

tại BV Phạm Ngọc Thạch bao gồm 6 dấu ấn:

CKLMW, TTF-1, Surfactant Protein A, Desmin,

HBME-1, Calretinin

Số trường hợp chẩn đoán bằng nhuộm

thường qui với Hematoxylin-Eosin: 4 ca (chiếm

tỉ lệ 10,3%)

Số trường hợp chẩn đoán lầm carcinôm tuyến khi nhuộm Hematoxylin-Eosin: 19 ca (chiếm tỉ lệ 48,7%)

Số trường hợp chẩn đoán lại bằng hóa mô miễn dịch khi có chẩn đoán của trung tâm giải phẫu bệnh khác (Bộ Môn Giải Phẫu Bệnh ĐH Y Dược TP.HCM): 5 ca (chiếm tỉ lệ 12,8%)

Trang 6

Số trường hợp chưa thể phân biệt rõ ràng

giữa carcinôm tuyến và u trung mạc bằng

nhuộm HE thường qui (chẩn đoán ban đầu là

nghĩ đến u trung mạc): 11 ca (chiếm tỉ lệ 28,2%)

Với hình ảnh mô học trên nhuộm HE

thường qui, các u trung mạc đặc biệt là loại u

trung mạc dạng biểu mô có hình ảnh dạng ống,

dạng nhú hay dạng tuyến-nhú Ngoài ra, có thể

kèm tăng sản mô sợi không điển hình trong mô

đệm tùy theo týp mô học(4,15,16,18) Tuy nhiên, hình

ảnh mô tả kể trên rất khó phân biệt với loại

carcinôm tuyến di căn tới màng phổi(11,12,14,30,31)

Điều này cũng thấy rõ được qua kết quả khảo

sát loạt ca nghiên cứu có tới 19 trường hợp chẩn

đoán lầm carcinôm tuyến khi chưa thực hiện

hóa mô miễn dịch, chiếm tỉ lệ 48,7% Trong khi

đó chỉ có 4 trường hợp được chẩn đoán ban đầu

u trung mạc phù hợp với kết quả hóa mô miễn

dịch Còn lại 16 ca chỉ có thể chẩn đoán gợi ý u

trung mạc trên nhuộm HE thường qui

Trong nghiên cứu tại BV Phạm Ngọc

Thạch, chúng tôi sử dụng 6 dấu ấn Tuy

nhiên, so sánh với với các nghiên cứu khác

còn nhiều khiếm khuyết Nhiều nghiên cứu

trên thế giới về u trung mạc được sử dụng số

lượng marker nhiều hơn: từ 13 dấu ấn tới 24

dấu ấn(8,9,14,15,16,18,25,29,30) Một vấn đề quan trọng

nữa chúng tôi chưa giải quyết khi thực hiện

nghiên cứu: chẩn đoán phân biệt giữa tăng

sản lành tính của tế bào trung mạc với u trung

mạc và carcinôm tuyến Điều này cần thực

hiện thêm những dấu ấn khác như: Glu-1,

XIAP, MOC-1(11,12,13,29,30)… Ngoài ra, trong

nghiên cứu chúng tôi thấy u trung mạc còn

chẩn đoán phân biệt với carcinôm không biệt

hóa đặc biệt là loại u trung mạc dạng bất sản

(Anaplastic Mesothelioma) có cấu trúc vi thể

rất giống với carcinôm không biệt hóa di căn

tới màng phổi(20,30)

Tóm tắt các gợi ý chẩn đoán u trung mạc

Tiền sử: tiếp xúc lâu năm với amiăng hay

các sản phẩm chế tạo từ amiăng

Lâm sàng & hình ảnh học: tràn dịch màng phổi có thể kèm theo tổn thương u hay nốt màng phổi

Tế bào học dịch màng phổi: có tăng sản tế bào trung mạc nhuộm mucicarmine (-)

Mẫu mô sinh thiết màng phổi nhuộm HE: hình ảnh tăng sản giống carcinôm tuyến có kèm tăng sản mạnh mô đệm sợi

Cần thực hiện nhuộm hóa mô miễn dịch để chẩn đoán xác định và phân biệt u trung mạc với carcinôm di căn vào màng phổi đặc biệt là loại carcinôm tuyến

Hóa mô miễn dịch cần bổ sung nhiều dấu ấn

để độ chính xác cao hơn và có thể ứng dụng trong liệu pháp nhắm trúng đích trong điều trị u trung mạc với nhuộm CD26(9,12,27)

Ngoài ra, kỹ thuật nhuộm hóa tế bào miễn dịch dùng dành cho mẫu dịch màng phổi, dịch rửa phế quản-phế nang (BAL)… cần thực hiện thêm với những dấu ấn đặc hiệu sẽ giúp ích nhiều cho chẩn đoán u trung mạc(5,6,7,8,13,19,27,28,29)

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 39 trường hợp u trung mạc được chẩn đoán bằng hóa mô miễn dịch, chúng tôi nhận thấy chẩn đoán u trung mạc ác tính màng phổi là một chẩn đoán khó Những gợi ý chẩn đoán về dịch tễ học, chẩn đoán hình ảnh,

tế bào học và nhuộm mô học bằng HE thường qui rất cần thiết nhưng chưa đủ để chẩn đoán loại u này Việc chẩn đoán sẽ chính xác nếu được thực hiện với kỹ thuật nhuộm hóa mô miễn dịch với nhiều loại dấu ấn nhằm vừa giúp chẩn đoán xác định u trung mạc vừa giúp chẩn đoán phân biệt với các loại carcinôm di căn vào màng phổi đặc biệt là carcinôm tuyến Ngoài ra, việc thực hiện thêm được kỹ thuật nhuộm hóa tế bào miễn dịch trong các mẫu dịch màng phổi, dịch rửa phế quản-phế nang…cũng giúp ích rất nhiều trong chẩn đoán bệnh Hơn nữa, trong tương lai việc hoàn chỉnh kỹ thuật nhuộm hóa

mô miễn dịch sẽ giúp ích trong cả những vấn đề

Trang 7

về tiên lượng bệnh, theo dõi và điều trị cho bệnh

nhân bị u trung mạc

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ambrogi PL (1957) Mayer’s Mucicarmine In: Manual of

Histologic and Special Staining Technics, Armed Forces Institute of

Pathology, Washington D.C.: 136-137

2 Boutin C, Schlesser M, Frenay C, Astoul PH (1998) Malignant

Pleural Mesothelioma Series The Pleura Europe Respiratory

Journal, 12 : 972-981

3 Butchart EG (1999) Contemporary Management of Malignant

Pleural Mesothelioma The Oncologist, Volume 4: 488-491

4 Chahinian AP, Pass HI (2002) Malignant Mesothelioma In:

Mesothelioma, Chapter 89, Bruce W.S Robinson & A Philippe

Chainian, Martin Dunitz Inc., First Edition: 1294-1298

5 Chhieng CD et al (2000) Calretinin Staining Pattern Aids in The

Differentiation of Mesothelioma from Adenocarcinoma in

Serous Effusions American Cancer Society, Cancer Cytopathology,

Volume 90, Number 3: 194-199

6 Fetsch PA & Abati A (1998) Utility of the Antibodies CA 19-9,

HBME-1 & Thrombomodulin in The Diagnosis of Malignant

Mesothelioma and Adenocarcinoma in Cytology Cancer

Cytopathology, American Cancer Society, USA, Volume 84,

Number 2: 101- 107

7 Fetsch PA & Abati A (2001) Immunocytochemistry in Effusion

Cytology – A Contemporary Review American Cancer Society,

Cancer Cytopathology, Volume 93, Number 5: 293-306

8 Gulyás M (2003) Mesothelial Differentiation, Mesothelioma &

Tumor Markers in Serous Cavities Department of Laboratory

Medecine – Division of Pathology Karolinska Institutet,

Stockholm, Sweden 2003: 27-31

9 Hasteh F et al (2010) The Use of Immunohistochemistry to

Distinguish Reactive Mesothelial Cell From Malignant

Mesothelioma in Cytologic Effusions Cancer Cytopathology, 25:

90-95

10 Heffner EJ (2007) Diagnosis and Management of Malignant

Pleural Effusions Asian Pacific Society of Respirology, Journal

Complication, 13: 5-20

11 Imail-Khan R, Robinson LA, Williams CC, et al (2006)

Malignant Pleural Mesothelioma: A Comprehensive Review

Cancer Control, Volume 13, Number 4: 255-263

12 Inai K (2010) Pathological Diagnosis of

Asbestos-Exposure-Related-Diseases & Pathological Diagnosis of Mesothelioma

Consultancy on asbestos-related disease, Viet Nam, Courses

Training, 15-25

13 Kitazume H, et al (2000) Cytologic Differential Diagnosis

among Reactive Mesothelial Cells, Malignant Mesothelioma &

Adenocarcinoma American Cancer Society, Cancer Cytopathology,

Volume 90, Number 1: 55-60

14 Kushitani K, Inai K (2006) Immunohistochemical Makers Panels

for Distinguishing between Epitheliod Mesothelioma and Lung

Adenocarcinoma Hiroshima University Journal Japan: 546-550

15 Light RW (2007) Primary Tumors of The Pleura In: Light

Richard W., Wolter Kluwer, Pleural Diseases, 5 Edition, pp

163-174, Williams & Wilkins, NewYork

16 Marchevsky AM (2004) Differentiated Diagnosis Surgical

Pathology of The Pleura Washington D.C., College of of American Pathologist, Third Edition: 4-10

17 Miller RT (2001), Focus on Immunohistochemistry – Wilms Tumor Gene Protein (WT1) Propath Laboratory Immunohistochemistry Division, 214: 638-639

18 Moran CA, Suster S (2007) Tumors of The Lung and Pleura In:

Fletcher CDM., Diagnostic Histopathology of Tumors, Volume 1,

Third Edition, pp 205-210, Churchill Livingstone, Elsevier, Boston, USA

19 Ng WK, Chow JCY, Ng PKH (2001) Thyroid Transcription Factor-1 is High Sensitive and Specific in Differentiating Metastatic Pulmonary from Extrapulmonary Adenocarcinoma

in Effusion Fluid Cytology Specimens The Cancer Cytopathology The American Cancer Society, Volume 96, Number 1, 43-47

20 Nguyen Son Lam (2010) The Methods to Diagnose for Asbestose-Related Diseases at Pham Ngoc Thach Hospital-Viet

Nam The Third Asian Asbestose Initiative International Seminar,

Fukuoka, Japan: 11-16

21 Pass HI, Volgelzang NJ (2005) Imaging and Endoscopy –

Pathology In: Malignant Mesothelioma-Advances in Pathogenesis, Diagnosis and Translational Therapies, Michele Carbone, Springer

Inc., Chicago, USA, Part Three-Five-Six: 433-498

22 Patz FE, et al (1992) Malignant Pleural Mesothelioma: Value of

CT & MR Imaging in Predicting Resectability Americam Roentgen Ray Society, AJR, 159: 961-965

23 Pistolesi M, Rusthoven J (2004) Malignant Pleural Mesothelioma: Update, Current Management and Newer

Therapeutic Strategies American College of Physicians, The Chest

2004; 126: 1318-1329

24 Richard HM, et al (1970) The Radiological Manifestations of

Malignant Pleural Mesothelioma Am J Ray, Volume 108,

Number 1: 53-59

25 Roberts F, et al (2001) Immunohistochemical Analysis Still Has a Limited Role in The Diagnosis of Malignant Mesothelioma –

Study of Thirteen Antibodies Am J Clin Pathol 2001; 116:

253-262

26 Roh MS, Seo JY, Hong SH (2001) Epitheliod Angiosarcoma of

The Pleura J Korean Med Sci., 16: 792-795

27 Shen J, et al (2009) Usefulness of EMA, Glut-1 & XIAP for the Cytologic Diagnosis of Malignant Mesothelioma in Body Cavity

Fluids Am J Clin Pathol., 2009, 131:516-523

28 Shijubo N, et al (1995) Lung Surfactant Protein-A and CEA in Pleural Effusions due to Lung Adenocarcinoma and Malignant

Mesothelioma The Europe Respiratory Journal, 8, 403-406

29 Soini Y, Kinnula V., Haklos K (2006) Claudins in Differential Diagnosis Between Mesothelioma and Metastatic

Adenocarcinoma of The Pleura Journal of Clinical Pathology,

V.59(3): 250-254

30 Suzuki Y (2001) Pathology of Human Malignant Mesothelioma

– Preliminary Analysis of 1.517 Mesothelioma Cases Industrial Health 2001, 39, 183-185

31 Wang NS (1996) Pleural Mesothelioma: An Appriach to

Diagnosis Problems National Cheng Kung University, Respiratory, 1: 259-261

Ngày đăng: 21/01/2020, 16:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w