1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát tỷ lệ ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới trên 50 tuổi đến khám tại Bệnh viện Bình Dân

8 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 433,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu với mục tiêu khảo sát tỷ lệ ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới từ 50 tuổi trở lên đến khám tại bệnh viện Bình Dân từ 6/2008 đến 6/2010. Nghiên cứu tiến hành với tất cả nam giới ≥ 50 tuổi tự nguyện đến bệnh viện Bình Dân thực hiện tầm soát ung thư tuyến tiền liệt.

Trang 1

KHẢO SÁT TỶ LỆ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT Ở NAM GIỚI

TRÊN 50 TUỔI ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN BÌNH DÂN

Vũ Lê Chuyên*, Đào Quang Oánh**, Đỗ Anh Toàn***

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Ung thư tuyến tiền liệt (TTL) là loại ung thư thường gặp nhất của hệ tiết niệu – sinh dục ở

nam giới sau tuổi 50 Tại VN, bệnh trong giai đoạn sớm còn ít khiến cho đa số bệnh nhân đến trễ, ung thư đã tiến triển và không còn khả năng điều trị triệt để Hiện nay chúng ta chưa có công trình nào về mặt tầm soát Do đó

đề tài có tính cấp thiết để chúng ta chuẩn bị tốt mọi phương tiện cho chiến lược tầm soát, chẩn đoán và điều trị

bệnh nhân trong từ 3 đến 5 năm tới Mục tiêu: Khảo sát tỷ lệ ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới từ 50 tuổi trở

lên đến khám tại BV Bình Dân từ 6/2008 đến 6/2010

Đối tượng và phương pháp: Mô tả cắt ngang Tất cả nam giới ≥ 50 tuổi tự nguyện đến BV Bình Dân

thực hiện tầm soát ung thư TTL Xét nghiệm PSA huyết thanh Tiến hành thăm khám trực tràng Tiến hành sinh thiết 6 mẫu cải biên đối với những trường hợp nghi ngờ ung thư TTL, nếu có: (1) DRE có nhân cứng nghi ung thư, hoặc (2) PSA>10ng/mL, hoặc (3) 4<PSA(ng/mL) ≤ 10% và fPSA≤20%

Kết quả: Từ 6/2008 đến 6/2010, chúng tôi đã lựa chọn được 1098 TH Tuổi trung bình là 62,5 ± 3,4 tuổi

Có 91,7% TH có PSA huyết thanh ≤ 10 ng/ml Phát hiện 33 TH ung thư TTL, chiếm 3% dân số nghiên cứu và chiếm 14,82% trong số 222 TH có chỉ định sinh thiết

Kết luận: Tỷ lệ nam giới ≥ 50 tuổi có kết quả khám trực tràng bất thường là 14,3%, tỷ lệ PSA huyết thanh

>4 ng/ml là 21,7% Tỷ lệ ung thư phát hiện là 3%

Từ khóa: nam giới trên 50 tuổi, ung thư tuyến tiền liệt, tầm soát

ABTRACT

PREVALENCE OF PROSTATE CANCER AT BINH DAN HOSPITAL IN AGING MEN MORE THAN 50

YEARS OLD

Vu Le Chuyen, Dao Quang Oanh, Do Anh Toan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 335 – 342

Introduction: Prostate cancer Pca is among the most common malignant tumor of the genito-urinary

system in aging men, more than 50 years old In Vietnam, most of PCa patients came to the hospital at the advanced stage, so it is unable for the radical treatment and the patients would have the poor prognosis Until now, there is not a valuable study of PCa screening, so this study should be performed

Objectives: the aim of this study is to determine the rate of PCa detected by using PSA measurement and

digital rectal examination from June 2008 to June 2010.

Patients and methods: cross-sectional descriptive study All ≥ 50 years old male volunteer to perform

prostate cancer screening at Binh Dan hospital PSA blood test and DRE performed routinely Ultrasound guided modified sextant transrectal biopsies for suspected cases of cancer, if any: (1) DRE suspected hard nodule, or (2) PSA> 10 ng/mL, or (3) 4 <PSA (ng/mL) ≤ 10 and fPSA ≤ 20%

* Khoa Niệu C, BV Bình Dân ** Khoa Niệu B, BV Bình Dân *** Khoa Niệu A, BV Bình Dân

Tác giả liên lạc: TS Đào Quang Oánh ĐT: 0955012301 Email: daoquangoanh53@yahoo.com

Trang 2

Results: 1098 men had enrolled Average age is 62.5 ± 3.4 years old There were 91.7% of men having

serum PSA ≤ 10 ng/ml There were 33 PCa detected in 1098 men enrolled (3%) and in 222 men underwent prostate biopsy (14.82%)

Conclusions: There is 14.3% aging male having abnormal DRE, 21.7% having PSA>4ng/ml Among

them, 3% (of 1098 ≥ 50 years old) had been detected PCa

Keywords: men more than 50 years old, prostate cancer, screening

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư tuyến tiền liệt (TTL) có xuất độ cao

nhất trên thế giới Nhưng tại Việt nam, do

những lý do về mặt tầm soát, sự kém quan tâm

từ phía cộng đồng và y giới mà chúng ta chưa

phát hiện được nhiều khiến cho đa số bệnh

nhân đến trong giai đoạn trễ Hiện nay chúng ta

chưa có công trình nào về mặt tầm soát Tuy

vậy, số lượng bệnh nhân đến ngày càng nhiều

và có khuynh hướng vượt qua các loại ung thư

tiết niệu khác Các số liệu hiện nay chỉ dựa trên

báo cáo về số lượng những trường hợp có triệu

chứng cần nhập viện để điều trị, tức là phần nổi

của một tảng băng lớn mà phần che khuất dưới

nước chua được biết đến

Việc điều trị ung thư TTL tùy thuộc chủ yếu

vào giai đoạn phát triển, độ biệt hoá của tế bào

và tình trạng người bệnh Tỷ lệ bệnh nhân sống

10 năm với ung thư còn ở giai đoạn khu trú

khoảng 70 - 85% sau khi được điều trị triệt để(11)

Với các trường hợp ung thư xâm lấn ngoài vỏ

bao vi thể, tỷ lệ sống sau 5 năm và 10 năm là 85

và 75% Trong khi đó, với những trường hợp

ung thư xâm lấn bao tuyến lan rộng, tỷ lệ sống

sau 5 năm và 10 năm lần lượt là 70 và 40%(11) Do

đó, vấn đề chẩn đoán sớm ung thư sẽ cải thiện

được dự hậu của bệnh

Mục tiêu

Mục tiêu tổng quát

Khảo sát tỷ lệ ung thư TTL ở nam giới từ 50

tuổi trở lên đến khám tại bệnh viện Bình Dân từ

6/2008 đến 6/2010

Mục tiêu chuyên biệt

Xác định tỷ lệ đàn ông ≥ 50 tuổi có TTL bất

thường qua thăm khám trực tràng

Xác định tỷ lệ bất thường của nồng độ

PSA/huyết thanh ở đàn ông ≥ 50 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh

Khảo sát sự biến đổi mô học ở những trường hợp sinh thiết TTL ở đàn ông ≥ 50 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh: tỷ lệ ung thư TTL, loạn sản trong biểu mô TTL, viêm TTL, phì đại lành tính TTL

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP

Thông báo rộng rãi (tại BV và qua phương tiện truyền thông đại chúng) về sự cần thiết kiểm tra tuyến tiền liệt cho tất cả mọi người đàn ông trên 50 tuổi có thể đến BV Bình Dân thực hiện nếu có yêu cầu Có lịch khám và phân công

cụ thể

Nghiên cứu tiền cứu, mô tả cắt ngang mang tính tầm soát trên những đối tượng nguy cơ Tất

cả các bệnh nhân đến khám theo thông báo tại ngoại chẩn Niệu BV Bình Dân, tuổi từ 50 trở lên, được tư vấn và đồng ý tham gia quy trình nghiên cứu Giải thích cho ứng viên quy trình cũng như những nguy cơ có thể xảy ra khi tham gia nghiên cứu Người nào đồng ý sẽ ký vào tờ cam kết

Tiến hành lấy mẫu nước tiểu làm xét nghiệm phân tích thường quy

Xét nghiệm PSA huyết thanh (thực hiện sau khi có yếu tố gây tăng giả tạo cần hiệu chỉnh) Tiến hành thăm khám trực tràng (DRE) Siêu âm ngả trực tràng (TRUS)

Tiến hành sinh thiết 6 mẫu cải biên đối với những trường hợp nghi ngờ ung thư TTL, nếu có:

- DRE có nhân cứng nghi ung thư,

- hoặc PSA > 10 ng/mL,

- hoặc 4 < PSA(ng/mL) ≤ 10 và % fPSA ≤ 20%

Trang 3

Thu thập các biến chứng xảy ra do sinh thiết

và kết quả giải phẫu bệnh

Định giai đoạn những trường hợp có kết

quả sinh thiết là ung thư

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân có rối loạn đông máu nặng, trĩ,

hẹp hậu môn hoặc kèm theo viêm nhiễm vùng

tầng sinh môn

KẾT QUẢ

Từ 06/2008 đến 06/2010, đã lựa chọn được

1098 trường hợp (TH) thỏa tiêu chuẩn chọn

mẫu

Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Phân bố theo tuổi

Tuổi trung bình trong mẫu nghiên cứu là

62,5 ± 3,4

Tuổi nhỏ nhất là 50 và lớn nhất là 93 tuổi

Trong đó 83,79% TH trong độ tuổi 50 đến 65

tuổi 10% TH > 70 tuổi Trong số 33 trường hợp

ung thư, tuổi trung bình là 65,4 ± 5,3

Phân bố theo nơi cư trú

Số trường hợp Tỷ lệ(%)

Phân bố theo kết quả thăm khám trực tràng

(DRE)

Phân bố theo PSA huyết thanh

PSA (ng/ml) Số trường hợp Tỷ lệ %

Phân bố theo kết quả GPBL

Số TH Tỷ lệ (%)

Bình thường, BPH1 hay viêm mạn tính

TTL

Phân bố theo độ biệt hóa tế bào ung thư ở những TH sinh thiết dương tính

Độ biệt hóa

Tổng Tốt Vừa Kém

Các biến chứng do sinh thiết TTL

Biến chứng Số trường hợp Tỷ lệ (%)

PHÂN BỐ KQ GPB THEO PSA KHI DRE BẤT THƯỜNG

0%

10%

20%

30%

40%

50%

60%

70%

80%

90%

100%

PSA

=<4 4<PS

A=<

10

10<P

SA=<

30

30<P

SA=<

50

PSA

>50

Lành Tính HIGH PIN Carcinom

Nhận xét: Có sự gia tăng phát hiện ung thư

theo trị số PSA, sự gia tăng có ý nghĩa thống kê (test 2, p << 0,05)

1 Phì đại lành tính

2 Tân sinh trong biểu mô tuyến tiền liệt (prostatic intraepithelial neoplasia)

Trang 4

Phân bố kết quả GPBL theo trị số PSA khi DRE bất thường

DRE bất thường Bình thường, BPH hay

viêm mạn tính TTL PIN thấp PIN cao Carcinoma tuyến Tổng

PSA (ng/mL)

Phân bố kết quả GPBL theo PSA huyết thanh/ DRE bình thường

DRE bình thường Bình thường, BPH hay

viêm mạn tính TTL PIN thấp PIN cao Carcinoma tuyến Tổng

PSA

(ng/mL)

4 <PSA ≤10 và % fPSA ≤

20

PHÂN BỐ KQ GPB THEO PSA KHI DRE BÌNH THƯỜNG

0%

10%

20%

30%

40%

50%

60%

70%

80%

90%

100%

4<PSA=<10 10<PSA=<30 30<PSA=<50 PSA>50

Lành Tính HIGH PIN Carcinom

Nhận xét: Có sự gia tăng phát hiện ung thư

theo trị số PSA, sự gia tăng có ý nghĩa thống kê

(test 2, p << 0.05)

Phân bố kết quả GPBL theo kết quả DRE khi PSA ≤ 10ng/mL

PHÂN BỐ KQ GPB THEO DRE KHI PSA=<10ng/ml

0%

10%

20%

30%

40%

50%

60%

70%

80%

90%

100%

DRE (-) DRE (+)

Lành tính HIGH PIN Carcinom

Nhận xét: trong số 124 trường hợp được sinh

thiết có PSA huyết thanh ≤ 10ng/mL, phát hiện 5 trường hợp ung thư, chiếm 4,02%

Trang 5

Khi kết quả DRE bình thường, tỷ lệ

carcinoma tuyến là 2,86%

Khi kết hợp kết quả DRE bất thường, tỷ lệ

này tăng lên 4,49%

Sự gia tăng khác biệt có ý nghĩa thống kê

(test 2, p < 0.05)

Phân bố kết quả GPBL theo kết quả DRE

khi PSA ≥ 10ng/mL

PHÂN BỐ KQ GPB THEO DRE KHI PSA>10ng/ml

0%

10%

20%

30%

40%

50%

60%

70%

80%

DRE (-) DRE (+)

Lành tính HIGH PIN Carcinom

Nhận xét: trong số 98 trường hợp có PSA

huyết thanh ≥ 10ng/mL được sinh thiết, phát

hiện 28 trường hợp ung thư, chiếm 28,57%

Khi kết quả DRE bình thường, tỷ lệ

carcinoma tuyến là 13,33%

Khi kết hợp kết quả DRE bất thường, tỷ lệ

này tăng lên 35,30%

Sự gia tăng khác biệt có ý nghĩa thống kê

(test 2, p << 0.05)

Phân bố độ biệt hóa tế bào ung thư theo

PSA huyết thanh

PHÂN BỐ ĐỘ BIỆT HÓA TB THEO PSA

0%

20%

40%

60%

80%

100%

120%

10

30

50

TRUNG BÌNH KÉM

Nhận xét: đối với ung thư tuyến tiền liệt,

khi PSA càng cao thì độ biệt hóa càng kém Sự

gia tăng khác biệt có ý nghĩa thống kê (test 2,

p << 0,05)

BÀN LUẬN Tuổi

Ung thư TTL là bệnh của người lớn tuổi, có khoảng 75 - 80% trường hợp ung thư mới chẩn đoán xảy ra ở những người đàn ông tuổi trên

65(7,12) Trong nghiên cứu này, tuổi trung bình của các bệnh nhân ung thư TTL được chẩn đoán

là 65,4, khá trẻ hơn so với các nghiên cứu của

Nguyễn Việt Hải, Nguyễn Thụy Linh, Đỗ Anh Toàn,

tuổi trung bình của các trường hợp ung thư là từ 71,47 đến 74,43(5,10) Có thể vì trong số 1098 trường hợp tham gia tầm soát, có đến 83,97%

TH nằm trong độ tuổi 50-65, nên chúng tôi đã phát hiện được nhiều trường hợp ung thư ở độ tuổi còn khá trẻ so với các nhóm bệnh nhân của các nghiên cứu khác

Theo khuyến cáo của Hội Ung Thư Hoa

Kỳ là nên bắt đầu quá trình tầm soát ung thư

từ tuổi 50, thậm chí sớm hơn ở tuổi 40, 45 nếu

có kèm theo nhiều yếu tố nguy cơ, ví dụ như

có một hay nhiều người có quan hệ huyết thống bị ung thư TTL

Bàn luận về tỷ lệ ung thư TTL ở những bệnh nhân có gia tăng PSA huyết thanh

Trong khi DRE và TRUS phần nào có tính chủ quan, thì xét nghiệm PSA huyết thanh là khách quan và có khả năng giúp đánh giá nguy

cơ ung thư của bệnh nhân, đây cũng là xét nghiệm có giá trị tiên đoán ung thư cao nhất trong các xét nghiệm tầm soát ung thư TTL(3) Tỷ

lệ ung thư TTL gia tăng theo trị số PSA huyết thanh Khi PSA < 4ng/ml, tỷ lệ sinh thiết dương tính là 1/50(3) Theo Catalona & cs(3), tỷ lệ sinh thiết dương tính là 1/3 khi PSA  4ng/mL, khi PSA 4 – 10ng/mL tỷ lệ này là 1/4, và khi PSA > 10ng/mL thì tỷ lệ này tăng lên 1/2 đến 2/3

Chúng tôi có 222 TH được sinh thiết để chẩn đoán ung thư TTL

Trong 65 TH có DRE bình thường được sinh thiết vì có PSA gia tăng, chúng tôi phát hiện 5

TH ung thư (chiếm 7,7%) Khi PSA tăng thì khả năng phát hiện ung thư gia tăng theo có ý nghĩa

Trang 6

thống kê

Với 157 TH có DRE bất thường, tỷ lệ phát

hiện ung thư cũng gia tăng đáng kể khi PSA

gia tăng

Đối chiếu với các tác giả trên, thì tỷ lệ ung

thư phát hiện được ở từng lớp PSA trong nghiên

cứu của chúng tôi có thấp hơn, nguyên nhân có

thể vì sự khác nhau trên 2 mặt: dịch tễ học ung

thư TTL và kỹ thuật sinh thiết

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy PSA

càng cao thì khả năng phát hiện ung thư càng

nhiều Nhận định này cũng tương tự với các tác

giả khác, chẳng hạn(3): khi DRE bình thường và

PSA > 4ng/mL, tỷ lệ ung thư theo các tác giả lần

lượt là 12% (Hammerer & cs, 1994), 24% (Ellis &

cs, 1994) và 25% (Cooner & cs, 1993) Hơn nữa, tỷ

lệ này lần lượt tăng lên 72%, 42% và 62% khi kết

hợp với kết quả DRE bất thường Dù rằng số

liệu của các công trình nghiên cứu không tương

đồng nhau, nhưng phần nào đã khẳng định sự

gia tăng đáng kể nguy cơ ung thư TTL khi đồng

thời có bất thường trên kết quả xét nghiệm PSA

huyết thanh và DRE

Chúng tôi chú ý nhiều vào nhóm bệnh nhân

có gia tăng trị số PSA huyết thanh trong khoảng

4 – 10ng/mL, vì sự gia tăng PSA trong khoảng

này có nguyên nhân trùng lắp giữa nhóm bệnh

nhân bị ung thư và BPH(4) Trong số 1098 bệnh

nhân được tầm soát: có 140 bệnh nhân có

4<PSA≤ 10 Chúng tôi sinh thiết 35 TH vì có

%fPSA ≤ 20, phát hiện được 3 TH ung thư,

chiếm 4,62% Vì thời gian nghiên cứu tương đối

ngắn, chúng tôi chỉ tập trung tìm tỷ lệ ung thư

TTL trong mẫu nghiên cứu, nên hy vọng trong

những nghiên cứu tiếp theo chúng tôi sẽ mở

rộng đánh giá vai trò của các tham số khác như

tốc độ gia tăng PSA, tỷ trọng PSA Trong việc

chọn lựa đối tượng sinh thiết, nhằm cải thiện độ

chuyên biệt của PSA huyết thanh trong chẩn

đóan ung thư TTL

Bàn luận về tỷ lệ ung thư TTL ở những

bệnh nhân có kết quả DRE bất thường

Trước khi có xét nghiệm PSA huyết thanh,

DRE giữ vai trò chủ đạo trong phát hiện bệnh và

chẩn đoán giai đoạn ung thư TTL Vì đa số ung thư TTL xuất phát từ mô tuyến vùng ngoại vi nên có thể phát hiện qua DRE Tuy nhiên, để DRE có thể phát hiện được, khối bướu phải có kích thước từ 0,2ml trở lên(1) Tuy rằng kỹ thuật DRE có độ nhạy phát hiện ung thư thấp nhưng

là một trong hai khám nghiệm đầu tiên được công nhận để phát hiện sớm ung thư TTL(2,8,9) Với 65 bệnh nhân có DRE bình thường được sinh thiết vì gia tăng PSA, phát hiện được 5 TH ung thư, chiếm 7,7%.Với 157 bệnh nhân có DRE bất thường được sinh thiết, phát hiện 28 TH ung thư, chiếm 17,83 %

Kết quả này cho thấy, nếu nghi ngờ ung thư khi thăm khám lâm sàng (DRE) thì khả năng bệnh nhân bị ung thư gia tăng đáng kể Trong khi đó, nếu tầm soát dựa trên sự kết hợp đồng thời của DRE, PSA huyết thanh và TRUS thì có đến 2/3 trường hợp ung thư được chẩn đoán còn ở giai đoạn khu trú(3)

Bàn luận về độ biệt hóa của tế bào ung thư

Độ biệt hóa của tế bào ung thư liên quan mật thiết với hoạt tính và giai đoạn bệnh học của ung thư như: Mức độ lan rộng của bệnh và khả năng di căn hạch, di căn xương cũng như liên quan đến khả năng đáp ứng với điều trị Kết quả từ 2096 bệnh nhân được cắt TTL tận gốc(3), cho thấy độ biệt hóa tế bào ung thư liên quan mật thiết với giai đoạn bệnh học của bướu Mức

độ lan rộng của ung thư liên quan với mức độ biệt hóa tế bào Trong nghiên cứu này, trong số

33 trường hợp carcinoma tuyến có: 11 trường hợp có độ biệt hóa tốt, 10 TH có độ biệt hóa vừa,

12 TH có độ biệt hóa kém Chúng tôi nhận thấy rằng, những TH ung thư có trị số PSA càng cao thì độ biệt hóa tế bào càng kém Do vậy, đối với một khối ung thư đã được xác định thì PSA cũng là một yếu tố tiên lượng

Bàn về quan điểm tầm soát ung thư TTL

Cho đến hiện nay, vấn đề tầm soát ung thư TTL chưa được thống nhất, vì theo y học chứng

cứ thì hiệu quả của chương trình tầm soát ung thư TTL chỉ đạt được chứng cứ mức độ II (kết quả từ những nghiên cứu đoàn hệ dựa trên cộng

Trang 7

đồng hay những nghiên cứu bệnh chứng) và

mức chứng cứ độ III (kết quả từ những nghiên

cứu phân tích hàng loạt các trường hợp bệnh lý,

hay từ quan điểm của các chuyên gia), còn thiếu

chứng cứ loại I (kết quả từ những thử nghiệm

lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng- RCT), là

chứng cứ quan trọng nhất quyết định cho việc

áp dụng rộng rãi trong cộng đồng(13)

Việc tầm soát ung thư TTL được chia thành

3 hình thức như sau(13):

- Tầm soát trong cộng đồng (hay tầm soát hệ

thống = systematic screening, tầm soát đại trà =

mass screening): Là hình thức tầm soát được

tiến hành như là chính sách quốc gia, không có

tiêu chuẩn chọn lựa

- Tầm soát có lựa chọn (selective screening):

Áp dụng cho một dân số đích, có tiêu chuẩn

chọn lựa yếu tố nguy cơ rõ ràng

- Tìm bệnh (case finding) hay phát hiện

sớm (early detection) ung thư TTL: Là phương

pháp tương tự như chương trình tầm soát đại

trà nhưng chỉ tiến hành dựa theo yêu cầu của

bệnh nhân

Chương trình tầm soát hiệu quả cần đạt

được các yêu cầu sau(6):

- Quá trình chẩn đoán phải xâm hại tối thiểu

và ít tốn kém nhất

- Giảm tử suất và cải thiện chất lượng cuộc

sống khi ung thư được chẩn đoán sớm

- Sẵn có các phương pháp điều trị hiệu quả

và ít tác dụng phụ

Cuối cùng, điều trị sớm ung thư phải chứng

tỏ mang lại kết quả tốt hơn so với điều trị những

trường hợp bệnh đã có biểu hiện lâm sàng

Tuy nhiên, cho tới nay, chương trình tầm

soát ung thư TTL chưa hội đủ các tiêu chuẩn

nêu trên

Hiện nay, Việt Nam cũng như các nước

trong khu vực, chưa có thống nhất về quan

điểm có nên tầm soát đại trà trong dân số hay

không vì chưa làm sáng tỏ được lợi khía cạnh

lợi ích và chi phí (cost-effective) của chương

trình này Tuy nhiên, kết quả từ nghiên cứu cho

thấy tần suất ung thư TTL trong dân số nam giới ở nước ta có thể thấp hơn nhiều so với các nước Âu – Mỹ Có thể chương trình tầm soát có chọn lọc, theo yêu cầu của bệnh nhân là phù hợp với hoàn cảnh hiện nay của chúng ta

KẾT LUẬN

Tỷ lệ ung thư TTL ở nam giới ≥ 50 tuổi đến tầm soát là 3%

Tỷ lệ nam giới ≥ 50 tuổi có kết quả DRE bất thường là 14,3%

Tỷ lệ bất thường của nồng độ PSA/huyết thanh là 21,7%

Ngoài ra, chúng tôi còn nhận thấy rằng:

Tỷ lệ ung thư gia tăng đáng kể khi kết hợp kết quả DRE bất thường và sự gia tăng trị số PSA huyết thanh

Sinh thiết TTL qua ngả trực tràng dưới hướng dẫn TRUS là phương pháp tương đối dễ thực hiện, khá an toàn

Thiếu sót cần khắc phục của nghiên cứu: mở rộng đánh giá vai trò của các thông số tốc độ gia tăng PSA, tỷ trọng PSA toàn bộ, tỷ trọng PSA với vùng chuyển tiếp… trong chẩn đoán ung thư TTL

Theo dõi đầy đủ hơn các TH sinh thiết lần đầu âm tính và đánh giá kết quả điều trị những

TH ung thư đã phát hiện

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Aus G, Abbou CC, Heidenreich A, Schmid HP, Poppel H, Wolff

JM, Zattoni F (2004) Prostate cancer EAU guidelines

2 Brawer MK, Chetner MP, Beatie J, Buchner DM, Vessella RL, Lange PH (1992) Screening for prostatic carcinoma with

prostate specific antigen J.Urol, 147 (3 Pt 2): 841-845

3 Carter BH, Partin AW (2002) Diagnosis and Staging of Prostate cancer In: Walsh PC, Retik AB, Vaughan ED, Wein AJ (eds), Campell's Urology, Saunder Company, 8th ed-USA: 3055-3064

4 Catalona WJ, Partin AW, Slawin KM, Brawer MK, Flanigan RC, Patel A, Richie JP, deKernion JB, Walsh PC, Scardino PT et al (1998) Use of the percentage of free prostate-specific antigen to enhance differentiation of prostate cancer from benign prostatic disease: a prospective multicenter clinical trial JAMA; 279(19): 1542-1547

5 Đỗ Anh Toàn (2008) ''Vai trò của sinh thiết tuyến tiền liệt qua tầng sinh môn để chẩn đoán ung thư giai đoạn sớm'' Luận văn Cao Học Niệu, ĐHYD, TP Hồ Chí Minh

6 Haggman M.J, Macoska J.A, Wojno K.J, Oesterling J.E (1997) The relationship between prostatic intraepithelial neoplasia and prostate cancer: critical issues J.Urol.158(1): 12-22

Trang 8

7 Halpern EJ (2002) Epidermiology and histopathology of

prostate cancer In: Halpern EJ, Cochlin Mb DLI, Goldberg BB

Imaging of the prostate 1st ed Martin Dunitz, London-New

York: 19-25

8 Nguyễn Phương Hồng (2000) Sử dụng PSA trong phát hiện

ung thư TTL Ngoại khoa, tập XLII (số 4)l: 46-50

9 Nguyễn Phương Hồng (2000) Thăm trực tràng: Kỹ thuật và lợi

ích trong phát hiện ung thư TTL Ngoại khoa, tập XLIII (số 5):

57-60

10 Nguyễn Việt Hải, Nguyễn Thụy Linh (2005) Nghiên cứu đặc

điểm mô bệnh học của ung thư tuyến tiền liệt Y học Việt Nam

Tập 313: 736-740

11 Presti JC, Jr, (2004) Neoplasm of the prostate gland In: Tanagho

EA, McAninch JW Smith’s General Urology, 16thed, LANGE Medical Book/McGrow - Hill, NewYork: 367-384

12 Reiter RE, de Kernion JB, (2002) Epidermiology, Etiology and Prevention of Prostate Cancer In: PC Walsh, AB Retik, ED Vaughan, AJ Wein (eds), Campell's Urology, 8thed, Saunder Company, USA,Chapt 11: 3003-3014

13 Steinberg GD, Carter BS, Beaty TH, Childs B, Walsh PC (1990)

Family history and the risk of prostate cancer Prostate, 17: 337-347.

Ngày đăng: 21/01/2020, 16:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w