1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hội chứng thực bào máu ở người lớn: Nhân 30 trường hợp điều trị tại bệnh viện bệnh nhiệt đới TP.HCM

5 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 294,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị hội chứng thực bào máu ở người lớn. Nghiên cứu mô tả 30 bệnh nhân người lớn bị hội chứng thực bào máu điều trị tại khoa sốt kéo dài - Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới từ tháng 9 năm 2009 đến tháng 10 năm 2011.

Trang 1

HỘI CHỨNG THỰC BÀO MÁU Ở NGƯỜI LỚN: NHÂN 30 TRƯỜNG HỢP

ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI TP HCM

Lê Bửu Châu*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị hội chứng thực bào máu ở người

lớn

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả 30 bệnh nhân người lớn bị hội chứng thực bào máu

điều trị tại Khoa sốt kéo dài - Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới từ tháng 9 năm 2009 đến tháng 10 năm 2011

Kết quả: Tuổi trung vị là 31 (thay đổi từ 16-68 tuổi) Tỷ lệ nam:nữ là 2,3:1 Tất cả các bệnh nhân đều

nhập viện với triệu chứng sốt kéo dài Gan to, lách to, thiếu máu, xuất huyết, vàng da, tiêu chảy và sụt cân chiếm tỷ lệ lần lượt là 73,3; 56,7; 53,3; 16,7, 33,3, 30 và 23,3% Giảm một hay nhiều dòng tế bào máu ngoại biên chiếm 96,7% Nguyên nhân hội chứng thực bào máu bao gồm: ung thư hạch (n=2), theo dõi bệnh bạch cầu (n=1), nhiễm khuẩn (n=5), bệnh tự miễn (n=1) và không rõ nguyên nhân (n=21) Thời gian

từ lúc nhập viện đến lúc chẩn đoán được hội chứng thực bào máu là 7 ngày (thay đổi từ 2-15 ngày) Nguyên nhân tử vong của các bệnh nhân trong mẫu khảo sát là suy đa cơ quan

Kết luận: Dựa vào biểu hiện lâm sàng và công thức máu có thể giúp gợi ý chẩn đoán sớm hội chứng

thực bào máu Đa số các trường hợp vẫn chưa xác định được nguyên nhân gây ra hội chứng này

Từ khóa: Hội chứng thực bào máu

ABSTRACT

HEMOPHAGOCYTIC SYNDROME IN ADULTS: A CASE SERIES OF 30 PATIENTS AT THE

HOSPITAL FOR TROPICAL DISEASES

Le Buu Chau* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 146 - 150

Objectives: Investigating clinical presentations, laboratory results, and outcomes of haemophagocytic syndrome in adults

Methods: A consecutive series of 30 adults with HLH diagnosed at The Hospital for Tropical Diseases from September 2009 to October 2011 has been studied prospectively and descriptively

Results: The median age at diagnosis was 31 years (range: 16-68 years), with a male: female ratio of

2.3:1 All of the patients presented with prolonged fever Evidence of hepatomegaly, splenomegaly, anemia, bleeding, jaundice, diarrhea, and weight loss were seen 73.3, 56.7, 53.3, 16.7, 33.3, 30 and 30.8% of

patients, respectively 96.4% of the patients had at least a mono or bi- or trilineage cytopenia The causes of

HLH were as follows; lymphoma (n=2), suspected leukemia (n=1), infection (n=5), rheumatologic illness (n=1), and idiopathic (n=21) The median time from admission to Hospital to diagnosis was 7 days (2-15

days) Multi-system organ failure was the most common cause of death

Conclusion: The clinical characteristics and complete bood count result are the critical factors for early

diagnosis HLH The high percentage of associated causes with HLH is unknown

Keyword: Haemophagocytic syndrome, Hemophagocytic lymphohistiocytosis, HLH

* Bộ môn nhiễm, ĐHYD Tp HCM

Tác giả liên lạc: Ths Lê Bửu Châu ĐT: 0918115600 Email: buuchaule@yahoo.com

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội chứng thực bào máu có các biểu hiện

gồm sốt, lách to, giảm các dòng tế bào máu

ngoại biên và có hiện tượng thực bào trong tủy

xương, gan, lách và hạch Có 2 hình thái khác

nhau của hội chứng thực bào máu cùng có đặc

điểm chung là đáp ứng miễn dịch mạnh mẽ

nhưng không hiệu quả, đe dọa tính mạng của

người bệnh: Hội chứng thực bào máu nguyên

phát và hội chứng thực bào thứ phát Bệnh

thường được kích hoạt bởi nhiễm khuẩn Ngoài

ra còn được kích hoạt bởi các nguyên nhân khác

như bệnh tự miễn hoặc bệnh lý ác tính Tuy

hiếm gặp nhưng tỷ lệ tử vong ở bệnh nhận bị

HLH thay đổi từ 22% đến 72% tùy theo nghiên

cứu(2,9) Tác giả Shabbir M(9) báo cáo 18 trường

hợp HLH ở người lớn qua 5 năm theo dõi, tỷ lệ

tử vong lên đến 72% Hai nghiên cứu đa quốc

gia về hội chứng này năm 1994 và 2004 đều

được thực hiện ở trẻ em(4,5) Đối với người lớn,

trong thời gian gần đây số lượng bệnh nhân

HLH nhập viện có xu hướng gia tăng và tỷ lệ tử

vong khá cao Nghiên cứu này mô tả các đặc

điểm lâm sàng và cận lâm sàng của HLH nhằm

giúp nhận diện sớm hội chứng này để có hướng

can thiệp kịp thời cho người bệnh, góp phần

giảm tỷ lệ tử vong

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Tất cả các bệnh nhân lớn hơn 14 tuổi, nhập

Khoa Nhiễm B- Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới TP

HCM, có đủ tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng

thực bào máu theo Hội huyết học Hoa Kỳ năm

1991(5) đều được đưa vào nghiên cứu Định

nghĩa giảm các dòng máu ngoại khi:

Hemoglobin < 9 g/dL (dòng HC), Neutrophil

count < 1100/mm3 (dòng BC), Tiểu cầu <

100.000/mm3(dòng TC)

Tủy đồ được thực hiện tại Bệnh viện Truyền

máu và huyết học TP HCM Các xét nghiệm

sinh hóa, vi sinh, chẩn đoán hình ảnh được thực

hiện tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới TP Hồ Chí

Minh và Trung Tâm chẩn đoán Y khoa Medic

Phương pháp nghiên cứu

Mô tả, thiết kế cắt ngang Các kết quả được tính ra tỷ lệ %, trung bình ± độ lệch chuẩn, trung

vị (khoảng) Các số liệu được xử lý với phần mềm SPSS 11.0 dùng cho Windows

KẾT QUẢ

Trong khoảng thời gian 2 năm từ tháng 09/2009 đến tháng 10/2011, có tất cả 30 người bệnh được chẩn đoán và điều trị hội chứng thực bào máu (HLH) tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới

Đặc điểm mẫu khảo sát

Bảng 1: Đặc điểm dịch tễ và lâm sàng của 30 BN

HLH nghiên cứu

(n=30)

Tỷ lệ

Trọng lượng (Kg) (trung bình  ĐLC) 52,5  7,4 (37-78)

Nơi cư ngụ

Số ngày bệnh trước nhập viện Trung vị

(khoảng)

15 (2-180)

#::

01 BN Tiểu đường, 01 BN bị hội chứng thận hư

@

Có 3 BN được chẩn đoán sau khi làm tủy đồ lần 2

Bảng 2: Đặc điểm cận lâm sàng của 30 BN HLH

nghiên cứu

Đặc điểm Số bệnh nhân (%)

Số lượng tế bào máu ngoại biên

Không giảm các dòng tế bào

máu

1 (3,3)

Trang 3

Giảm 1 dòng tế bào 11/30 (36,7)

*: Số trung bình  độ lệch chuẩn [giới hạn]

**: Trung vị [khoảng tứ phân vị]

Nguyên nhân và kết quả điều trị HLH

Bảng 3: Nguyên nhân của HLH

Nguyên nhân HLH Số ca

(n=30)

Tỷ lệ

Bảng 4: Kết quả điều trị HLH

Kết quả điều trị Số ca

(n=30)

Tỷ lệ

*: 1 trường hợp nhiễm khuẩn huyết do

Klebsiella pneumoniae trên cơ địa tiểu đường, điều

trị khỏi với kháng sinh Ceftriaxone phối hợp

Levofloxacine, 6 bệnh nhân còn lại không tìm

được nguyên nhân, điều trị kháng sinh phổ

rộng: hết sốt lúc ra viện nhưng chỉ có 3 bệnh

nhân có CTM lúc ra viện về bình thường Có 2

BN được kiểm tra lại tủy đồ lúc ra viện: kết quả tủy đồ trở về bình thường

BÀN LUẬN

Qua thời gian khảo sát từ tháng 9 năm

2009 đến tháng 10 năm 2011, có 30 trường hợp hội chứng thực bào máu được chẩn đoán Tiêu chuẩn chẩn đoán HLH của Hội huyết học Hoa Kỳ năm 2004 bao gồm 5 trong 8 biểu hiện: Sốt kéo dài, lách to, giảm ít nhất 2 dòng máu ngoại biên, tăng triglyceride máu và/hoặc giảm fibringen máu, tăng ferritin, giảm hoặc mất hoạt động của tế bào diệt tự nhiên, tăng CD 25 hòa tan và có hiện tượng thực bào máu trong tủy xương hoặc trong lách, trong hạch Tiêu chuẩn này nhằm chọn bệnh nhân đưa vào nghiên cứu HLH-2004 và

áp dụng cho bệnh nhi Trong điều kiện thực

tế, chúng tôi chưa có điều kiện để đánh giá hoạt động của tế bào diệt tự nhiên cũng như

đo CD25 Vì thế, xác định một bệnh nhân bị HLH, chúng tôi dựa vào biểu hiện lâm sàng, bất thường công thức máu, thay đổi các xét nghiệm sinh hóa và nhất là tất cả đều có hiện tượng thực bào máu trong tủy xương được xác nhận qua tủy đồ

Trong số 30 trường hợp HLH được khảo sát, tuổi trung bình 31, thay đổi từ 16 đến 68, tỷ lệ nam chiếm đa số (21/30 trường hợp) Biểu hiện lâm sàng thường gặp nhất là sốt kéo dài với thời gian sốt trung bình là 15 ngày, có trường hợp dài nhất là sốt kéo dài 6 tháng với 3 lần nhập viện và chẩn đoán chỉ xác định khi tìm thấy vi khuẩn lao trong dịch hút từ tuyến mang tai Ngược lại có bệnh nhân chỉ nhập viện vì sốt ngày thứ 2, được chẩn đoán là sốt xuất huyết Sau đó diễn tiến nặng dần, tủy đồ nghi ngờ bệnh lý ác tính dòng lympho Biểu hiện kèm với sốt là các triệu chứng huyết học như gan lách to, thiếu máu, xuất huyết (bảng 1) Các biểu hiện này cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đây

về HLH(1,6).Ngoài ra tiêu chảy và sụt cân cũng là những triệu chứng quan trọng chiếm 30 và 23,3% Chỉ có một bệnh nhân đang điều trị tiểu đường type 2, có cấy máu dương tính với

Trang 4

Klebsiella pneumoniae Trong mẫu khảo sát không

ghi nhận trường hợp nào có tổn thương thần

kinh như liệt các dây thần kinh sọ não hay co

giật Trong nghiên cứu HLH-94 thực hiện ở trẻ

em dưới 15 tuổi, số bệnh nhân có bất thường về

thần kinh chiếm tỷ lệ khá cao: 37%(5) và bệnh

nhân có biểu hiện này thường có kết quả tiên

lượng xấu(7) Đây chính là cơ sở sử dụng

corticoid loại Dexamethasone trong điều trị do

tính xâm nhập vào hàng rào máu não cao

Trong mẫu 30 bệnh nhân đưa vào nghiên

cứu, chỉ có 01 trường hợp không giảm dòng tế

bào máu ngoại biên nào Số còn lại đều có bất

thường trong CTM với biểu hiện giảm 1 hoặc 2

hoặc cả 3 dòng tế bào máu ngoại biên, trong đó

thường gặp nhất, hơn 50%, là giảm 2 trong 3

dòng hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu (bảng 2)

Đây là gợi ý ban đầu quan trọng giúp bác sĩ lâm

sàng chú ý và thực hiện các xét nghiệm để chẩn

đoán HLH và những nguyên nhân gây hội

chứng này Thời gian chẩn đoán được HLH

trong số những bệnh nhân nghiên cứu trung

bình là 7 ngày, sớm nhất là 2 ngày Tuy nhiên có

những trường hợp phải chờ đến làm tủy đồ lần

thứ 2 mới xác định được chẩn đoán Do vậy thời

gian chẩn đoán được HLH có thể kéo dài đến 2

tuần (bảng 1) Kết quả các xét nghiệm như tăng

triglycerid, ferritin và giảm fibrinogen, giảm

albumin cũng rất thường xảy ra (bảng 2) Trong

đó ferritin tăng xảy ra ở tất cả các bệnh nhân

được thực hiện xét nghiệm này Điều này cũng

phù hợp với các tác giả khác(3)

Nguyên nhân của HLH được xác định chỉ

chiếm 30%, bao gồm nhiễm khuẩn, bệnh lý ác

tính cũng như bệnh tự miễn Hai trong trường

hợp nhiễm lao được chẩn đoán xác định bằng

kết quả vi sinh, trường hợp còn lại chẩn đoán

gợi ý dựa vào hình ành X-quang phổi, CT Scan

ngực và ý kiến hội chẩn của bác sĩ chuyên khoa

lao Kết quả cấy máu chỉ dương tính 01 trường

hợp (3,3%) ở bệnh nhân đang điều trị bệnh tiểu

đường (bảng 3) Bệnh nhân thường đến bệnh

viện trong bệnh cảnh sốt kéo dài, đã được điều

trị kháng sinh tuyến trước do vậy kết quả cấy

máu dương tính không cao Theo y văn, các

trường hợp HLH thứ phát do nhiễm vi khuẩn chỉ chiếm 31,1%(2) Phần lớn các bệnh nhân còn lại trong nghiên cứu không xác định được nguyên nhân (70%) Đây là vấn đề khó khăn trong việc lựa chọn giải pháp điều trị và các trường hợp tử vong đa số rơi vào nhóm này Một nguyên nhân khác được đề cập trong y văn kích hoạt HLH là nhiễm Epstein–Barr virus Tuy nhiên theo khảo sát chỉ có một bệnh nhân có IgM-anti EBV dương tính, trường hợp này được xác định sau đó là lymphoma, diễn tiến điều trị thuận lợi ở BV Ung Bướu Không có bệnh nhân nào nhiễm HIV và tỷ lệ nhiễm HBV cũng như HCV tương tự như trong cộng đồng

Về điều trị: Trong mẫu khảo sát có 2 trường hợp tử vong trong bệnh cảnh suy đa cơ quan, các trường hợp chuyển viện điều trị theo chuyên khoa cũng có thể có tử vong nhưng không theo dõi được Các trường hợp sau khi điều trị kháng sinh phổ rộng, hết sốt, xuất viện nhưng mất liên lạc không theo dõi được tình trạng bệnh nhân sau đó Trong số 30 bệnh nhân khảo sát, có 1 trường hợp bị hội chứng thận hư, điều trị kéo dài với corticoid, nhập viện lần thứ

3 mới tìm được vi khuẩn lao trong mủ tuyến mang tai Tỷ lệ bệnh nhân diễn tiến ổn định, xuất viện chiếm 23,3% (bảng 4) Điều này cho thấy nếu cộng thêm số trường hợp sống còn sau khi chuyển sang bệnh viện bạn điều trị theo chuyên khoa thì tỷ lệ tử vong chung tương tự các tác giả khác(2, 9) Tác giả Kaito và cs nghiên cứu hồi cứu 34 bệnh nhân bị HLH, yếu tố tiên lượng tử vong gồm: (a) tuổi trên 30; (b) bản chất

của bệnh nền; (c) hemoglobin máu< 10 g/dl; (d) tiểu cầu <100.000/mm3; (e) ferritin máu > 500

μg/l; hoặc (f) tăng bilirubin hoặc alkaline phosphatase(8) Tử vong trong HLH thường xảy

ra trong 4-8 tuần đầu do suy đa cơ quan, xuất huyết và nhiễm khuẩn huyết(2) Trong số 7 bệnh nhân diễn tiến hết sốt và xuất viện, chỉ có 01 trường hợp xác định được nguyên nhân là

nhiễm khuẩn huyết do Klebsiella pneumoniae, số

còn lại được điều trị kháng sinh phổ rộng và hồi sức, không có trường hợp nào sử dụng corticoid cũng như immunoglobulin truyền tỉnh mạch

Trang 5

Trước khi ra viện, có 2 bệnh nhân được làm tủy

đồ, kết quả không còn thấy hiện tượng thực bào

trong tủy xương

KẾT LUẬN

Chẩn đoán HLH gợi ý nhất là bệnh cảnh sốt

kéo dài, gan lách to, thiếu máu kèm theo giảm

một hoặc nhiều dòng tế bào máu ngoại biên Tỷ

lệ xác định được nguyên nhân chỉ chiếm 30%

Nguyên nhân bao gồm nhiễm khuẩn, trong đó

có lao phổi và lao các cơ quan khác; bệnh lý ác

tính hệ tạo máu và bệnh tự miễn Tử vong

thường xảy ra trong bệnh cảnh suy đa cơ quan

KIẾN NGHỊ

Nghiên cứu có hệ thống để xác định nguyên

nhân, yếu tố quan trọng góp phần vào việc cứu

sống bệnh nhân Tìm hiểu sâu hơn về cơ chế

bệnh sinh cũng như các giải pháp điều trị hiệu

quả, nhất là những trường hợp không tìm được

nguyên nhân kích hoạt HLH Cần có kế hoạch

theo dõi lâu dài những bệnh nhân bị hội chứng

thực bào máu sau khi ra viện

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Aricò M, Janka G, Fischer A, Henter JI, et al, (1996)

Hemophagocytic lymphohistiocytosis Report of 122 children

from the International Registry FHL Study Group of the

Histiocyte Society Leukemia 10(2):197-203

2 Créput C, Galicier L, Buyse S, Azoulay E, (2008) Understanding organ dysfunction in hemophagocytic lymphohistiocytosis

Intensive Care Med, 34(7):1177-87

3 Gupta S, et (2010) Primary and secondary hemophagocytic lymphohistiocytosis: clinical features, pathogenesis and therapy

Expert Rev Clin Immunol, 6(1):137-54

4 Henter JI, Horne A, Aricó M, Egeler RM, Filipovich AH, et al, (2007) HLH-2004: Diagnostic and therapeutic guidelines for

hemophagocytic lymphohistiocytosis Pediatr Blood Cancer

48(2):124-31

5 Henter JI, Samuelsson-Horne A, Aricò M, et all, (2002) Treatment of hemophagocytic lymphohistiocytosis with

HLH-94 immunochemotherapy and bone marrow transplantation

Blood 100(7):2367-73

6 Hirst WJ, Layton DM, Singh S, et al, (1994) Haemophagocytic

lymphohistiocytosis: experience at two U.K centres Br J Haematol 88(4):731-9

7 Horne A, Trottestam H, Aricò M, ET AL, (2008) Frequency and spectrum of central nervous system involvement in 193 children

with haemophagocytic lymphohistiocytosis Br J Haematol

140(3):327-35

8 Kaito K, Kobayashi M, Katayama T, Otsubo H, Ogasawara Y, Sekita T, Saeki A, Sakamoto M, Nishiwaki K, Masuoka H, Shimada T, Yoshida M, Hosoya T (1997) Prognostic factors of hemophagocytic syndrome in adults: analysis of 34 cases Eur J Haematol 59:247–253

9 Shabbir M, Lucas J, Lazarchick J, Shirai K.2011 Secondary hemophagocytic syndrome in adults: a case series of 18 patients

in a single institution and a review of literature Hematol Oncol,

29(2):100-6

Ngày đăng: 21/01/2020, 16:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w