1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm viêm nội tâm mạc nhiễm trùng theo tiêu chuẩn duke cải biên tại Viện tim, năm 2010 và 2011

6 95 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 422,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thiết kế nhằm tìm hiểu các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị của bệnh nhân Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn theo tiêu chuẩn chẩn đoán duke cải biên, tại Viện Tim trong năm 2010 và 2011.

Trang 1

DUKE CẢI BIÊN TẠI VIỆN TIM, NĂM 2010 VÀ 2011 

Nguyễn Thanh Huy*, Phạm Nguyễn Vinh** 

TÓM TẮT 

Mục  tiêu  nghiên  cứu:  Nghiên cứu được thiết kế nhằm tìm hiểu các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và 

điều trị của bệnh nhân Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn (VNTMNK) theo tiêu chuẩn chẩn đoán Duke cải biên,  tại Viện Tim trong năm 2010 và 2011.  

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Phương pháp cắt ngang mô tả, hồi cứu từ 43 bệnh án của bệnh 

nhân VNTMNK tại Viện tim, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2010 và 2011.  

Kết quả: Tuổi trung bình là 48,1 (khoảng dao động: 14‐87). Nam nhiều hơn nữ (56,1% và 43,9%). Tất cả 

bệnh nhân đều là van tim tự nhiên. Theo tiêu chuẩn Duke cải biên chẩn đoán xác định VNTMNK, bệnh nhân có 

3 tiêu chuẩn phụ chiếm tỉ lệ cao nhất với 65,1% và hơn một nửa bệnh nhân được chẩn đoán với siêu âm tim và 3  tiêu chuẩn phụ (51,2%). 74,4% bệnh nhân VNTMNK được điều trị theo kinh nghiệm ngay từ đầu. Kháng sinh  được chọn lựa điều trị theo kinh nghiệm thường nhất Ceftriaxone + Gentamycine với 69.2%. Tất cả bệnh nhân  đều được điều trị thành công. Thời gian hết sốt trung bình do Steptococcus, Gemalla Haemolysans và sau cấy  máu âm tính lần lượt là 7,4 (khoảng dao động: 3‐20), 10,3 (khoảng dao động: 6‐18) và 8,6 (khoảng dao động: 2‐ 18). Chỉ có 2 trường hợp dị ứng với thuốc kháng sinh (Penicillin).  

Kết luận: Chẩn đoán bằng siêm âm tim có vai trò quan trọng. Điều trị chủ yếu theo kinh nghiệm và thời 

gian điều trị kéo dài là rào cản chính trong điều trị. Ngoài ra, kết quả từ nghiên cứu này cho thấy cần thiết phải  triển khai các chương trình dự phòng các yếu tố nguy cơ gây VNTMNK và tái phát cho bệnh nhân tại Viện Tim  nói chung và dân cư tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.  

Từ khóa: viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, tiêu chuẩn Duke cải biên. 

ABSTRACT 

CHARACTERS OF PATIENTS WITH INFECTIVE ENDOCARDITIS (IE) FOLLOWED THE MODIFIED 

DUKE CRITERIA, AT HEART INSTITUTE IN HO CHI MINH CITY (HCMC) 

Nguyen Thanh Huy, Pham Nguyen Vinh  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3‐ 2013: 73 ‐ 78 

Purpose: This study was designed to explore the clinical, paraclinical and treatment characters of patients 

with  infective  endocarditis  (IE)  followed  the  modified  Duke  criteria,  at  Heart  Institute  in  Ho  Chi  Minh  city  (HCMC).  

Patients  and  methods:  Cross‐sectional  and  descriptive  study,  retrospected  from  43  medical  records  of 

patients with IE at the Institute of Cardiology Ho Chi Minh city, in 2010 and 2011.  

Results:  The  average  of  age  was  48.1  (range:  14‐87).  Male  was  more  than  female  (56.1%  and  43.9%). 

According to the modified Duke criteria of IE diagnosis: patients with three minor criteria consisted the highest  percentage with 65.1% and more than half of patients were diagnosed based on echocardiography and three minor  criteria (51.2%). 74.4% of patients were empirically treated by antibiotics before having results of blood culture.  The  most  common  antibiotics  used  were  Ceftriaxone  +  Gentamycine  with  69.2%.  All  patients  were  treated 

Trang 2

successfully. The duration (day) of fever which caused by Streptococcus, Gemalla Haemolysans and positive blood  growing  averaged  7.4  (rang:  3‐20),  10.3  (range:  6‐18)  and  8.6  (range:  2‐18)  respectively.  There  were  only  2  patients who were allergic to antibiotic (Penicillin).  

Conclusions: Diagnosis by echocardiography plays an important role. Empirical treatment by antibiotics 

before having results of blood culture and prolonged treatment duration are the main treatment restraint. Besides,  results from this study indicate the necessity of implementing the prevention program about the risk factors and  reinfection of IE at Heart Institute in HCMC commonly and population in Ho Chi Minh city particularly. 

Key words: infective endocarditis, the modified Duke criteria. 

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn là tình trạng 

viêm có loét và sùi, thường xảy ra (nhưng không 

bắt  buộc)  trên  một  nội  tâm  mạc  đã  có  tổn 

thương  bẩm  sinh  hay  mắc  phải  từ  trước.  Tuy 

nhiên,  các  yếu  tố  tác  động  đến  VNTMNK  như 

dự  phòng  và  điều  trị  các  yếu  tố  nguy  cơ  gây 

VNTMNK,  môi  trường  sống,  điều  kiện  và  vệ 

sinh cá nhân … chưa được quan tâm đúng mức. 

Trước  khi  có  kháng  sinh  tử  vong  là  100%. 

Năm 1940 lần đầu tiên người ta điều trị 1 trường 

hợp  VNTM  thành  công  bằng  Penicillin.  Hiện 

nay, dù có nhiều loại kháng sinh, nhưng tỷ lệ tử 

vong  cao  và  điều  trị  còn  nhiều  tốn  kém.  Tiên 

lượng bệnh phụ thuộc vào độc lực vi khuẩn, cơ 

địa bệnh nhân, sang thương tim cơ bản và thời 

gian  phát  hiện  do  đó  việc  điều  trị  dự  phòng 

VNTM nhiễm khuẩn luôn cần thiết. 

Trên  thế  giới,  nhiều  công  trình  nghiên  cứu 

về đặc điểm của viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn 

đã được tiến hành, với kết quả khá tốt. Tại VN, 

tuy đã có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều 

trị  như  các  nước  trên  thế  giới,  nhưng  đây  vẫn 

còn  là  bệnh  lý  gây  nhiều  biến  chứng  và  có  tử 

suất cao (7,14) do việc dự phòng, chẩn đoán sớm, 

và điều trị tích cực còn nhiều hạn chế lớn, mặc 

dù  đây  là  những  yếu  tố  then  chốt  cải  thiện  dự 

hậu của bệnh.  

Viện  Tim  là  một  trong  những  bệnh  viện 

chuyên điều trị về các vấn đề tim mạch đầu tiên 

và phát triển rất mạnh từ năm 2003. Từ 2003 đến 

nay, có 18.920 bệnh nhân, với 249 bệnh nhân bị 

VNTMNK. Trong năm 2010 và 2011, có 43 bệnh 

nhân đã được chẩn đoán và điều trị VNTMNK. 

Tuy  nhiên,  chưa  có  nghiên  cứu  nào  về  bệnh  lý 

này  trong  thời  gian  qua  tại  Viện  tim.  Vì  vậy,  chúng tôi tiến hành nghiên cứu để tìm hiểu các  đặc  điểm  lâm  sàng  và  cận  lâm  sàng  của  bệnh  nhân VNTMNK tại Viện Tim trong năm 2010 và 

2011  theo  tiêu  chuẩn  chẩn  đoán  Duke  cải  biên.  Kết  quả  từ  nghiên  cứu  này  góp  phần  cải  thiện  chiến lược dự phòng và điều trị triệt để hơn các  yếu  tố  nguy  cơ  gây  VNMTNK  tại  Viện  tim  nói  chung và tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu 

Nghiên cứu cắt ngang. 

Địa điểm nghiên cứu 

Viện tim Thành phố Hồ Chí Minh. 

Thời gian nghiên cứu 

Từ tháng 3 đến tháng 8/2012. 

Đối tượng nghiên cứu 

Các  bệnh  nhân  viêm  nội  tâm  mạc  nhiễm  khuẩn  được  chẩn  đoán  (theo  tiêu  chuẩn  Duke  cải biên) và điều trị tại Viện Tim trong năm 2010 

và 2011. Các tiêu chuẩn Duke cải biên bao gồm: 

Tiêu chuẩn chính  

Cấy máu dương tính: 

Vi khuẩn điển hình gây VNTMNT từ 2 mẫu  cấy máu riêng biệt: 

Streptococcus  viridans,  Streptococcus  bovis, 

nhóm HACEK, Staphylococcus aureus, hoặc 

Enterococcus  mắc  phải  trong  cộng  đồng  mà 

không có một ổ nguyên phát, hoặc 

Vi  khuẩn  có  thể  gây  VNTMNT  từ  những  mẫu cấy máu dương tính một cách dai dẳng: 

≥  2  mẫu  cấy  máu  lấy  cách  nhau  >  12  giờ, 

Trang 3

biệt  (mẫu  đầu  và  mẫu  cuối  lấy  cách  nhau  ≥  1 

giờ),  hoặc  một  mẫu  cấy  máu  duy  nhất  dương 

tính  với  Coxiella  burnetii  hoặc  nồng  độ  kháng 

thể IgG kháng pha 1 > 1:800. 

Bằng chứng tổn thương nội tâm mạc: 

Siêu âm tim điển hình: 

 Khối  trong  tim  di  động  bám  trên  van  hoặc 

cấu trúc nâng đỡ, trên đường đi của dòng phụt 

ngược, hoặc bám trên vật liệu ghép, hoặc 

Áp‐xe, hoặc 

Sút  một  phần  mới  xuất  hiện  của  van  nhân 

tạo, hoặc 

Hở van mới xuất hiện 

Tiêu chuẩn phụ 

1) Bệnh tim tạo thuận lợi hoặc chích ma túy 

tĩnh mạch. 

2) Sốt >= 38°C. 

3)  Hiện  tượng  mạch  máu:  thuyên  tắc  động 

mạch, nhồi máu phổi do sùi, phình mạch nhiễm 

trùng,  xuất  huyết  trong  hộp  sọ,  xuất  huyết  kết 

mạc, sang thương Janeway. 

4) Hiện tượng miễn dịch: viêm cầu thận, nốt 

Osler, chấm Roth, yếu tố thấp. 

5)  Cấy  máu  dương  tính  nhưng  chưa  đủ 

thành tiêu chuẩn chính hoặc bằng chứng huyết 

thanh học của nhiễm trùng tiến triển do vi sinh 

vật có thể gây VNTMNK. 

Tiêu chuẩn chọn lựa 

Thỏa 2 tiêu chuẩn sau: 

Đủ tiêu chuẩn của chẩn đoán Duke cải biên: 

Có ít nhất 2 tiêu chuẩn chính 

Hoặc  1  tiêu  chuẩn  chính  và  ít  nhất  3  tiêu 

chuẩn phụ 

Hoặc 5 tiêu chuẩn phụ trở lên; 

Bệnh  nhân  điều  trị  VNTMNT  lần  đầu  tại  bệnh viện trong năm 2010 ‐2011. 

KẾT QUẢ Đặc điểm mẫu nghiên cứu 

Bảng 1: Đặc điểm tuổi và giới của bệnh nhân  VNTMNK tại Viện Tim, năm 2010 và 2011 

Tuổi 43

Giới 43

Ghi chú: n: cỡ mẫu nghiên cứu. 

Bảng 2: Tiền sử sử dụng kháng sinh của bệnh nhân 

VNTMNK tại Viện Tim, năm 2010 và 2011 

Tiền sử sử dụng kháng sinh trước

Ghi chú: n: cỡ mẫu nghiên cứu; %: tỷ lệ phần trăm. 

Bảng 3: Chẩn đoán lâm sàng và cận lâm sàng 

VNTMNT trong Duke cải biên của bệnh nhân 

VNTMNK tại Viện Tim, năm 2010 và 2011 

Tiêu chuẩn chẩn đoán VNTMNT theo Duke cải biên

43

Tiêu chuẩn phụ chẩn đoán VNTMNT

Ghi chú: n: cỡ mẫu nghiên cứu; %: tỷ lệ phần trăm 

Bảng 4: Tình hình điều trị của bệnh nhân VNTMNK 

tại Viện Tim, năm 2010 và 2011 

Đặc điểm điều trị 43 Điều trị dựa theo kinh nghiệm ngay từ đầu 73,5

Trang 4

Đặc tính n %

Điều trị theo kháng sinh đồ ngay từ đầu 26,5

Kháng sinh điều trị theo kinh nghiệm 32

Khác (Vancomycin + Gentamycin hoặc

Kháng sinh điều trị dựa trên kháng sinh đồ 11

Khác (Vancomycin + Gentamycin hoặc

Kết quả điều trị 43

VNTMNK được điều trị thành công 100

Điều trị thành công theo tác nhân gây bệnh 43

Thời gian hết sốt theo tác nhân gây bệnh

Streptococcus 22

Dị ứng thuốc Penicillin trong điều trị 2

Ghi chú: n: cỡ mẫu nghiên cứu; %: tỷ lệ phần trăm 

BÀN LUẬN

Bệnh  xuất  hiện  ở  nhiều  lứa  tuổi  (khoảng 

giao động: 14 đến 87), với tuổi trung bình là 48.1 

và nam nhiều hơn nữ (56,1% và 43,9%). 

Phần  lớn  bệnh  nhân  chưa  từng  sử  dụng 

kháng  sinh  trước  khi  nhập  viện  (74,5%),  tuy 

nhiên còn một tỷ lệ khá lớn bệnh nhân đã từng 

điều  trị  tại  các  Trung  tâm  Y  tế  nhưng  không 

khỏi hoặc đến các Trung tâm Y tế để tiêm kháng 

sinh  điều  trị  triệu  chứng.  Nếu  thực  sự  bệnh 

nhân  đến  các  Trung  tâm  Y  tế  để  điều  trị  triệu 

chứng thì đây là vấn đề đáng lo ngại, vì đây là 

bệnh vẫn là bệnh lý nguy hiểm với tử suất cao(14)  hoặc bệnh sẽ tiến triển xấu hoặc khó điều trị do  kháng thuốc kháng sinh tại tuyến bệnh viện cuối  như Viện Tim hoặc Bệnh viện Chợ Rẫy  Do đó,  cần phải có một khảo sát sâu hơn về thực trạng  điều  trị  bệnh  VNTMNK  đối  với  các  bệnh  nhân  này  để  đánh  giá  đúng  nguyên  nhân  và  có  các  can thiệp cụ thể. Bên cạnh đó, việc đầu tư trang  thiết bị và chẩn đoán lâm sàng và xử trí ban đầu  tại các bệnh viện tuyến cơ sở rất quan trọng.  Trong  bảng  3,  bệnh  nhân  luôn  có  từ  2  tiêu  chuẩn  phụ  trở  lên  và  BN  có  3  tiêu  chuẩn  phụ  chiếm  tỷ  lệ  cao  nhất  (65,1%).  Dựa  trên  các  tiêu  chuẩn chẩn đoán VNTMNK theo Duke cải biên,  bệnh nhân được chẩn đoán qua siêu âm tim và 3  tiêu chuẩn phụ chiếm tỷ lệ cao nhất (51,2%), tiếp  theo  là  bằng  2  tiêu  chuẩn  chính  (27,9%),  5  tiêu  chuẩn  phụ  (11%)  và  cấy  máu  và  3  tiêu  chuẩn  phụ (9,3%). Kết quả thể hiện rằng siêu âm tim có  nhiều giá trị chẩn đoán hơn so với cấy máu, điều  này có thể do thời gian có kết quả cấy máu dài  hơn so với siêu âm tim; bên cạnh đó, chẩn đoán  xác định bằng siêu âm tim có kết quả trước nên  kết quả cấy máu thường được sử dụng để theo  dõi điều trị. Tuy nhiên để khẳng định được điều  này  cần  phải  có  một  nghiên  cứu  khác  với  cỡ  mẫu lớn hơn để đáp ứng được các điều kiện của  các phép kiểm sinh thống kê. 

Phần  lớn  bệnh  nhân  được  điều  trị  bằng  kháng  sinh  theo  kinh  nghiệm  trước  khi  có  kết  quả kháng sinh đồ (KSĐ) (73,5%), là do thời gian 

có  kết  quả  KSĐ  lâu  (sau  5  ngày)  và  vì  là  bệnh  cảnh  cấp  tính  nên  không  thể  chở  kết  quả  KSĐ.  Trong  khi  không  thể  rút  ngắn  thời  gian  có  kết  quả KSĐ thì việc tận dụng các hình ảnh trên siêu 

âm để chẩn đoán và kinh nghiệm thực tiễn trên  lâm sàng trong điều trị hết sức quan trọng để cải  thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân VNTMNK.  Phối hợp Penicillin G + Gentamycin thường  được sử dụng để điều trị theo kinh nghiệm cho  các  bệnh  cảnh  lâm  sàng  cho  bệnh  nhân  VNTMNK  tại  Viện  Tim  Thành  phố  Hồ  Chí  Minh với 41,7%, tiếp theo là các phối hợp kháng  sinh  khác  (Vancomycin  +  Gentamycin  hoặc 

Trang 5

Ampicilin  +  Gentamycin)  và  phối  hợp 

Ceftriaxone  +  Gentamycin  với  30,6%  và  27,8%. 

Với những bệnh nhân được điều trị dựa trên kết 

quả KSĐ, phần lớn bệnh nhân cần sử dụng phối 

hợp Penicillin G + Gentamycin (69,2%). Mặc dù 

có chênh lệch nhiều về việc sử dụng kháng sinh 

giữa hai cách điều trị nhưng do nghiên cứu này 

có cỡ mẫu nhỏ nên chưa đánh giá được kết quả 

điều trị theo kinh nghiệm và điều trị theo kháng 

sinh  đồ.  Điều  này  cho  thấy  cần  thiết  phải  triển 

khai nghiên cứu khác trong thời gian tới để có cơ 

sở  và  khuyến  nghị  cụ  thể  cho  việc  sử  dụng 

kháng sinh này. 

Khác với nghiên cứu vào năm 2011 của Trần 

Công Duy và cs, điều đáng mừng trong nghiên 

cứu  này  là  tất  cả  các  bệnh  nhân  VNTMNK  tại 

Viện Tim TpHCM trong năm 2010 và 2011 đều 

được điều trị thành công.  

Vi  khuẩn  được  phân  lập  chiếm  tỷ  lệ  cao 

nhất là Streptococcus (51,2%), đây cũng là gợi 

ý  cho  việc  chọn  lựa  kháng  sinh  điều  trị  theo 

kinh  nghiệm.  Ngoài  ra,  một  tỷ  lệ  đáng  kể  các 

trường  hợp  không  phân  lập  được  vi  khuẩn 

nào  trong  kết  quả  KSĐ  (39,5%).  Kết  quả  này 

cao  hơn  so  với  báo  cáo  của  B  D  Prendergast, 

năm  2004  (2,5%‐31%  có  kết  quả  âm  tính  với 

cấy máu). Điều này cho thấy có thể VNTMNK 

gây  ra  bởi  những  tác  nhân  khác  chưa  được 

phát hiện tại Viện Tim TP. HCM.  

Trong các tác nhân gây bệnh được phân lập 

trong nghiên cứu này, Gemalla Haemolysans và 

Streptococcus gây ra bệnh cảnh sốt kéo dài sau 

khi  dùng  kháng  sinh  với  thời  gian  trung  bình 

lần  lượt  là  10,3  ngày  (khoảng  giao  động:  từ  6 

đến 18 ngày) và 7,4 ngày (khoảng giao động: từ 

3 đến 18 ngày); các trường hợp được chẩn đoán 

VNTMNK  nhưng  cấy  máu  âm  tính  hết  sốt  sau 

8,6 ngày (khoảng giao động: từ 6 đến 18 ngày). 

Thời gian này thấp hơn nhiều so với các nghiên 

cứu khác như nghiên cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy 

của  Trương  Quang  Bình  và  cộng  sự,  năm  2000 

và  Trần  Công  Duy  và  cs,  năm  2011.  Điều  này 

cho thấy hiệu quả điều trị bệnh VNTMNK có cải 

thiện rất nhiều so với những năm trước đây. Chỉ 

có 2 trường hợp dị ứng thuốc kháng sinh trong  quá  trình  điều  trị  và  cả  2  trường  hợp  này  đều  với Penicillin, xuất hiện vào ngày thứ 8 và ngày  thứ 23 sau khi bắt đầu điều trị. 

KẾT LUẬN 

Qua  hồi  cứu  bệnh  nhân  VNTMNK  điều  trị  tại Viện Tim trong năm 2010‐2011, chúng tôi rút 

ra được một số kết luận sau: 

Bệnh  xuất  hiện  ở  nhiều  lứa  tuổi  và  nam  nhiều hơn nữ. 

Bệnh nhân luôn có 2 tiêu chuẩn phụ và chẩn  đoán  bằng  siêu  âm  tim  có  khả  năng  xác  định  bệnh  sớm  nên  vai  trò  quan  trọng  trong  chẩn  đoán bệnh nhân.  

Vi khuẩn được phân lập chiếm tỷ lệ cao nhất 

là Streptococcus, tuy nhiên còn một tỷ lệ khá lớn 

các trường hợp không phân lập được các loại vi  khuẩn. 

Phần lớn bệnh nhân được điều trị theo kinh  nghiệm ngay từ đầu, thường điều trị bằng phối  hợp kháng sinh Penicillin G và Gentamycin.  Thời  gian  hết  sốt  sau  khi  điều  trị  được  rút  ngắn hơn so với các nghiên cứu khác. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Durack  DT.  (1995)  Prevention  of  infective  endocarditis.  N  Engl J Med; 332: 38‐44.  

2 Ferreiros  E,  Nacinovich  F,  Casabe  JH,  Modenseni  IC,  et  al  (2006)  Epidemiological,  clinical  and  microbiologic  profile  on  infective  endocarditis  in  Argentina.  Am  Heart  J,  152(2):  545‐

52. 

3 Guidelines  on  the  prevention,  diagnosis,  and  treatment  of  infective  endocarditis  (2009).  The  Task  Force  on  the  prevention, diagnosis, and treatment of infective endocarditis 

of  the  European  Society  of  Cardiology  (ESC).  Eur  Heart  J  2009;30: 2369‐2413. 

4 Habib G et al (2010), On behalf of the European Association of  Echocardiography.  Recommendations  for  the  practice  of  echocardiography  in  infective  endocarditis.  Eur  J  Echocardiography; 11:202‐219. 

5 Harrison’s  Principles  of  Medicine  (2005),  16th  Edition,  McGraw‐Hill. 

6 Heart  disease  (1992),  4th  edition.  WB  Saunders  Company:  1078‐1105.  

7 Hồ  Huỳnh  Quang  Trí  (1998).  Một  số  nhận  xét  về  viêm  nội  tâm mạc nhiễm trùng sau mổ tim hở tại Viện Tim. Luận án  Thạc sĩ Y học. Bộ môn Nội‐ Trường Đại học Y Dược TP.HCM. 

8 Karchmer  A.W  (2005).  Infective  endocarditis.  Braunwaldʹs  heart disease 7th edition. Elsevier Saunnders: 1633‐58. 

9 Karchmer AW (2008). Infective endocarditis. In: Braunwald’s 

Trang 6

10 Murdoch  DR,  Corey  GR,  Hoen  B,  Miró  JM,  et  al  (2009) 

Clinical  presentation,  etiology  and  outcome  of  infective 

endocarditis in the 21st century. Arch Intern Med; 169(5): 463‐

73. 

11 Phạm Nguyễn Vinh (2002), Bệnh Học Tim Mạch, Tập 1, NXB 

Y học. 

12 The Washington Manual of Medical Therapeutics (2007), 32 nd 

Ed, Lippincott Williams & Wilkins. 

13 Tornos  P,  Lung  B,  Permanyer‐Miralda  G,  et  al  (2005). 

Infective endocarditis in Europe: lessons from the Euro heart 

survey. Heart; 91(5): 571‐75. 

14 Trần  Công  Duy  (2011).  Nghiên  cứu  tiêu  chuẩn  chẩn  đoán 

Duke cải biên và điều trị của viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn 

tại  Bệnh  viện  Chợ  Rẫy.  Tại  địa  chỉ:  http://timmachhoc.vn/index.php?option=com_content&view

=article&id=705:nghien‐cu‐tieu‐chun‐chn‐oan‐duke‐ci‐bien‐ va‐iu‐tr‐ca‐viem‐ni‐tam‐mc‐nhim‐khun‐ti‐bnh‐vin‐ch‐ ry&catid=61:tng‐hp‐nghien‐cu‐lam‐sang&Itemid=284.  

  Ngày nhận bài báo      26‐06‐2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:  03‐08‐2013  Ngày bài báo được đăng:   25–09‐2013 

 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 16:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm