1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực trạng và yếu tố nguy cơ nhiễm sán lá gan nhỏ opisthorchis viverrini ở người tại một số điểm tỉnh Quảng Trị

8 68 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 416,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu đặt vấn đề về: Opistorchis viverrini là một loài ký sinh trùng quan trọng và bị lãng quên, đang ảnh hưởng khoảng 9 triệu người trong vùng Đông Nam Á. Ký sinh trùng có một chu kỳ phức tạp liên quan đến một vật chủ trung gian là các loài cá trong cá nước ngọt. O. viverrini là một tác nhân gây ung thư biểu mô đường mật trực tiếp đến 70% số ca nhiễm bệnh trong vùng lưu hành.

Trang 1

THỰC TRẠNG VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ NHIỄM SÁN LÁ GAN NHỎ   OPISTHORCHIS VIVERRINI Ở NGƯỜI TẠI MỘT SỐ ĐIỂM  

TỈNH QUẢNG TRỊ 

Nguyễn Văn Chương*, Bùi Văn Tuấn*, Huỳnh Hồng Quang* 

TÓM TẮT  

Đặt vấn đề: Opistorchis viverrini là một loài ký sinh trùng quan trọng và bị lãng quên, đang ảnh hưởng 

khoảng 9 triệu người trong vùng Đông Nam Á. Ký sinh trùng có một chu kỳ phức tạp liên quan đến một vật chủ  trung gian là các loài cá trong cá nước ngọt. O viverrini là một tác nhân gây ung thư biểu mô đường mật trực  tiếp đến 70% số ca nhiễm bệnh trong vùng lưu hành.  

Phương pháp: Với thiết kế cắt ngang với cỡ mẫu gần 300, nghiên cứu đánh giá thực trạng nhiễm và một số 

yếu tố nguy cơ nhiễm O viverreni tại hai xã của huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. 

Kết quả: Tỷ lệ nhiễm chung của O. viverrini là 11,4%, có sự khác biệt theo giới với nam chiếm tỷ lệ cao hơn 

nữ 3,3 lần, tập trung cao nhất ở nhóm tuổi 40 ‐ 49; Phần lớn số ca có cường độ nhiễm nhẹ và vừa theo phân loại  của Tổ chức Y tế thế giới; tỷ lệ phát hiện ấu trùng trên cá trắng Cyclocheilichthys armatus là 1,2% và cá mác  Onychostoma elongatum là 1,6%, chưa thấy ấu trùng trên các ốc thu thập.  

Kết  luận: Cả bệnh nhân và các mẫu cá nước ngọt thu thập từ sông đều nhiễm ấu trùng và sán trưởng 

thành O viverrini, ăn gỏi cá sống dẫn đến nhiễm bệnh – Tất cả như một dấu hiệu cảnh báo cho sức khỏe cộng đồng  

Từ khóa: Opistorchis viverrini, yếu tố nguy cơ. 

ABSTRACTS

THE SITUATION AND RISK FACTORS OF LIVER FLUKE INFECTION   OPISTHORCHIS VIVERRINI IN HUMAN AT TWO COMMUNES IN QUANG TRI PROVINCE 

Nguyen Van Chuong, Bui Van Tuan, Huynh Hong Quang 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 525 – 532 

Backgrounds: Opistorchis viverrini is an important parasite neglected, affectings around 9 million people in 

South‐East Asia. The parasite has a complex life‐cycle which involves an intermediate host of freshwater fishes. O.  viverrini  is  an  agent  that  causes  direct  biliary  epithelial  carcinogenic,  accounting  for  70%  of  infected  cases  in  endemic areas.  

Methods: A cross‐sectional study was used with 300 subjects. This study evaluated the situation and risk 

factors of O. viverrini infection in 2 communes of Huong Hoa district, Quang Tri province.  

Result:  The  prevalence  of  infected  O.  viverrini  at  Thanh  and  Xy  communes  were  11.4%.  There  was  a 

relationship between the prevalence of O. viverrini infection and gender, in which males were infected 3.3 times  higher than females. The prevalence of O. viverrini infection was highest in age‐group of 40 ‐ 49 years old. The  majority  of  cases  were  mild  or  moderate  infectious  intensity  by  WHO  criteria.  The  prevalence  of  infected  metacercariae of freshwater fishes as followed: Cyclocheilichthys armatus fish was 1.2%, Onychostoma elongatum  fish was 1.6%, and metacercariae in snails was not found. 

Conclusion:  Both  of  patients  and  specimens  of  freswater  fishes  in  rivers  were  infected  O.  viverrini  and 

metacercaria, eating raw fish was caused parasitic infection. The results should considered as a warning signs for 

* Viện Sốt rét KST‐CT Quy Nhơn  

Trang 2

Key words: Opistorchis viverrini, risk factors 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Bệnh  sán  lá  gan  nhỏ  (SLGN)  ‐  một  trong 

những  bệnh  ký  sinh  trùng  lây  truyền  qua  qua 

thức ăn quan trọng, với 2 loài chính Opisthorchis 

viverrini  (O.viverrini),  Clonorchis  sinensis  (C. 

sinensis)  hay  gặp  ở  Việt  Nam(4,7,10,8),  gây  ảnh 

hưởng rất lớn đến sức khoẻ của con người, đặc 

biệt dẫn đến ung thư biểu mô đường mật. Bệnh 

lưu hành ở các quốc gia Đông Nam Á và Đông 

Âu,  với  khoảng  600  triệu  người  trên  phạm  vi 

toàn cầu có nguy cơ nhiễm. Tại Việt Nam, bệnh 

SLGL nhỏ lưu hành ít nhất 25 tỉnh, thành. Hầu 

hết người bệnh SLGN không có triệu chứng, chỉ 

có  5‐10%  số  ca  nhiễm  nặng  xuất  hiện  các  triệu 

chứng không đặc hiệu, song nhiễm nặng và kéo 

dài có liên quan đến một số bệnh gan mật, thậm 

chí gây ung thư biểu mô đường mật(9).  

Người bị mắc bệnh SLGN là do ăn phải một 

số loài cá nước ngọt có chứa ấu trùng chưa được 

nấu chín, hoặc ăn sống dạng gỏi (cá trắm, cá trôi, 

cá  mè,  cá  chép,  cá  giếc).  Với  tập  quán  và  thói 

quen  của  một  số  vùng  ven  biển  miền  Trung, 

trong đó có Quảng Trị thích ăn các món cá nước 

ngọt  dưới  dạng  “shasimi”  (ăn  với  mù  tạt  hoặc 

dạng  gỏi)  như  một  yếu  tố  nguy  cơ  cao  nhiễm 

bệnh. Huyện Hướng Hóa với 6 xã vùng lìa giáp 

với  biên  giới  Lào  qua  sông  Sepon  với  đa  dạng 

loài  cá  nước  ngọt(8) có  thể  là  nguồn  thực  phẩm 

hàng ngày cho người dân, nên khả năng có lưu 

hành  bệnh  SLGN  là  rất  lớn.  Với  mục  đích  xác 

định  thực  trạng  nhiễm  SLGN  trên  người  và  ấu 

trùng  nhiễm  trên  vật  chủ  trung  gian,  góp  phần 

bổ  sung  dữ  liệu  về  dịch  tễ  học,  đề  tài  này  tiến 

hành nhằm mục tiêu:  

‐ Xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm SLGN trên 

bệnh  nhân  và  ấu  trùng  trên  các  vật  chủ  trung 

gian; 

‐ Mô tả một số yếu tố nguy cơ nhiễm SLGN. 

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  Địa điểm và thời gian 

Xã  Thanh  và  Xy,  huyện  Hướng  Hóa,  tỉnh  Quảng Trị (xã giáp với biên giới Lào); 

Từ tháng 3/2012 đến tháng 12/ 2012. 

Đối tượng nghiên cứu 

Người dân trong 2 xã được chọn, chọn từ 5  tuổi trở lên; 

Mẫu SLGN thu thập được trên người và trên  vật chủ trung gian cá. 

Phương pháp nghiên cứu 

Thiết kế nghiên cứu. 

Theo  phương  pháp  nghiên  cứu  cắt  ngang 

mô tả. 

Cỡ mẫu 

Cỡ mẫu cho nghiên cứu tỷ lệ nhiễm SLGN,  công thức: 

      p.(1 ‐ p) 

n = Z2(1‐ /2)  

          d2 

Trong đó: n: Cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được; 

p:  Tỷ  lệ  nhiễm  SLGN  từ  điều  tra  thăm  dò  (pilot survey) trước = 13,5%    

d: Sai số tuyệt đối, chọn 0,04. 

Z(1 ‐ /2): Hệ số tin cậy = 1,96 (với  = 0,05, độ  tin cậy CI = 95% ) 

Vậy  cỡ  mẫu  sẽ  là:  n  ≈  280,3  cho  mỗi  điểm  nghiên cứu. 

Cộng thêm những người mất mẫu + 10% số 

ca,  vậy  cỡ mẫu  cuối  cùng  là  300  cho  mỗi  điểm.  Tính trung bình mỗi hộ 4 người, chọn 75 hộ cho  mỗi điểm. 

Cỡ mẫu cho nghiên cứu các yếu tố nguy cơ  nhiễm SLGN. 

Trong  số  người  được  chọn  trên,  phỏng  vấn  tất cả đối tượng từ 15 tuổi trở lên về kiến thức và  thực hành bệnh SLGN. 

Trang 3

Nghiên cứu tỷ lệ, cường độ nhiễm SLG bằng 

kỹ thuật Kato‐katz; 

Nghiên  cứu tỷ  lệ  nhiễm ấu  trùng  ở vật  chủ 

trung gian là ốc, cá; 

Kỹ thuật nghiên cứu 

Xét  nghiệm  phân  Kato‐Katz:  các  mẫu  phân 

thu thập được; 

Xét  nghiệm  ốc  tìm  ấu  trùng  trên  ốc(3) 

Parafossarulus  striatulus  (vật  chủ  trung  gian  của 

Clonorchis sinensis)  và  ốc  Melanoides tuberculatus, 

Bythinia  siamensis  (vật  chủ  trung  gian  của 

Opisthorchis viverriniI); 

Định loại loài cá và xét nghiệm cá tìm nang 

trùng từ các phần đầu, mang, cơ, vây, vảy; 

Kỹ thuật điều tra yếu tố nguy cơ qua bộ câu 

hỏi soạn sẵn. 

Phân tích và xử lý số liệu 

Nhập  số  liệu  vào  phần  mềm  Epidata  và  xử 

lý trên chương trình Stata. 

Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu 

Các đối tượng được lựa chọn ngẫu nhiên, xét 

nghiệm  phân  miễn  phí  và  điều  trị  bằng 

Praziquantel (nếu trong phân có trứng sán); 

Các  đối  tượng  được  thỏa  thuận  và  ký  bản 

chấp thuận tham gia nghiên cứu. 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 

Thực  trạng  nhiễm  SLGN  tại  các  điểm 

nghiên cứu 

Tỷ lệ nhiễm SLGN tại các điểm nghiên cứu  

Bảng 1. Tỷ lệ nhiễm SLGN chung ở 2 xã 

> 0,05

Tỷ  lệ nhiễm  SLGN  tại 2  xã  là 11,39%,  trong 

đó tại xã Thanh là 11,59% và xã Xy là 11,18%. Sự 

khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). 

Tỷ  lệ  nhiễm  SLGN  ở  giới  nam  tại  2  xã  là 

17,11%, ở nữ là 5,84%. Nguy cơ nhiễm sán ở nam 

cao  gấp  3,3  lần  ở  nữ,  sự  khác  biệt  có  ý  nghĩa  thống kê (p < 0,01). 

Bảng 2. Tỷ lệ nhiễm SLGN theo giới ở 2 xã 

Địa điểm

p

OR

Thanh Nam 149 26 17,45 P < 0,01OR = 3,3

Nữ 153 9 5,88

Xy Nam 149 25 16,78 P < 0,01OR = 3,2

Nữ 155 9 5,81

Cộng Nam 298 51 17,11 P < 0,01OR = 3,3

Nữ 308 18 5,84

Bảng 3. Tỷ lệ nhiễm SLGN theo nhóm dân tộc ở 2 

điểm 

Thanh Vân Kiều 287 34 11,85

Kinh 15 1 6,67

Xy Vân Kiều 278 32 11,51

Kinh 26 2 7,69

Cộng Vân Kiều 565 66 11,68

Kinh 41 3 7,32

Tỷ lệ nhiễm SLGN ở dân tộc Vân Kiều tại 2 

xã là 11,68%, ở dân tộc Kinh là 7,32%.  

Bảng 4. Tỷ lệ nhiễm SLGN theo nhóm tuổi 

6 - 14 103 2 1,94 99 2 2,02

15 - 19 25 2 8,0 34 2 5,88

20 - 29 49 5 10,2 41 5 12,19

30 - 39 39 6 15,38 44 8 18,18

40 - 49 26 8 30,77 34 8 23,53

50 - 59 32 7 21,87 25 5 20,0

≥ 60 28 5 17,86 27 4 14,81

Nhiễm SLGN tăng theo tuổi, nhiễm cao nhất 

ở nhóm từ 40‐49 (23,53‐30,77%). 

Cường độ nhiễm SLGN tại các điểm nghiên cứu  Bảng 5. Cường độ nhiễm SLGN tại các điểm nghiên 

cứu 

1 gam phân (epg)

Cường độ nhiễm SLGN tại xã Thanh là 33,38  trứng/g phân, xã Xy là 29,52 trứng/g phân. 

Trang 4

nghiên cứu 

Địa

điểm

Số

(+)

Cường độ nhiễm theo phân loại TCYTTG

Cộng 69 66 (95,65%) 3 (4,35%) 0

Nhiễm  SLGN  chủ  yếu  là  nhiễm  nhẹ 

(95,65%),  nhiễm  vừa  là  4,35%,  không  có  trường 

hợp  nào  nhiễm  nặng  (theo  phân  loại  của 

TCYTTG). 

Điều tra SLGN ở vật chủ trung gian 

Bảng 7. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng SLGN ở các loài cá 

Địa

điểm

XN

Số nhiễm

Tỷ lệ

%

Thanh

Cá trắng (Cyclocheilichthys

armatus)

302 5 1,65

Cá mác (Onychostoma spp) 380 8 2,11

Xã Xy

Cá trắng (Cyclocheilichthys

armatus)

350 3 0,85

Cá mác (Onychostoma sp) 355 4 1,13

Cộng

Cá trắng (Cyclocheilichthys

armatus)

652 8 1,22

Cá mác (Onychostoma sp) 735 12 1,63

Tỷ lệ nhiễm ấu trùng SLGN ở nhóm cá trắng 

tại 2 xã là 1,22%, ở cá mác là 1,63%. 

Bảng 8. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng SLGN ở các ốc 

Xã Thanh

Metaloides

tuberculata

420 0 0

Xã Xy

Metaloides

tuberculata

610 0 0

Thu  thập  1.110  ốc  Bithinia  sp  và  1.030 

Metaloides  tuberculata  tại  2  xã  nhưng  XN  chưa 

thấy được ấu trùng SLGN. 

Kết quả điều tra một số yếu tố nguy cơ 

Kết quả điều tra về tập quán ăn gỏi cá 

Bảng 9. Tỷ lệ ăn gỏi cá của người dân tại các điểm 

nghiên cứu 

Xy 205 82 40,0

Cộng 404 167 41,34

Tỷ  lệ  ăn  gỏi  cá  chung  tại  2  điểm  là  41,34%.  Trong đó xã Thanh là 42,71% và Xy là 40%. 

Bảng 10. Mức độ ăn gỏi cá của người dân tại các 

điểm nghiên cứu 

Thanh (n = 85) > 5 lần/năm 41 48,24

≤ 5 lần/năm 44 51,76

Xy (n = 82) > 5 lần/năm 39 47,56

≤ 5 lần/năm 43 52,44

Cộng (n = 167) > 5 lần/năm 80 47,90

≤ 5 lần/năm 87 52,10

Mức độ ăn gỏi cá tại 2 xã trên 5 lần trong 1  năm là 47,9%, từ 5 lần trở xuống là 52,1%. 

Bảng 11. Lý do đối tượng ăn gỏi cá 

Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ %

Thói quen, tập quán

Ngon, hợp khẩu vị 25 29,41 24 29,27

Mát, bổ cho sức

Lý do khác 2 2,35 1 1,21

Tổng cộng 85 100,0 82 100,0

Lý do đối tượng ăn gỏi cá chủ yếu là do thói  quen,  tập  quán  (60,97‐62,35%);  tiếp  theo  là  do  món này ngon và hợp khẩu vị (29,27‐29,41%). 

Bảng 12. Lý do đối tượng không ăn gỏi cá 

Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ %

Không thích ăn 82 71,92 89 72,35

Trong gia đình không ai ăn 21

Sợ mắc bệnh 10 8,77 15 12,19

Lý do khác 1 0,87 3 2,44

Tổng cộng 114 100,0 123 100,0

Lý do không ăn gỏi cá có thể do không thích 

ăn (71,92‐72,35%), do trong gia đình không ai ăn  (13,01‐18,42%). Tỷ lệ không ăn gỏi cá vì lý do sợ 

ăn sống mắc bệnh chiếm 8,77‐12,19%. 

Mối  liên  quan  giữa  ăn  gỏi  cá  và  nhiễm  SLGN 

Có  mối  liên  quan  giữa  ăn  gỏi  cá  và  nhiễm  SLGN, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. 

Trang 5

Thanh

(n = 199)

p < 0,00001

Xy

(n = 205)

p < 0,00001

Bảng 15. Liên quan giữa mức độ ăn gỏi cá và nhiễm 

SLGN 

Thanh

(n = 85)

X 2 = 5,03 p < 0,05 OR = 2,7

Xy

(n = 82)

X2 = 4,64 p < 0,05 OR = 2,6

Nhận xét: Có mối liên quan giữa mức độ ăn 

gỏi  cá  và  nhiễm  SLGN.  Tại  xã  Thanh,  nguy  cơ 

nhiễm SLGN ở những người ăn gỏi cá trên 5 lần 

trong 1 năm cao gấp 2,7 lần người ăn gỏi cá từ 5 

lần trở xuống trong 1 năm, tại xã Xy nguy cơ này 

cao gấp 2,6 lần. 

BÀN LUẬN 

Bệnh  SLGN  gây  ảnh  hưởng  nghiêm  trọng 

đến  sức  khỏe  con  người,  đến  nay  nước  ta  có  ít 

nhất 25 tỉnh thành có bệnh SLGN lưu hành với 

tỷ  lệ  nhiễm  tùy  vùng  (0,2‐37%),  nhưng  hoạt 

động  phòng  chống  vẫn  chưa  được  triển  khai 

rộng khắp và hiệu quả. Bệnh lưu hành ở những 

địa  phương  có  tập  quán  ăn  gỏi  cá  nước  ngọt, 

điều kiện vệ sinh môi trường kém (không có nhà 

vệ sinh, phóng uế bừa bãi, tập quán lạc hậu). Xã 

Thanh và Xy, là 2 xã giáp với biên giới Lào, dân 

tộc  chủ  yếu  Vân  Kiều.  Việc  quản  lý  phân  chưa 

tốt vì tỷ lệ có hố xí chỉ khoảng 50%, nhưng đa số 

là hố xí đào chưa hợp vệ sinh. Thích ăn gỏi cá có 

từ lâu và xem như món khoái khẩu, nên nguy cơ 

nhiễm bệnh cao. 

Tỷ lệ, cường độ nhiễm SLGN tại các điểm  nghiên cứu 

Tỷ lệ nhiễm SLGN ở các điểm nghiên cứu. 

Nghiên  cứu  tình  trạng  nhiễm  SLGN  của  người  dân  tại  xã  Thanh  và  Xy  cho  thấy  tỷ  lệ  nhiễm  SLGN  chung  là  11,39%,  trong  đó  tại  xã  Thanh là 11,59% và xã Xy là 11,18%, không có sự  khác  biệt  nhiễm  SLGN  tại  2  xã.  So  với  kết  quả  nghiên cứu tại Phú Yên (36,97%) và năm 2002 tại  Bình Định (20,17%)(4,5) thì kết quả của chúng tôi  thấp hơn, điều này cũng phù hợp vì tỷ lệ ăn gỏi 

cá của người dân trong nghiên cứu này thấp hơn 

tỷ lệ ăn gỏi cá của người dân tại Phú Yên và Bình  Định. Nhưng so với nghiên cứu tại xã Đăk Môn,  huyện  Đăk Glei, tỉnh Kon  Tum  với tỷ  lệ  nhiễm  SLGN là 10,45% thì kết quả này cao hơn(5).  Theo kết quả, tỷ lệ nhiễm SLGN ở nam tại 2 

xã  là  17,11%,  ở  nữ  là  5,84%.  Nguy  cơ  nhiễm  SLGN ở nam cao gấp 3,3 lần ở nữ, sự khác biệt 

có ý nghĩa thống kê (p < 0,01). Trong nghiên cứu  của  chúng  tôi,  nguy  cơ  nhiễm  ở  nam  giới  cao  gấp 3,3 lần nữ giới, thấp hơn kết quả nghiên cứu 

ở tại Phù Mỹ, Bình Định(4) nguy cơ nhiễm ở nam  cao gấp 4,7 lần so với nữ, cao hơn so với nghiên  cứu ở Nga An, Nga Sơn, Thanh Hóa(2) nguy cơ  nhiễm  ở  nam  cao  hơn  nữ  gấp  2,05  lần  và  cũng  cao hơn kết quả ở Đăk Môn(5) nguy cơ nhiễm ở  nam cao hơn nữ gấp 2,3 lần, điều này có thể liên  quan  đến  tập  quán  ăn  gỏi  cá  của  từng  địa  phương. Kết quả nghiên cứu tại xã Thanh và xã 

Xy  thấp  hơn  tại  Phú  Yên  và  Bình  Định  là  do  người dân thường ăn gỏi cá kèm với uống rượu,  nên  chủ  yếu  là  nam  giới  ăn,  trong  khi  đó  món  gỏi cá tại Nga An, Nga Sơn, Thanh Hóa thường  được  đưa  vào  trong  bữa  cơm  gia  đình  nên  các  thành viên trong gia đình kể cả nam và nữ đều 

có  nguy  cơ  nhiễm  SLGN  như  nhau,  vì  vậy  tại  Nga An(2) nguy cơ nhiễm sán ở nam cao hơn ở 

nữ  nhưng  ở  mức  thấp  hơn  nghiên  cứu  của  chúng tôi. 

Tỷ lệ nhiễm SLGN ở dân tộc Vân Kiều tại 2 

xã  là  11,68%  ở  dân  tộc  Kinh  là  7,32%.  Người  Kinh sống tại 2 xã này rất ít, chủ yếu vào buôn 

Trang 6

bán  và  một  số  cán  bộ  công  chức  được  tăng 

cường. Tỷ lệ nhiễm ở người Kinh là 7,32%, tuy 

nhiên  do  cỡ  mẫu  người  Kinh  quá  thấp  nên 

không thể khẳng định và so sánh giữa 2 nhóm 

Vân Kiều và người Kinh được. Xét tỷ lệ nhiễm 

theo nhóm tuổi, số liệu tại xã Thanh và Xy cho 

thấy  tỷ  lệ  nhiễm  SLGN  tăng  dần  theo  nhóm 

tuổi, lứa tuổi nhiễm cao nhất là ở nhóm từ 40‐

49 tuổi (23,53 ‐ 30,77%). Từ 50 tuổi trở đi tỷ lệ 

nhiễm  có  xu  hướng  giảm  dần,  kết  quả  này 

cũng  tương  tự  như  kết  quả  điều  tra  tại  Phú 

Yên(4).  Trong  nghiên  cứu  này  gặp  một  ca 

nhiễm SLGN có tuổi nhỏ nhất là 10 tuổi nhưng 

theo  nghiên  cứu  tại  Phú  Yên,  tuổi  nhỏ  nhất 

nhiễm SLGN là nhóm 5 ‐ 9 tuổi (3 trường hợp).  

Cường độ nhiễm SLGN ở các điểm nghiên cứu 

Theo kết quả, cường độ nhiễm SLGN tại xã 

Thanh  là  33,38  trứng  trên  1  gam  phân,  tại  xã 

Xy là 29,52 trứng trên 1 gam phân. Cường độ 

nhiễm trung bình của 2 xã trong nghiên cứu là 

31,4 trứng/g phân. Khi so sánh với kết quả tại 

Bình  Định  và  Thanh  Hóa(4,2)  cho  thấy  cường 

độ nhiễm trung bình trong tại xã Thanh và xã 

Xy thấp hơn cường độ nhiễm ở Phù Mỹ, Bình 

Định  (228  trứng/g  phân),  An  Mỹ  (225  trứng/g 

phân)  và  Nga  An  (229,5  trứng/g  phân).  Điều 

này  cũng  phù  hợp  vì  tần  số  ăn  gỏi  cá  của  các 

đối  tượng  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi 

cũng  thấp  hơn  tần  số  ăn  gỏi  cá  tại  các  điểm 

nghiên cứu trên(1,2,4,5). 

Trong số 69 trường hợp nhiễm SLGN thì có 

đến 66 ca nhiễm nhẹ (95,65%), chỉ có 3 trường 

hợp  nhiễm  vừa  (4,35%),  không  có  ca  nào 

nhiễm  nặng.  Tương  tự,  trong  nghiên  cứu  Đỗ 

Thái  Hòa  tại  Nga  An  cũng  chỉ  có  1  ca  nhiễm 

mức  độ  vừa,  còn  lại  là  nhiễm  nhẹ  (93  ca), 

không có ca nhiễm nặng. 

Ấu trùng SLGN trên các vật chủ trung gian 

Dựa  vào  thói  quen  của  người  dân  chỉ  ăn 

gỏi cá trắng và cá mác, chúng tôi điều tra 652 

cá  trắng  (Cyclocheilichthys  armatus)  và  735  cá 

mác  (Onychostoma  sp)  tại  2  điểm  nghiên  cứu 

cho thấy tỷ lệ nhiễm ấu trùng SLGN ở cá trắng 

tại  2  xã  là  1,22%,  ở  cá  mác  là  1,63%.  Kết  quả  của chúng tôi thấp hơn hiều so với nghiên cứu  tại xã An Mỹ, Phú Yên(4) và Viện Sốt rét‐KST‐

CT  Trung  ương  vùng  đồng  bằng  Bắc  Bộ(6).  Điều  tra  4  loài  cá  (cá  giếc,  cá  chuối,  cá  rô,  cá  chạch  trấu)  ở  xã  An  Mỹ,  huyện  Tuy  An,  tỉnh 

Phú Yên chỉ thấy có cá giếc nhiễm Metacercaria 

28,57%, điều tra ở vùng đồng bằng Bắc bộ, trên 

10  loài  cá  nước  ngọt  thì  có  7  loài  nhiễm 

Metacercaria (cá mè, cá chép, cá trôi, cá trắm, cá 

giếc, cá rô, cá rô phi), cao nhất là cá mè 44,47%.  Điều này cũng phù hợp, vì tại xã Thanh và xã 

Xy có một con sông lớn là ranh giới giữa Việt  Nam  và  Lào,  nước  sông  chảy  mạnh,  cá  ở  đây 

là cá tự nhiên nên khả năng cá nhiễm thấp hơn  vùng đồng bằng Bắc Bộ (cá nuôi trong ao, hồ).  

Thu  thập  được  1.110  ốc  Bithinia sp  và  1.030 

Metaloides  tuberculata  tại  2  điểm  nghiên  cứu 

nhưng xét nghiệm chưa thấy được ấu trùng sán.  Kết quả nghiên cứu điều tra 13 loại ốc nước ngọt 

ở một số tỉnh miền Bắc, 2 loài ốc mang ấu trùng 

SLGNlà ốc mút Melanoides tuberculatus (4,7‐7,5%) 

và  ốc  đá  nhỏ  xanh  Parafossarulus  striatulus  (4,6‐

5,3%). Điều tra 4 loài ốc ở miền Trung(4) chỉ thấy 

loài  ốc  mút  Melanoides  tuberculatus  có  nhiễm 

Cercaria  với  tỷ  lệ  2,6%.  Việc  chưa  phát  hiện  ấu 

trùng SLGN trên ốc cũng là một hạn chế, có thể  trong  2  đợt  thu  thập  vào  tháng  8  và  tháng  11,  giai đoạn này chưa phát hiện nhiều loại ốc khác,  cũng  có  thể  loài  ốc  là  vật  chủ  trung  gian  của  SLGN là loài khác vì đây là biên giới Việt‐Lào. 

Yếu  tố  nguy  cơ  liên  quan  đến  tình  trạng  nhiễm bệnh SLGN. 

Tập quán ăn gỏi cá 

Tập quán ăn gỏi cá là hành vi tác động trực  tiếp đến tình trạng nhiễm bệnh SLGN. Tỷ lệ ăn  gỏi cá chung tại 2 điểm là 41,34%. Tỷ lệ ăn gỏi cá  của  một  số  địa  phương  ở  miền  Bắc(6,7)  từ  4,7%  (Hòa Bình) đến 84% (Nam Định) thì tỷ lệ ăn gỏi 

cá trong nghiên cứu này ở mức trung bình. Nếu 

so với kết quả nghiên cứu tại An Mỹ, Phú Yên tỷ 

lệ ăn gỏi cá là 61,3%(4) thì tỷ lệ ăn gỏi cá của các  đối  tượng  tại  đây  thấp  hơn.  Kết  quả  cũng  cho 

Trang 7

năm  là  47,9%,  từ  5  lần  trở  xuống  là  52,1%.  Kết 

quả nghiên cứu tại Nga Sơn(2) thì số lần ăn gỏi cá 

của đối tượng trong 1 năm dưới 10 lần là 87,5%, 

từ 10 đến 50 lần là 8,2%, không nhớ hay không 

trả lời là 4,3%.  

Các nghiên cứu trước đây cho thấy tỷ lệ ăn 

gỏi cá càng cao, mức độ ăn càng nhiều thì tỷ lệ 

nhiễm  càng  cao.  Theo  kết  quả  trên  có  mối  liên 

quan giữa tiền sử ăn gỏi cá và tỷ lệ nhiễm SLGN 

(p <0,0001). Điều này,  ngoài  các  yếu  tố  là  có ăn 

gỏi cá và tần số ăn gỏi cá thì tỷ lệ nhiễm SLGN 

còn  phụ  thuộc  vào  tỷ  lệ  và  mức  độ  nhiễm  ấu 

trùng  ở  cá  tiêu  thụ.Hình  thức  ăn  gỏi  cá  tại  xã 

Thanh và xã Xy cũng giống như tại xã Đăk Môn, 

huyện Đăk Glei(5). Cá được ăn gỏi chủ yếu là cá 

trắng  và  cá  mác.  Cá  được  băm  nhỏ,  vắt  chanh 

vào  và  ăn  cùng  với  một  số  rau  thơm.  Cách  ăn 

này khác với cách ăn gỏi vùng Phú Yên và Bình 

Định cũng như vùng đồng bằng Bắc Bộ.  

Khi được phỏng vấn về lý do ăn gỏi cá, số 

liệu cho thấy lý do đối tượng ăn gỏi cá chủ yếu 

là do thói quen, tập quán (60,97 ‐ 62,35%); tiếp 

theo  là  ngon  và  hợp  khẩu  vị  (29,27  ‐  29,41%), 

mát và tốt cho sức khỏe (5,88 ‐ 8,54%). Đây là 

những  nhận  thức  chưa  đúng  về  bệnh  SLGN, 

điều  này  sẽ  làm  cho  nhiều  người  tham  gia  ăn 

gỏi  cá.  Tỷ  lệ  đưa  ra  lý  do  ăn  gỏi  cá  trong 

nghiên  cứu  thấp  hơn  nghiên  cứu  tại  Nga  An, 

cụ  thể  có  92,4%  ăn  gỏi  cá  do  thói  quen,  tập 

quán;  45,4%  do  thấy  ngon  và  hợp  khẩu  vị, 

61,3% cho rằng món gỏi cá mát và bổ. 

Khi tìm hiểu về lý do không ăn gỏi cá, thấy 

lý do đưa ra nhiều nhất là không thích ăn (71,92 ‐ 

72,35%); tiếp theo là do trong gia đình không ai 

ăn nên họ cũng không ăn (13,01 ‐ 18,42%). Tỷ lệ 

không ăn gỏi cá vì lý do sợ mắc bệnh chiếm tỷ lệ 

thấp  từ  8,77‐12,19%,  chính  điều  này  cần  can 

thiệp  các  biện  pháp  phòng  chống.  Tỷ  lệ  người 

dân không ăn gỏi cá cao hơn nghiên cứu tại Nga 

An  (19,8%),  song  vẫn  cần  tăng  cường  công  tác 

truyền  thông  để  người  dân  hiểu  đầy  đủ,  hiểu 

đúng hơn về nguy cơ nhiễm SLGN khi ăn gỏi cá, 

tác  hại  của  bệnh,  loại  bỏ  tập  quán  ăn  gỏi  cá  và  những  suy  nghĩ  không  đúng,  sai  lầm  ra  khỏi  cộng đồng. 

Một  số  yếu  tố  liên  quan  đến  nhiễm  sán  lá  gan  nhỏ 

Có  mối  liên  quan  giữa  ăn  gỏi  cá  và  nhiễm  SLGN. Những người không ăn gỏi cá thì không 

bị nhiễm SLGN. Kết quả này cũng giống như kết  quả tại An Mỹ và tại Nga An. Có mối liên quan  giữa  mức  độ  ăn  gỏi  cá  và  nhiễm  SLGN:  tại  xã  Thanh, nguy cơ nhiễm sán ở những người ăn gỏi 

cá trên 5 lần trong 1 năm cao gấp 2,7 lần người 

ăn gỏi cá từ 5 lần trở xuống trong 1 năm, tại xã 

Xy nguy cơ này cao gấp 2,6 lần. Với kết quả đó,  việc nâng cao kiến thức là một trong những hoạt  động quan trọng đầu tiên cần thực hiện tại điểm  nghiên cứu, đặc biệt là các kiến thức về nguyên  nhân,  tác  hại  của  SLGN,  kiến  thức  về  quản  lý  phân  và  các  biện  pháp  phòng  bệnh  đồng  thời  nâng cao tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh cũng có vai  trò quan trọng. 

KẾT LUẬN 

Tỷ lệ, cường độ nhiễm SLGN tại các điểm  nghiên cứu 

Tại  xã  Thanh  và  xã  Xy  có  bệnh  SLGN  lưu  hành, tỷ lệ nhiễm chung 2 xã là 11,39%, trong đó  tại xã Thanh là 11,59% và xã Xy là 11,18%.  

Tỷ lệ nhiễm SLGN ở nam cao gấp 3,3 lần ở  nữ; 

Tỷ lệ nhiễm SLGN tăng dần theo nhóm tuổi,  lứa tuổi nhiễm cao nhất là 40 ‐ 49 tuổi; 

Cường độ nhiễm SLGN tại xã Thanh là 33,38  trứng/g và tại xã Xy là 29,52 trứng/g phân;  Nhiễm SLGN chủ yếu là nhiễm nhẹ và vừa; 

Tỷ lệ nhiễm ấu trùng SLGN tại 2 xã trên cá  trắng  là  1,22%,  trên  cá  mác  là  1,63%.  Chưa  tìm  thấy ấu trùng sán trên vật chủ trung gian ốc. 

Một số yếu tố nguy cơ nhiễm SLGN 

Tại  hai  điểm  nghiên  cứu,  ăn  gỏi  cá  và  mức 

độ ăn gỏi cá sống là nguy cơ nhiễm SLGN. 

Trang 8

Về  khuyến  nghị,  vì  tính  nguy  hại  của  bệnh 

gây các bệnh lý gan mật và ung thư nên cần đẩy 

mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao 

kiến  thức  phòng  chống  bệnh  SLGN  cho  cộng 

đồng  tại  2  xã,  đặc  biệt  phối  hợp  liên  ngành  và 

các  cơ  quan  chức  năng  trong  việc  vận  động 

người dân từ bỏ tập quán ăn gỏi cá, tăng tỷ lệ hộ 

có hố xí hợp vệ sinh. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Chai  JY.  Murrell  KD.  Lymbery  AJ  (2005).  Fish‐borne  parasitic 

zoonoses: status and issues.Int J Parasitol.35:1233–54 . 

2 Đỗ  Thái  Hoà  (2005).  Một  số  yếu  tố  liên  quan  tới  thực  trạng 

nhiễm  sán  lá  gan  nhỏ  tại  xã  Nga  An.  huyện  Nga  Sơn.  Thanh 

Hoá. Luận văn Thạc sỹ Y tế công cộng. Đại học Y tế công cộng. 

3 Jae‐Hwan  P,  Sang‐Mee  G,  Tae‐Yun  K  et  al  (2004).  Clonorchis 

sinensis  metacercarial  infection  in  the  pond  smelt  Hypomesus 

olidus  and  the  minnow  Zacco  platypus  collected  from  the 

Soyang and and Daechung Lakes. Korean J Parasitol.42(1):41‐4. 

4 Nguyễn Văn Chương và cs (2007). Kết quả nghiên cứu các bệnh 

giun sán tại khu vực miền Trung‐Tây Nguyên giai đoạn 1989‐

2006. định hướng chiến lược phòng chống giun sán 2007‐2010. 

Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học 2001‐2006.Tr. 402‐409. 

5 Nguyễn Văn Chương, Bùi Văn Tuấn (2011). Thực trạng nhiễm  sán lá gan nhỏ tại xã Đak Môn. huyện ĐakGlei, tỉnh Kon Tum. 

Tạp chí Y học thực hành. số 796. 165‐168. 

6 Nguyễn Văn Đề, Lê Thanh Hoà (2004). Giám định Metacercaria  loài sán lá gan Clonorchis sinensis ký sinh trên cá nước ngọt ở 

Hà Nội và Nam Định bằng phương pháp sinh học phân tử hệ 

gen ty thể . Tạp chí Y học Thực hành. số 477. 57 ‐ 61. 

7 Nguyễn  Văn  Đề,  Lê  Thanh  Hoà  (2007).  Xác  định  thành  phần 

loài sán lá thường gặp ở Việt Nam bằng sinh học phân tử. Tạp 

chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 11(2)80 ‐ 88. 

8 Sithithaworn  P,  Andrews  RH,  Nguyen  VD,  Wongsaroj  T,  Sinuon  M,  Odermatt  P  (2012).  The  current  status  of  opisthorchiasis and clonorchiasis in the Mekong basin.Parasitol  Int.61:10–6. 

9 Sriamporn S, Pisani P, Pipitgool V, Suwanrungruang K, Kamsa‐ ard S, et al, (2004). Prevalence of Opisthorchis viverrini infection  and incidence of cholangiocarcinoma in Khon Kaen. Northeast  Thailand. Trop Med Int Health. 9: 588–594. 

10 Trung  DD,  Van  DN,  Waikagul  J,  Dalsgaard  A,  Chai  JY,  Sohn 

WM  (2007).  Fishborne  zoonotic  intestinal  trematodes  in  Vietnam.Emerg Infect Dis.13:1828–33. 

  Ngày nhận bài báo:       9/5/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   11/6/2014  Ngày bài báo được đăng:     14/11/2014   

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 16:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm