1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chẩn đoán di truyền ở các bệnh nhân mắc bệnh tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh

6 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 486,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu và mục tiêu của đề tài trình bày về: Bệnh tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh (CAH) là bệnh di truyền ở người gây nên do đột biến gen CYP21A2 trên nhiễm sắc thể số 6. Việc xác định đột biến gen CYP21A2 đóng vai trò quan trọng trong việc chẩn đoán xác định bệnh cũng như tư vấn di truyền. Và mục tiêu nghiên cứu nhằm ứng dụng kỹ thuật giải trình tự và kỹ thuật MLPA trong chẩn đoán đột biến gen CYP21A2.

Trang 1

CHẨN ĐOÁN DI TRUYỀN Ở CÁC BỆNH NHÂN   MẮC BỆNH TĂNG SẢN TUYẾN THƯỢNG THẬN BẨM SINH 

Ngô Thị Hồng Phước*, Đỗ Thị Thanh Thủy* , **, Nguyễn Ngọc Minh***, Nguyễn Thị Băng Sương* , ** 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Bệnh tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh (CAH) là bệnh di truyền ở người gây nên do đột 

biến gen CYP21A2 trên nhiễm sắc thể số 6. Việc xác định đột biến gen CYP21A2 đóng vai trò quan trọng trong  việc chẩn đoán xác định bệnh cũng như tư vấn di truyền.  

Mục tiêu: Ứng dụng kỹ thuật giải trình tự và kỹ thuật MLPA trong chẩn đoán đột biến gen CYP21A2.  Đối tượng và phương pháp: Tiến hành trên hai bệnh nhân CAH được chẩn đoán dựa vào triệu chứng lâm 

sàng, tách chiết DNA của bệnh nhân và thực hiện kỹ thuật  giải  trình  tự  gen  và  MLPA  (Multiplex  ligation‐ dependent probe amplification) để phân tích đột biến gen CYP21A2.  

Kết quả: Phát hiện được một bệnh nhân bị đột biến điểm và một bệnh nhân bị đột biến mất đoạn đồng hợp 

tử từ exon 1 đến exon 3 của gen CYP21A2.  

Kết luận: Nghiên cứu đã hoàn thiện quy trình và ứng dụng thành công kỹ thuật giải trình tự và kỹ thuật 

MLPA trong chẩn đoán đột biến mất đoạn gen CYP21A2 gây bệnh CAH. 

Từ khóa: Tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh, gen CYP21A2, MLPA. 

ABSTRACT

IDENTIFICATION OF GENE MUTATIONS AT CONGENITAL ADRENAL HYPERPLASIA PATIENTS 

Ngo Thi Hong Phuoc, Do Thi Thanh Thuy, Nguyen Ngoc Minh, Nguyen Thi Bang Suong 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 502 ‐ 507 

Introduction:  Congenital  Adrenal  Hyperplasia  (CAH)is  a  genetic  disease  caused  by  mutations  in  the 

CYP21A2gene  which  is  located  on  chromosome  6.  Detection  of  CYP21A2  gene  mutations  is  important  for  diagnostic and genetic counseling. Sequencing and MLPA technique are used by many authors for diagnostic of  CYP21A2 gene mutations. 

Objectives: Applification of sequencing and MLPA technique to identify mutations in CYP21A2 gene.  Patients  and  Methods: Two patients were diagnosed CAH by clinical symptoms,DNA of these patients 

was  extracted  by  Qiagen  kit.  After  that  we  performedsequencing  technique  to  identify  point  mutations  and  MLPA technique to identify deletion mutations in CYP21A2 gene. 

Results: Onepatient had point mutation and the other patient had homozygote deletion in CYP21A2 gene.   Conclusions: The research was initially completed the application process and successfully in the diagnosis 

of CYP21A2 mutations causing CAH disease. 

Keywords:Congenital Adrenal Hyperplasia, CYP21A2gene, MLPA . 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Bệnh  tăng  sản  tuyến  thượng  thận  (CAH)  là 

bệnh  di  truyền  trong  đó  thể  thiếu  enzym  21‐

hydroxylase là thể bệnh hay gặp nhất, chiếm tỷ 

lệ 90 ‐ 95%. Đứng thứ hai là thể 11β‐hydroxylase 

5 ‐ 9%, ngoài ra thiếu hụt các enzyme khác gây  các  thể  bệnh:  3β-HSD,  17α‐hydroxylase  và  20,  22‐desmolase  ít  gặp  hơn.  Sự  khiếm  khuyết  của  enzyme  21‐hydroxylase  dẫn  đến  mức  độ  khác 

* Trung tâm Y Sinh học phân tử, **Bộ môn Hóa sinh, ***Bộ môn Xét nghiệm, Đại học Y Dược TPHCM

Trang 2

nhau  của  việc  suy  giảm  tổng  hợp  cortisol  và 

giảm/hoặc  không  giảm  aldosterone  đi  kèm  với 

tăng sinh tổng hợp nội tiết tố androgen. Những 

bất  thường  này  dẫn  đến  nam  hóa  các  thai  nhi 

nữ, phát triển thể trạng nhanh hơn bình thường 

và giả dậy thì sớm ở trẻ nam. Trong đó thể mất 

muối là hình thức nghiêm trọng nhất của bệnh, 

do  thiếu  sinh  tổng  hợp  aldosterone  dẫn  đến 

không  có  khả  năng  để  giữ  natri.  Nếu  không 

được  điều  trị  kịp  thời  sẽ  dễ  nhanh  chóng  tử 

vong trong vài tuần(4). 

Tỷ  lệ  mắc  bệnh  trên  thế  giới  là  1/14.000‐

15.000  trẻ  em  sơ  sinh,  trong  đó  thể  thiếu 

enzym 21 – hydroxylase chiếm tỷ lệ 1/10.000 trẻ 

sinh  ra(2,3).  Ở  Việt  Nam,  hiện  nay  vẫn  chưa  có 

đề tài nghiên  cứu  về  tỷ  lệ  mắc  bệnh  và  tỷ  lệ 

người  lành  mang  gen  bệnh  tăng  sản  tuyến 

thượng  thận  bẩm  sinh Theo thống kê tại  khoa 

Nội tiết – Chuyển hóa – Di truyền Bệnh viện Nhi 

Trung ương, số lượng bệnh nhân hàng năm tăng 

lên,  trung  bình  mỗi  năm  khoảng  40  –  70  bệnh 

nhân nhập viện và được điều trị tại khoa. Tính 

đến  tháng  6  năm  2010  tổng  số  bệnh  nhân  lên 

đến 512 trẻ Hiện nay, Việt Nam được coi là một 

trong những nước có tỷ lệ bệnh nhân mắc CAH 

cao trên thế giới(9 ). 

Nguyên  nhân  gây  bệnh  được  khẳng  định 

chủ  yếu  do  đột  biến  gen  CYP21A2.  Gen 

CYP21A2  mã  hóa  enzyme  21‐hydroxylase,  nằm 

trên  cánh  ngắn  NST  số  6  (6p21.3)  có  chiều  dài 

khoảng 30 kb. Phần lớn các đột biến (95%) do sự 

bắt chéo không đồng đều giữa các cặp NST dẫn 

đến  trình  tự  ở  vùng  giả  gen  CYP21A1P  sẽ 

chuyển sang gen CYP21A2 trong quá trình phân 

bào giảm nhiễm, 5% còn lại là do gen CYP21A2 

tự đột biến(8, 10)

Việc phân tích đột biến gen CYP21A2 có vai 

trò  quan  trọng  xác  định  bệnh  cũng  như  phân 

loại  bệnh,  giúp  định  hướng  chỉ  định  điều  trị 

bằng  liệu  pháp  hormon  thay  thế  suốt  đời  và  là 

cơ sở của tư vấn di truyền, chẩn đoán trước sinh 

bệnh  tăng  sản  tuyến  thượng  thận  bẩm  sinh. 

Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành đề 

tài  nhằm  mục  tiêu:“Ứng dụng kỹ thuật giải trình 

tự và kỹ thuật MLPA trong chẩn đoán đột biến gen  CYP21A2”. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng nghiên cứu 

Nhóm  nghiên  cứu:  2  bệnh  nhân  đã  được  chẩn  đoán  lâm  sàng  mắc  bệnh  tăng  sản  tuyến  thượng thận bẩm sinh. 

Nhóm  đối  chứng:  2  người  bình  thường  không  mắc  bệnh  lý  gì  đặc  biệt,  mẫu  đối  chứng  này được dùng để chuẩn kỹ thuật và chạy cùng  với mẫu bệnh nhân. 

Phương pháp nghiên cứu 

Tách chiết DNA tổng số 

Bước  1:  Thu  2  ml  máu  tĩnh  mạch  chống  đông EDTA của bệnh nhân. 

Bước  2:  Sử  dụng  200  μl  máu  tĩnh  mạch  chống  đông  EDTA  để  tách  chiết  DNA  tổng  số, 

sử  dụng  bộ  tách  chiết  QIAamp DNA Blood mini  kit (Qiagen). 

Bước 3: Hòa mẫu DNA trong 200 μl TE 1X,  bảo quản ở ‐200C. 

Kiểm  tra  độ  tinh  sạch  DNA  bằng  máy  đo  quang phổ 

Sử dụng 1‐5 μl DNA sau khi tách chiết, kiểm  tra  bằng  hệ  thống  máy  định  lượng  quang  phổ 

DNA  Nanodrop  2000c.  Độ  tinh  sạch  nằm  trong 

khoảng  1,8  đến  2,0  mới  được  sử  dụng  để  tiến  hành phản ứng tiếp theo. 

Kỹ thuật PCR (Polymerase Chain Reaction) 

Sử  dụng  2  cặp  mồi  đặc  hiệu  để  khuếch  đại  exon 1 đến exon 3 và exon 3 đến exon 9 của gen 

CYP21A2,  phản  ứng  PCR  được  thực  hiện  trên 

máy khuyếch đại gen Eppendorft. 

Kỹ thuật điện di thường trên gel agarose 

Sản phẩm PCR được điện di trên gel agarose  nồng độ 1%, đệm TBE 1X, kết quả được đọc trên  máy  geldoc.  Mẫu  bệnh  nhân  luôn  được  tiến  hành cùng với mẫu người bình thường. 

Trang 3

Kỹ  thuật  MLPA  (multiplex  ligation  – 

dependent probe amplification) 

Sử  dụng  kit  MLPA  P050  (MRC  ‐  Holland) 

bao gồm 3 giai đoạn chính: 

‐  Biến  tính  và  lai  DNA:  100  ng  DNA  (hòa 

trong  5μl)  được  biến  tính  và  lai  với  1,5μl  hỗn 

hợp  probe  cùng  1,5μl  buffer  MLPA  (chu  trình 

nhiệt:  98oC  –  5  phút,  25oC  –  tạm  dừng,  95oC–  1 

phút, 60oC ‐ 16 giờ).  

‐  Phản  ứng  nối:  thực  hiện  bằng  enzyme 

ligase (chu trình nhiệt: 54oC – 15 phút và 98oC – 5 

phút). 

‐ Phản ứng PCR: tiến hành thực hiện các quy 

trình  nhiệt  để  khuếch  đại  các  probe  đã  nối, 

thành  phần  phản  ứng  PCR  gồm:  primer,  Taq 

polymerase,  nước  (chu  trình  nhiệt:  95oC  –  1 

phút, 30 chu kì với 95oC – 30 giây, 60oC – 30 giây, 

72oC – 1 phút và  kéo  dài  ở  72oC  –  20  phút,  4oC 

dừng). 

Điện  di  và  phân  tích  kết  quả:  điện  di  mao 

quản trên máy Beckman Coulter. Sử dụng phần 

mềm GeneMarker v1.92 để phân tích kết quả. 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 

Bệnh nhân CAH 01  

Kết quả PCR 

 

Hình 1: Khuếch đại exon 1 đến exon 3 và exon 3 đến 

exon 9 của gen CYP21A2. 

BN: Mẫu bệnh nhân, BT: Mẫu người bình thường, (‐): 

Mẫu nước 

Nhận  xét:  Phản  ứng  PCR  đã  khuếch  đại 

được hai đoạn: đoạn 1 từ exon 1 đến exon 3 (có  kích  thước  1157  bp)  và  đoạn  2  từ  exon  3  đến  exon  9  (có  kích  thước  2051  bp),  sản  phẩm  PCR  của  bệnh  nhân  và  người  bình  thường  có  kích  thước như nhau, bờ đều sắc nét. Từ đó chúng tôi  tiến hành giải trình tự sản phẩm khuếch đại của  bệnh nhân. 

Kết quả giải trình tự gen 

Hình 2. Kết quả giải trình tự gen của bệnh nhân 

CAH 01. 

Nhận  xét:  Tại  vị  trí  c.1276  của  bệnh  nhân 

xuất hiện một đỉnh của nucleotid T, trong khi đó  trình tự của genBank là C. Sự sai khác này làm  thay đổi acid amin arginine tại vị trí codon 426  thành acid amin cysteine. Đột biến này đã được  Grischuk  công  bố  vào  năm  2006  trên  tạp  chí  J.Clin  Endocrinol  Metab(5).  Như  vậy  chúng  ta  khẳng  định  bệnh  nhân  bị  đột  biến  điểm  đồng  hợp tử tại c.1276C>T. 

Hình 3. Kết quả giải trình tự exon 1 của gen 

CYP21A2. 

Nhận  xét:  Tại  codon  10  của  bệnh  nhân  có 

chèn  thêm  3  nucleotid  TGC,  trong  khi  đó  trình 

tự genBank NG_007941 không có codon này. 

BN

Exon 1- 3

Exon 3 - 9

Trang 4

Kết quả PCR 

 

Hình 4. Kết quả PCR khuếch đại gen CYP21A2 của 

bệnh nhân CAH 02 

BN: Mẫu bệnh nhân, BT: Mẫu người bình thường 

Nhận xét: Hình ảnh điện di sản phẩm PCR cho 

thấy ở mẫu người bình thường xuất hiện hai vạch 

điện di tương ứng với 2 đoạn được khuếch đại có 

kích thướng 1157 bp và 2051 bp. Trong khi đó mẫu 

bệnh  nhân  không  lên  vạch,  điều  này  chứng  tỏ 

bệnh  nhân  bị  đột  biến  tại  vùng  gắn  mồi,  do  vậy 

không khuếch đại được sản phẩm PCR. 

Kết quả MLPA 

Mẫu  bệnh  nhân  được  thực  hiện  phản  ứng 

MLPA  cùng  mẫu  đối  chứng  (người  bình 

thường) để so sánh. 

Hình 5. Kết quả MLPA của mẫu bệnh nhân CAH 02 

Màu nhạt (bên trái): mẫu đối chứng. Màu đậm (bên phải): 

mẫu bệnh nhân CAH 02. 

Nhận xét: Tại các đỉnh tương tứng với exon 

1 và exon 3 của gen CYP21A2, mẫu người bình 

thường  xuất  hiện  đỉnh  nhưng  mẫu  bệnh  nhân  không xuất hiện đỉnh, chứng tỏ rằng bệnh nhân 

bị đột biến mất đoạn đồng hợp tử từ exon 1 đến 

exon 3 của gen CYP21A2. Xét các đỉnh của exon 

4, 6, 8, chiều cao đỉnh của bệnh nhân chỉ bằng ½ 

so  với  mẫu  người  bình  thường,  chứng  tỏ  rằng  bệnh  nhân  bị  đột  biến  mất  đoạn  dị  hợp  tử  từ  exon 4 đến exon 8. 

BÀN LUẬN 

Bệnh tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh 

là  bệnh  di  truyền  liên  quan  đến  rối  loạn  hormone  của  tuyến  thượng  thận,  nguyên  nhân 

chính  gây  bệnh  là  do  đột  biến  gen  CYP21A2. 

Tuy  nhiên  trong  cơ  thể  chúng  ta  tồn  tại  gen 

CYP21A1P  là  gen  giả  (không  có  chức  năng),  có 

trình  tự  nucleotide  tương  đồng  98%  so  với  gen 

CYP21A2.  Như  vậy  vấn  đề  chỉ  khuếch  đại  gen  CYP21A2  để  phân  tích  đột  biến  ở  bệnh  nhân 

CAH là vấn đề rất  khó  khăn.  Dựa  vào  sự  khác  biệt 8 bp tại exon 3 của hai gen này chúng tôi đã  chọn  lựa  hai  cặp  mồi  được  thiết  kế  để  chỉ 

khuếch  đại  chọn  lọc  gen  CYP21A2  mà  không  khuếch đại được gen CYP21A1P(7). 

Phản ứng PCR ở bệnh nhân CAH 01 khuếch 

đại  được  toàn  bộ  gen  CYP21A2  gồm  2  đoạn: 

đoạn  gen  từ  exon  1  đến  exon  3  (có  kích  thước 

1157  bp)  và  đoạn  từ  exon  3  đến  exon  9  (kích  thước 2051 bp). Sau đó, sản phẩm PCR được giải  trình tự và kết quả phát  hiện  bệnh  nhân  bị  đột  biến  điểm  đồng  hợp  tử  ở  vị  trí  c.1276  C>T,  đột  biến này làm thay đổi acid amin tại codon 426 là  arginin thành cysteine (đột biến p.R426C) và đã  được  Grischuk  công  bố  vào  năm  2006  trên  tạp  chí  J  ClinEndocrinoMetab(5).  Arginine  là  một  trong  4  acid  amin  có  liên  kết  hydro  với  chuỗi  propionate  của  heme  (cysteine‐169,  glycine‐178,  tryptophan‐302  và  arginine‐426),  điều  này  không chỉ giúp định hướng heme trong protein 

mà  còn  tham  gia  vào  việc  vận  chuyển  điện  tử. 

Sự đột biến thay đổi acid amin arginine tại vị trí  codon  426  thành  acid  amin  cysteine  sẽ  phá  vỡ  các  liên  kết  hydro  với  nhân  tố  heme,  khiến 

Exon 1- 3

BN BT BN BT

Exon 3 - 9

Trang 5

protein  không  có  chức  năng  và  gây  thể  mất 

muối  CAH(6).  Ở  bệnh  nhân  này  chúng  tôi  còn 

tìm thấy có sự khác biệt so với trình tự Genbank 

NG_007941 như sau: tại codon 10 có chèn thêm 

3  nucleotid  TGC,  kiểm  tra  kết  quả  SNP  trên 

website  NCBI  chúng  tôi  phát  hiện  đây  chỉ  là 

SNP  chứ  không  phải  đột  biến.  Từ  kết  quả  này 

cho thấy chúng tôi đã bước đầu hoàn thiện được 

các  yếu  tố  thực  hiện  quy  trình  PCR  để  khuếch 

đại  gen  CYP21A2  như:  lựa  chọn  trình  tự  mồi, 

chuẩn nồng độ các thành phần phản ứng, nhiệt 

độ  của  chu  kì  luân  nhiệt  trong  phản  ứng 

PCR,…cũng  như  quá  trình  giải  trình  tự  gen  để 

xác định đột biến. 

Ở bệnh nhân 2, mặc dù đã sử dụng các cặp 

mồi  đặc  hiệu  như  đối  với  bệnh  nhân  CAH  01 

nhưng kết quả PCR không khuếch đại được hai 

đoạn gen của CYP21A2 như bệnh nhân CAH 01, 

trong  khi  đó  mẫu  người  bình  thường  vẫn  xuất 

hiện  2  vạch  tương  ứng  với  kích  thước  của  sản 

phẩm  PCR.  Điều  này  cho  thấy  khả  năng  bệnh 

nhân  bị  đột  biến  tại  vùng  gắn  mồi,  vì  vậy  các 

mồi  không  gắn  được  vào  phân  tử  DNA  của 

bệnh nhân và không khuếch đại được vùng gen 

cần khảo sát. Do cả hai đoạn exon 1‐3 và exon 3‐

9  đều  không  lên  vạch  của  sản  phẩm  PCR  nên 

chúng tôi nghĩ bất thường có thể liên quan đến 

exon gắn mồi chung là exon 3. Từ suy đoán này 

chúng tôi tiếp tục sử dụng phản ứng MLPA để 

phát hiện đột biến mất đoạn gen CYP21A2. Kết 

quả hình 5 cho thấy ở người bình thường, tất cả 

các  đỉnh  tương  ứng  với  các  exon  của  gen 

CYP21A2  đều  xuất  hiện,  trong  khi  đó  ở  mẫu 

bệnh  nhân,  đỉnh  của  exon  1  và  exon  3  không 

xuất hiện, còn đỉnh của các exon 4, 6, 8 có chiều 

cao  chỉ  bằng  ½  so  với  người  bình  thường.  Kết 

quả chứng tỏ bệnh nhân bị mất đoạn đồng hợp 

tử từ exon 1 đến exon 3, còn từ exon 4 đến exon 

8 thì bị mất đoạn dị hợp tử. Điều này suy đoán 

rằngmột trong hai người bố (hoặc mẹ) của bệnh 

nhân  sẽ  mang  kiểu  gen  CYP21A2  dị  hợp  tử, 

trong  đó  1  allele  bình  thường  và  allele  bị  đột 

biến mất đoạn từ exon 1‐3. Người mẹ (hoặc bố) 

còn  lại  cũng  có  kiểu  gen  CYP21A2  dị  hợp  tử, 

mang 1 allele bị đột biến mất đoạn từ exon 1‐8. 

Muốn khẳng định suy đoán cần tiến hành phân  tích  kiểu  gen  của  bố  và  mẹ  bệnh  nhân.  Việc  phân tích di truyền bệnh CAH vẫn còn hạn chế  tại  Việt  Nam  nhưng  đối  với  các  nước  trên  thế  giới  vấn  đề  này  được  quan  tâm  từ  lâu.  Năm 

2009, Concolino đã ứng dụng kỹ thuật MLPA để  chẩn  đoán  đột  biến  mất  đoạn  và  lặp  đoạn  gen 

CYP21A2(3). Năm 2011, tác giả Rabbani cũng đã  dùng kỹ thuật MLPA để chẩn đoán đột biến mất 

đoạn  đồng  hợp  tử  gen  CYP21A2  gây  thể  nam 

hóa ở trẻ Azeri(1). Từ đó cho thấy phương pháp  MLPA  có  thể  sử  dụng  trong  chẩn  đoán  mất  đoạngen  CYP21A2  gây  bệnh  tăng  sản  tuyến 

thượng  thận  bẩm  sinh  và  chúng  tôi  đã  thành  công trong việc ứng dụng phương pháp này. 

KẾT LUẬN 

Nghiên  cứu  đã  bước  đầu  ứng  dụng  thành  công kỹ thuật giải trình tự gen để phát hiện đột  biến  điểm  và  kỹ  thuật  MLPA  để  phát  hiện  đột 

biến mất đoạn gen CYP21A2 gây bệnh tăng sản 

tuyến  thượng  thận  bẩm  sinh.  Điều  này  có  ý  nghĩa  quan  trọng  trong  việc  chẩn  đoán  người  lành  mang  gen  bệnh  và  chẩn  đoán  trước  sinh  cho các bà mẹ có kiểu gen dị hợp tử muốn tiếp  tục mang thai nhằm tránh sinh ra những đứa trẻ 

bị bệnh. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Bahareh  R,  Akbari  MT,  Mahdieh  N,  Zaridust  E,  Ashtiani  MT,  Lee HH,  Auchus  R,  Rabbani  A  (2011).  Homozygous  complete 

deletion of CYP21A2causes a simple virilizing phenotype in an  Azeri child. Asian Biomedicine. 889‐892. 

2 Brook C, Hughes I, and Kelnar C (2000). Antenatal Treatment of 

a Mother Bearing a Fetus with Congenital Adrenal Hyperplasia. 

Archive Disease Children Fetal Neonatal. 82(3):F176‐81. 

3 Concolino  P, Mello  E, Toscano  V, Ameglio  F, Zuppi 

C, Capoluongo E (2009). Multiplex ligation – dependent probe 

amplification (MLPA) assay for the detection of CYP21A2 gene 

deletions/  duplications  in  Congenital  Adrenal  Hyperplasia: 

First technical report.Clin Chim Acta. 402(1‐2):164‐70. 

4 Day  DJ, Speiser  PW, Schulze  E, Bettendorf  M, Fitness  J, Barany 

F, White  PC  (1996).  Identification  of  Non‐Amplifying  CYP21 

Genes  When  Using  PCR‐Based  Diagnosis  of  21‐Hydroxylase  Deficiency in Congenital Adrenal Hyperplasia (CAH) Affected 

Pedigrees. Hum Mol Genet. 5(12):2039‐48. 

5 Grischuk  Y, Rubtsov  P, Riepe  FG, Grötzinger  J, Beljelarskaia 

S, Prassolov  V, Kalintchenko  N, Semitcheva  T, Peterkova 

V, Tiulpakov  A, Sippell  WG, Krone  N  (2006).  Four  novel 

missense  mutations  in  the  CYP21A2  gene  detected  in  Russian 

patients suffering from the classical form of congenital adrenal 

Trang 6

hyperplasia:  identification,  functional  characterization,  and 

structural analysis. J.Clin Endocrinol Metab;91(12):4976‐80. 

6 Haider  S, Islam  B, DʹAtri  V, Sgobba  M, Poojari  C, Sun  L, Yuen 

T, Zaidi M, New MI (2013).Structure phenotype correlations of 

hyperplasia.Proc Natl Acad Sci USA; 110(7):2605‐10. 

7 Loke KY, Lee YS, Lee WW, Poh LK (2001). Molecular Analysis 

of  CYP‐21  Mutations  for  Congenital  Adrenal  Hyperplasia  in 

Singapore.Horm Res; 55(4):179‐84. 

8 Speiser  PW,  Dupont  J,  Zhu  D,  Serrat  J,  Buegeleisen  M,  Tusie‐

Luna  MT,  Lesser  M,  New  MI,  White  PC  (1992).  Disease 

expression  and  molecular  genotype  in  congenital  adrenal 

hyperplasia  due  to  21‐hydroxylase  deficiency.  J  Clin.  Invest; 

90(2): 584‐595. 

9 Trần  Vân  Khánh,  Lê  Thị  Phương,  Trần  Huy  Thịnh  và  Tạ 

Thành Văn (2012). Phát  hiện  đột  biến  gen  CYP21A2  ở  bệnh  nhân  tăng  sản  thượng  thận  bẩm  sinh.Tạp  chí  nghiên  cứu  Y 

học, 78(1):100‐103. 

10 Vrzalova’  Z,  et  al  (2011).Chimeric  CYP21A1P/  CYP21A2  genes 

identified  in  Czech  patients  with  congenital  adrenal 

hyperplasia. Eur J Med Genet; 54(2):112‐7. 

 

Ngày phản biện nhận xét bài báo:   26/11/2013 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 16:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm