1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Gây mê nội khí quản trong mổ cắt amidan đặc điểm, chỉ định, chống chỉ định

7 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 261,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PT cắt Amidan phổ biến trong chuyên khoa Tai Mũi Họng, thực hiện khi Amidan lớn gây trở ngại hô hấp, viêm mạn tính, hoá mủ hay điều trị nội khoa không kết quả. Từ trước, PT cắt Amidan thường gây tê tại chỗ, nhưng không thuận lợi nên chúng tôi thực hiện phương pháp gây mê nội khí quản. Từ tháng 01/2002 đến tháng 12/2003, chúng tôi thực hiện 1412 TH gây mê để cắt bỏ Amidan tại BV. TMH Cần Thơ gồm có 649 nam; 763 nữ, hầu hết từ 20 - 30 tuổi. Tất cả TH đều GM với thuốc mê Halothane hay Forane. Kết quả tốt: 1088 TH (77.05%). Không có trường hợp nào tử vong. Chúng tôi nhận thấy GM NKQ, tuy khó khăn, nhưng là PPVC thích hợp cho PT này.

Trang 1

Nguyễn Văn Chừng*, Đào Trọng Thắng**

TÓM TẮT

PT cắt Amidan phổ biến trong chuyên khoa Tai Mũi Họng, thực hiện khi Amidan lớn gây trở ngại hô hấp, viêm mạn tính, hoá mủ hay điều trị nội khoa không kết quả Từ trước, PT cắt Amidan thường gây tê tại chỗ, nhưng không thuận lợi nên chúng tôi thực hiện phương pháp gây mê nội khí quản Từ tháng

01 / 2002 đến tháng 12 / 2003, chúng tôi thực hiện 1412 TH gây mê để cắt bỏ Amidan tại BV TMH Cần Thơ gồm có 649 nam; 763 nữ, hầu hết từ 20 – 30 tuổi Tất cả TH đều GM với thuốc mê Halothane hay Forane Kết quả tốt: 1088 TH (77.05%) Không có trường hợp nào tử vong Chúng tôi nhận thấy GM NKQ, tuy khó khăn, nhưng là PPVC thích hợp cho PT này

SUMMARY

ENDOTRACHEAL ANESTHESIA FOR TONSILLECTOMIES: CHARACTERISTICS,

INDICATIONS AND CONTRAINDICATIONS

Nguyen Van Chung, Dao Trong Thang

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 9 * Supplement of No 1 * 2005: 106 – 112

Tonsillectomy is still one of the most commonly performed in otorhinolaryngology Ordinary, surgical treatment is required when tonsillitis recurs despite adequate medical therapy or when it is associated with peritonsillar abcess or acute airway obstruction Many years ago, tonsillectomy had been anesthetized under local anesthesia but this technique had many dangerous complications To be improve this conditions, we has been using general anesthesia From Jannuary2002 to December 2003, we have performed 1412 cases of the tonsillectomy, which had been anesthetized to be operated at the Deparrtment of Anesthesiology and Reanimation of Can Tho hospital There are 649 males and 763 females The largest number of patients presented between the age of 20 to 30 All of cases under general anesthesia All of cases were given Halothane or Forane as anesthetic The result is follow: Goods: 1088 patients (77.05%), there is no death reported

Conclusion: According the first obtained result seriees, with the good and weak sides of general

anesthesia We can use it in the tonsillectomy This is a method to be safe for patients, and effective for operation

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm Amidan là một bệnh phổ biến trong chuyên

khoa Tai - Mũi - Họng với tác nhân gây bệnh chủ yếu

là do viêm nhiễm, việc điều trị chủ yếu là nội khoa, chỉ

phẫu thuật cắt bỏ khi có biến chứng hoặc điều trị nội

khoa thất bại, bệnh tái đi tái lại nhiều lần

Tại Bệnh viện Tai - Mũi - Họng Cần Thơ, trong 2

năm (2002 - 2003) đã có 1412 trường hợp cắt Amidan

trên tổng số.3826 cas phẫu thuật (chiếm tỉ lệ 36,9.%), bao gồm cả trẻ em và người lớn, trong đó hầu hết các trường hợp đều được cắt dưới gây mê nội khí quản Ưu điểm của cắt Amidan dưới gây mê là ít chấn thương tâm lý, ít đau đớn hơn cho người bệnh; phẫu thuật viên dễ thao tác, khâu cột cầm máu tốt hơn, có thể áp dụng những phương pháp mổ hiện đại như cắt bằng dao điện Bipolar, Monopolar, cắt bằng Laser, giảm thiểu những tai biến trong kỹ thuật cắt Amidan

* ĐH Y Dược TPHCM

Trang 2

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

Nhưng nhược điểm là đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ

gây mê hồi sức có kinh nghiệm, có phòng mổ có trang

thiết bị gây mê nội khí quản thích hợp

Trước đây, phẫu thuật cắt Amidan chủ yếu là gây

tê tại chỗ (có tiền mê) được thực hiện ở các cơ sở y tế

tuyến huyện, tỉnh, thành phố Đã có khá nhiều tai

biến đáng tiếc xảy ra trong thời gian qua và không ít

biến chứng phải trả giá bằng tính mạng của bệnh

nhân Chính vì để giảm thiểu những tai biến, biến

chứng đó mà phương pháp cắt Amidan dưới gây mê

dẫn đầu dần dần thay thế cho gây tê tại chỗ

Ở Cần Thơ, hiện nay các trung tâm y tế huyện,

thành phố đều có bác sĩ chuyên khoa Tai - Mũi -

Họng và hệ thống phòng mổ trang bị khá đầy đủ

Trên cơ sở đó, chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm

đánh giá hiệu quả của phương pháp gây mê, đề xuất

một số lựa chọn thích hợp, bước đầu xây dựng một

phác đồ gây mê cho mổ cắt Amidan áp dụng trong

tỉnh Cần Thơ, đáp ứng nhu cầu cấp thiết của tuyến cơ

sở hiện nay

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

- Tình hình cắt Amidan dưới gây mê nội khí quản

tại Bệnh viện Tai - Mũi - Họng Cần Thơ từ 1-1-2002

đến 31- 12- 2003

Mục tiêu chuyên biệt

- Đánh giá các đặc điểm của tiến trình gây mê cắt

Amidan

- Đánh giá các tỉ lệ tai biến, biến chứng xảy ra

trong quá trình gây mê mổ cắt Amidan từ đó rút ra

các chỉ định và chống chỉ định cần lưu ý

- Lựa chọn một phương pháp vô cảm mang lại

hiệu quả và an toàn cho người bệnh

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp mô tả cắt ngang

Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu thuận tiện

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả các bệnh nhân được cắt Amidan bằng gây mê tại Bệnh viện TMH Cần Thơ từ ngày 1-1-2002 đến 31-12-2003, không phân biệt tuổi, giới, nghề nghiệp và thỏa mãn các tiêu chuẩn sau:

Tiêu chuẩn chọn bệnh

- Có chỉ định mổ cắt Amidan (có thể phối hợp với nạo VA hoặc không)

- Được đánh giá tiền mê ở ASA I và II

Tiêu chuẩn loại trừ

- Cắt Amidan bằng phương pháp gây tê tại chỗ

- Kết quả lâm sàng, cận lâm sàng có biểu hiện tiểu đường, rối loạn chức năng gan, suy thận nặng, suy tim, lao phổi, rối loạn đông máu, HIV (+)

- Đánh giá tiền mê ASA III - IV - V

Các biểu mẫu thu thập số liệu

- Phiếu khám tiền mê

- Phiếu gây mê

- Phiếu theo dõi hậu phẫu

Phương pháp xử lý số liệu

Sử dụng phần mềm EpiInfo

Phương pháp tiến hành

Chuẩn bị

- Người bệnh được khám tiền mê kỹ lưỡng, hồ sơ bệnh án đầy đủ các xét nghiệm thường qui và các xét nghiệm chuyên biệt (nếu cần), có chỉ định mổ và biên bản hội chẩn phẫu thuật &

- Không ăn uống trước mổ 6 - 8 giờ, đánh răng súc miệng sạch sẽ

- Tại phòng tiền phẫu: người bệnh được thay quần áo vô trùng, đo mạch huyết áp và lấy đường truyền tĩnh mạch chắc chắn (thường sử dụng dd Lactat Ringer hoặc Eurosol M) với kim luồn tĩnh mạch (IV catheter)

Tiền mê: (trong phòng mổ)

- Sử dụng nhóm Benzodiazepin (Valium, Seduxen) 0,1 - 0,2 mg/kg IV hoặc nhóm Midazolam (Hypnovel) 0,05 – 0,1 mg/kg IV

Trang 3

- Có thể phối hợp vớI kháng dị ứng nếu cần thiết:

Pipolphene 0,5 mg/kg hoặc Depersolon

Khởi mê

Khởi mê đường tĩnh mạch

Dùng Thiopentol (Nesdonal) 4 - 7 mg/kg IV

loãng chậm với nồng độ từ 1 - 2,5% Giảm liều ở

người gầy yếu, người già và người bệnh có giảm thể

tích máu

Hoặc dùng Propofol (Diprivan) 2 - 2,5 mg/kg IV

Giảm liều và tiêm chậm ở người già và người có rối loạn

về huyết động học Chỉ sử dụng thuốc trong vòng 6 giờ

kể từ khi mở ống thuốc để tránh nhiễm khuẩn

Giãn cơ

Dùng Suxamethonium (Succinylcholin) 1 - 2

mg/kg IV, chỉ dùng trong những trường hợp tiên

lượng đặt nội khí quản khó, chảy máu sau mổ cắt

Amidan nhiều cần đặt lại nội khí quản & Hiện rất

hạn chế sử dụng vì thuốc này có nhiều tác dụng phụ

bất lợi

Hoặc dùng Esmeron (Rocuronium Bromide) 0,3 -

0,45 mg/kg Đây là kỹ thuật sử dụng Esmeron liều

thấp trong các phẫu thuật ngắn và trung bình

Hoặc dùng Norcuron (Vecuronium) 0,07 - 0,1

mg/kg

Đặt nội khí quản

- Thông khí qua mặt nạ đảm bảo cho người bệnh

đạt độ giãn cơ thích hợp và có dự trữ oxy mô đầy đủ

- Đặt nội khí quản đường mũi với cỡ ống thích

hợp từ 4.0 đến 6.0

- Có bơm bóng chèn ống nội khí quản

- Có thể đặt nội khí quản đường miệng trong

trường hợp không đặt được nội khí quản đường mũi

do tịt cửa mũi sau, vẹo vách ngăn nhiều, polyp mũi,

đặt nội khí quản cấp cứu do chảy máu sau cắt

Amidan & nhưng cần lưu ý: Ống nội khí quản trong

miệng có thể sẽ cản trở phẫu thuật viên thao tác và

dễ bị di lệch, tuột, chèn ép hơn là đặt ống nội khí

quản qua mũi

(Isofluran) 1 - 2%

- Thông khí hỗ trợ hoặc chủ động

- Theo dõi chặt chẽ độ mê, tần số và thể tích hô hấp, sự thay đổi của mạch, huyết áp và độ bão hòa oxy mô (SpO2) Xử trí kịp thời những tai biến, biến chứng xảy ra

Hồi tỉnh

Rút nội khí quản trong phòng mổ hoặc ở hậu phẫu, đảm bảo an toàn cho người bệnh (mạch, huyết áp ổn định, có phản xạ nuốt tốt, tự thở tốt, hiệu quả, tỉnh hoàn toàn và không chảy máu)

Tại phòng hồi tỉnh: theo dõi chặt các biến chứng xảy ra sau mổ như suy hô hấp, tụt huyết áp, lạnh run, nôn ói, chảy máu, đau đớn, cao huyết áp, tuột lưỡi, co thắt

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN (1412 trường hợp): Tuổi

Đa số người bệnh cắt Amidan đều ở độ tuổi trẻ lớn và người lớn (trên 16 tuổi).Tỉ lệ trẻ dưới 15 tuổi cắt Amidan chỉ chiếm 28.05%

Tuổi

158 233

728

293

0 200 400 600 800

4t - 10 t 11t - 15t 16t - 30t tren 30t

11.20% 16.85% 51.55% 20.70%

Số lượng

Biểu đồ 1: Tuổi cắt Amidan

Giới tính

Mặc dù tỉ lệ nữ cắt Amidan cao hơn nam giới nhưng khác biệt này không đáng kể

45.96% 54.04%

0.00%

0.00%

Nam 649

Nu 763

Biểu đồ 2 : Giới

Trang 4

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005 Phương pháp phẫu thuật:

Có nhiều phương pháp phẫu thuật nhưng tại

Trung tâm TMH Cần Thơ chủ yếu cắt bằng Anse và

bằng dao điện Monopolar Gần đây, phương pháp cắt

Amidan bằng máy đốt điện cao tần lưỡng cực Bipolar

đã triển khai và mang lại kết quả tốt cho người bệnh

Biểu đồ 3: Phương pháp phẫu thuật

Các yếu tố nguy cơ trong phẫu thuật:

(ASA)

Qua thăm khám tiền mê, số người bệnh được đánh

giá ở ASA I chiếm tỉ lệ 95,9% (1354/1412 cas); ở ASA II

chiếm 4,1% (58/1412 cas) Đa số người bệnh khỏe

mạnh, không có các bệnh lý khác đi kèm nhưng trong

tiền sử người bệnh, chúng tôi nhận thấy như sau:

Tiền sử bệnh

Bảng 1: Tiền sử bệnh

Viêm phế quản mạn 14 cas 0,99%

Hút thuốc lá trên 1 gói/ ngày 12 0,84%

Động kinh 3 0,21%

Cao huyết áp 7 0,49%

Thông liên thất (tim bẩm sinh) 4 0.28%

Hen phế quản 9 0,64%

Trẻ mập phì 7 0,49%

Hội chứng ngưng thở khi ngủ 2 0,14%

Tâm thần phân liệt 1 0,07%

Tiền sử dị ứng thuốc

Bảng 2: Tiền sử dị ứng thuốc

Ampicillin 5 cas 0,35%

Cotrimoxazole 2 0,14%

Paracetamol 3 0,21%

Thuốc tê không rõ loạI 6 0,42%

Thuốc khác không rõ loạI 2 0,14%

Trọng lượng cơ thể

Bảng 3: Trọng lượng cơ thể

DướI 10 00 00

11 – 20 74 5,24

21 – 30 172 12,2

41 – 50 528 37,4

51 - 60 327 23,17

61 – 70 129 11,51 Trên 70 16 3,88

Do t ời lớn cắt Am cao gấp rẻ

em

g trong quá

thuốc sử dụng

g Chiếm tỉ lệ %

nên phù hợp với tỉ lệ người từ 41 - 60 kg chiếm 60,57 % Lưu ý, tỉ lệ người bệnh nặng trên 70 kg chiếm 3,88 %và có 4/396 trẻ bị mập phì chiếm tỉ lệ 1,01%, trong đó có 2 em có hội chứng ngưng thở trong khi ngủ xảy ra thường xuyên

Tỉ lệ các loại thuốc sử dụn

31 – 40 166 11,79

trình gây mê:

Bảng 4: Tỉ lệ các loại

An thần Hypnovel

Seduxen Valium

1306

92

14

92,52 6,52 0,99 Opioides Fentanyl 1380

Dolargan 32

97,72 2,27 Thuốc dẫn mê

tĩnh mạch

Nesdonal Propofol

385

1027

27,27 72,73 Giãn cơ Su n

1343

ccinylCholi Esmeron Norcuron

50

19

3,54 95,11 1,35 Thuốc mê hơi Halothan

Foran

246

1166

17,42 82,58 Các thuốc khác Nidal (giảm đau)

Primperan

718

Atropin Cầm máu Prostigmin Kháng viêm

411

9

3

10

221

29,11 0,64 0,21 50,84 0,7 1,49

Hiện nay, x ê c ằng đa ợc thế

kg /kg

u thế gây m ân b ng đư giới ưa chuộng, phương pháp gây mê này phối

hợp 4 sản phẩm tùy theo đặc thù của gây mê toàn thân (mất tri giác, giảm đau, bảo vệ thần kinh thực vật, và giãn cơ) Sự phối hợp này sẽ làm tăng tiềm lực tác dụng của thuốc trong khi giảm được liều sử dụng

- Trong quá trình cắt Amidan tại Bệnh viện Tai - Mũi - Họng Cần Thơ, chúng tôi sử dụng phác đồ như sau: Hypnovel: 0,1 mg/kg

Fentanyl: 2 μg / kg Nesdonal: 4 – 7 mg/

Esmeron: 0,3 – 0,45 mg

7.93%

41.36%

50.71%

0.00% ANSE : 112

Bipolar: 584 Monopolar: 716

Trang 5

và cộng sự (Eur J Anesth 1995; 12(11): 85 -

90)

ã báo cáo thời gian tác

ều kiện tiên quyết của

á Nesdonal bằng Propofol, một thu

p kho

(4 mg/kg), Propofol (2,5 mg/

có t

ản được sử dụng

mg/kg là kỹ thuật sử dụng Esmeron

(Rocuronium) liều thấp với độ sâu gây mê thích hợp

Liều Esmeron 0,3 mg/kg rất thích hợp cho những

trường hợp mổ ngắn hoặc trung bình như cắt

Amidan

Prien

đã nghiên cứu điều kiện đặt nội khí quản và thời

gian tác động sau khi tiêm 0,3 mg/kg Esmeron trên

40 bệnh nhân được gây mê với Alfentanyl/ propofol

hoặc Fentanyl/ Thiopenthol/ Enfluran Điều kiện đặt

nội khí quản là tốt và rất tốt ở 90% số bệnh nhân ở cả

2 nhóm Thời gian tác động lâm sàng là 13,9 phút ở

nhóm Alfentanyl/ Propofol và 16,7 phút ở nhóm

Fentanyl/Thiopenthol/Enfluran

Tương tự, Mayer và cộng sự đ

động là 18 phút với liều 0,3 mg/kg Esmeron (The

neuromuscular blocking effects of Org 9426

Anesthesist, 1991; 40: 668 – 671)

Độ sâu gây mê thỏa đáng là đi

kỹ thuật này

Khi thay the

ốc gây ngủ đường tĩnh mạch có tác động ngắn

và tỉnh nhanh với liều khởi mê 2 - 2,5 mg/kg, chúng

tôi nhận thấy người bệnh hồi tỉnh rất tốt, rất thuận

tiện cho các phẫu thuật ngắn và trung bình, đặc biệt

thích hợp với những bệnh nhân mổ về trong ngày

Khởi mê bằng propofol có thể gây giảm huyết á

ảng 20 - 30%, sự phục hồi của huyết áp động

mạch phụ thuộc vào từng cá thể và tuổi tác Dưới 60

tuổi, huyết áp có thể giảm 20 mmHg trong 58%

trường hợp sử dụng thuốc và giảm trên 40 mmHg

trong 4% trường hợp Trên 60 tuổi, tuột huyết áp 20

mmHg trong 20% và tuột trên 40 mmHg với 39%

trường hợp Do vậy, ở người trên 60 tuổi, suy gan, suy

thận & ta phải giảm liều Propofol sử dụng khoảng

20% tổng liều

So sánh với Thiopental

kg) gây ức chế hô hấp, ngưng thở kéo dài hơn

trong khoảng 50% trường hợp Ngưng thở càng dễ

hể ức chế tổng hợp Cortisol Sau 30 phút tiêm liều 2,5 mg/kg Propofol, lượng Cortisol trong máu giảm

12 - 30%, khi sử dụng kéo dài với liều duy trì 3,4 - 4,5 mcg/ml huyết tương, người ta thấy sau 1 giờ, Cortisol trong máu giảm 39%, nếu truyền tĩnh mạch trong 2 giờ thì sau 1 giờ ngưng truyền, Cortisol máu sẽ trở lại bình thường

Cỡ ống nội khí qu

Bảng 5: Cỡ ống nội khí quản

Cỡ o húng tôi sử du ho người lơ ờng là 5

xong cho đến khi mổ xon

Biểu đồ 4: Thời gian duy trì mê

20 phút chiếm tỉ lệ 20,1

Isofluran trong hầu hết các trươ

.0 và 5.5, cỡ ống 6.0 - 6.5 thường chỉ để đặt nội khí quản đường miệng mà thôi

Thời gian duy trì mê

(từ lúc đặt nội khí quản

g, gần tương đương với thời gian phẫu thuật)

Thời gian phẫu thuật trên 8% trên những người bệnh cắt Amidan là người lớn, có Amidan teo đét hoặc hốc mủ đưa đến thời gian phẫu thuật kéo dài

Chúng tôi sử dụng øng hợp vì Isofluran được thải trừ hầu hết qua phổi (99,5%), chỉ khoảng 0,3 - 0,5 % chuyển hóa ở gan,

S ố l ư ợng

59

658 410

111 122

52

0 200 400 600

46.60%

29.04%

7.86%

8.64%

< 10 phut

phut

3.68%

Thời gian

Trang 6

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

mê hơi

gười bệnh có thể được rút nội khí quản

tron

nh hẳn

øn mổ là 2,97%

(42/

sản phẩm cuối cùng là acid fluoroacetic và ion Flo (F)

vô cơ được thải qua nước tiểu Với nồng độ gây mê 0,5

- 1,5% thì lượng Flo không đủ gây độc cho thận

Cũng do chuyển hóa rát ít nên sự nguy hiểm đối với

chức năng gan là tối thiểu Người ta cho rằng đó là

do phân tử Isofluran rất ổn định và không có ý kiến

nào về sự độc của Isofluran (Foran) với gan và thận

Trong khi đó, dùng Fluothan (Halothan), độ nặng có

thể từ tăng nhẹ men gan không có triệu chứng lâm

sàng (tỉ lệ 20% ở người lớn sau lần dùng lại Halothan)

cho đến hoại tử gan cấp (tỉ lệ 1/35.000)

Thời gian từ lúc ngắt thuốc

216 318 527

141

78 74 58 0

100 200 300 400 500 600

15.29% 37.32% 5.52% 4.11%

10 20 30 40 50 60

Số lượng

Thời gian

đến khi rút được nội khí quản

Biểu đồ 5: Thời gian ngắt thuốc mê hơi đến khi rút

nội khí quản

74,08% n

g vòng 15 phút sau khi ngắt thuốc mê với những

điều kiện rút nội khí quản phải được tôn trọng:

- Không chảy máu, mạch, huyết áp ổn định

- Không còn tác dụng giãn cơ

- Có phản xạ nuốt nhiều hoặc tỉ

- Tự thở đều tốt, có hiệu quả

Th øi gian từ lúc rút nội

cho đến khi gọi hỏi mở mắt

Tỉ lệ người bệnh tỉnh ngay trên ba

1412 cas) tập trung vào số bệnh có sử dụng

Propofol để khởi mê, còn lại, đa số đều tỉnh, gọi hỏi

mở mắt trong vòng 30 phút trở lại

Biểu đồ 6: Thời gian rút nội khí quản xong đến khi gọi hỏi mở mắt

Các tai biến, biến chứng

Chảy máu sau mổ

12/1412 chiếm tỉ lệ 0,84%

Bảng 6: Chảy máu sau mổ

Thời gian chảy máu Số lượng bệnh nhân Tỉ lệ %

Trong 6 giờ đầu sau mổ:

Từ 6 - 24 giờ sau mổ:

Trên 24 giờ (7 đến 15 ngày):

5

1

6

0,35 0,07 0,42

Có 3 trường hợp nào phải cầm máu lại dưới gây mê nội khí quản

Lạnh run sau mổ

11/1412 cas chiếm tỉ lệ 0,78% Triệu chứng lạnh run sẽ giảm ngay sau khi cho người bệnh sưởi đèn và dùng Dolargan liều thấp (0,2 - 0,25 mg) pha loãng tiêm tĩnh mạch chậm

Nôn ói sau mổ

7/1412 cas chiếm tỉ lệ 0,49%

Tổn thương răng, họng, miệng do đặt nội khí quản không xảy ra nhưng có chảy máu mũi phải nhét mèches

2/1412 cas chiếm tỉ lệ 0,14%, chủ yếu do người bệnh có vẹo vách ngăn phối hợp, khi rút ống nội khí quản thô bạo có thể làm trầy xước cửa mũi sau hoặc vách ngăn Chảy máu mũi sau rút nội khí quản thường không nghiêm trọng nhưng phải lưu ý vì có thể chảy máu sẽ làm nghẹt đường thở hoặc nuốt máu gây nôn ói tại hậu phẫu chúng ta có thể dễ dàng kiểm soát bằng cách nhét mèches mũi trước có tẩm dung dịch Rhinex, Otrivin 0,5 - 1% hoặc Humoxal&

35

0

100

200

300

400

500

600

2.48%

497 514

35.20%

36.40%

215

15.23%

151

10.69%

S ố l ư ợng

phut

Trang 7

thiểu tối đa khi ta tôn trọng chặt chẽ các nguyên tắc trong gây mê hồi sức Một trong những tai biến trong cắt Amidan là chảy máu sau mổ Sự kết hợp chặt chẽ giữa phẫu thuật viên và người gây mê hồi sức rất quan trọng vì việc cầm máu sau cắt Amidan không thể chỉ dựa vào các loại thuốc cầm máu mà phải khâu, kẹp, cột cầm máu Khi có chảy máu, chúng ta nên theo dõi sát, can thiệp sớm để giảm thiểu các tai biến nặng thêm cho người bệnh như giảm thể tích máu, nuốt máu cặn gây nôn ói, tuột huyết áp

đường miệng

Tuột huyết áp, rối loạn nhịp tim, ngưng tim

Không xảy ra, nhưng có 1 trường hợpngưng thở

tại hậu phẫu, đây là một đứa trẻ 11 tuổi 43 kg (mập

phì) chậm phát triển tâm thần do di chứng viêm não

từ nhỏ Bệnh nhân này thường xuyên có triệu chứng

ngưng thở khi ngủ trước khi cắt Amidan, sau 48 giờ

cắt Amidan, không còn xảy ra tình trạng này nữa

Co thắt khí phế quản

3/1412 cas chiếm tỉ lệ 0,21% Xử trí đặt lại nội khí

quản đường miệng dưới tác dụng giãn cơ

SuccinylCholin

KẾT LUẬN

Cắt Amidan là một phẫu thuật thông dụng trong chuyên ngành TMH Các trung tâm y tế huyện có bác

sĩ TMH và gây mê hồi sức được đào tạo tốt có thể triển khai phẫu thuật này để giúp giải quyết thuận tiện cho người bệnh tại tuyến cơ sở Bên cạnh một phác đồ sử dụng thuốc an toàn, người chuyên viên Gây mê hồi sức đòi hỏi phải nắm vững kỹ thuật, có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác An toàn cho ngừoi bệnh sẽ được đảm bảo nếu ta nắm chắc được phác đồ sử dụng thuốc, kỹ thuật gây mê, theo dõi người bệnh chặt chẽ, xử lý kịp thời các tai biến, biến chứng xảy ra

Cháy nổ:

1/1412 ca chiếm tỉ lệ 0,07% do sử dụng dao điện

đơn cực (Monopolar) kết hợp với ống nội khí quản

không bơm bóng chèn gây rò rỉ oxy Tuy không gây

hậu quả nghiêm trọng, chỉ tạo nên 1 tia lửa xanh

trong miệng, chưa gây phỏng cho người bệnh, nhưng

cần tuyệt đối phòng tránh bằng cách sử dụng dao

điện lưỡng cực (Bipolar) ít phóng điện hơn và phải

bơm bóng chèn ở ống nội khí quản cẩn thận

Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất một

phác đồ gây mê cho cắt Amidan như sau TÀI LIỆU THAM KHẢO

Chuẩn bị tốt người bệnh 1 Nguyễn Văn Chừng Bài giảng Gây mê - Hồi sức, bộ

môn Gây mê - Hồi sức, Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh

Không sốt, không viêm cấp tính

trường Đại học Y Hà nội, Nhà xuất bản Y học 2002 Tiền mê: Hypnovel: 0,05 - 0,1 mg/kg IV 3 Clifferd Bierman and Alberto de Amendi, Anesthesia

for Otorhinolaryngologic (ORL) procedures, Clinical Anesthesia produces of the Massachussette General Hospital, Fifth edition, 1998, page 453

Fentanyl: 1 – 3 μg/kg IV

Thở Oxy 3 lít /phút trong 3 - 5 phút 4 Shah UK.: Tonsillitis and peritonsilar abscess, eMedicine Journal July 31, 2001, volum 2, number 7

(Reuters health – Oct 22), Copyrigh © 1994 – 2001 by Medscape Inc

Khởi mê: Diprivan (Propofol) 2 - 2,5 mg/kg IV

Manual of Pediatric Anesthesia, third edition 1990, Churchill Livingstone Inc, page 178

Giãn cơ: Esmeron: 0,3 - 0,45 mg/kg IV

Đặt nội khí quản đường mũi

Rút nội khí quản an toàn khi tỉnh hẳn

Le livre de l’ interne anesthésiologie, Flammarion Médicine – Sciences 1998, page 422

Ngày đăng: 21/01/2020, 16:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w