1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Xì rò miệng nối thực quản cổ‐ kinh nghiệm qua 66 trường hợp cắt thực quản nội soi ngực bụng điều trị ung thư thực quản 2/3 dưới

6 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 560,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công trình nghiên cứu được tiến hành để đánh giá xì rò miệng nối thực quản cổ trong phẫu thuật cắt thực quản nội soi ngực bụng điều trị ung thư thực quản 2/3 dưới. Và tiến hành nghiên cứu trên 66 trường hợp phẫu thuật cắt thực quản nội soi ngực bụng điều trị ung thư thực quản 2/3 dưới tại khoa Ngoại tiêu hoá Bệnh viện Chợ Rẫy.

Trang 1

QUA 66 TRƯỜNG HỢP CẮT THỰC QUẢN NỘI SOI NGỰC BỤNG  

ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THỰC QUẢN 2/3 DƯỚI 

Trần Phùng Dũng Tiến*,** 

TÓM TẮT 

Mục  tiêu:  Đánh giá xì rò miệng nối thực quản cổ trong phẫu thuật cắt thực quản nội soi ngực bụng 

điều trị ung thư thực quản 2/3 dưới. 

Phương pháp nghiên cứu: Tiền cứu, mô tả 66 trường hợp phẫu thuật cắt thực quản nội soi ngực bụng 

điều trị ung thư thực quản 2/3 dưới tại khoa Ngoại tiêu hoá Bệnh viện Chợ Rẫy. 

Kết quả: Từ 1/2009 đến 6/2013, chúng tôi thực hiện 66 trường hợp cắt thực quản qua nội soi ngực và 

bụng điều trị ung thư thực quản 2/3 dưới. Có 01 (1,51%) trường hợp xì miệng nối thực quản cổ. Trường hợp  này được điều trị bảo tồn, nằm viện 23 ngày, có viêm phổi sau mổ, bệnh nhân xuất viện ổn. Không có tử vong.  

Kết luận: Xì miệng nối thực quản cổ trong phẫu thuật cắt thực quản nội soi ngực bụng có tỉ lệ thấp nếu 

phẫu thuật viên có kinh nghiệm, tỉ lệ điều trị bảo tồn thành công cao và hiếm khi gây tử vong. Việc ngăn ngừa  biến chứng này cần thực hiện bởi phẫu thuật viên kinh nghiệm, thao tác cẩn thận, tránh sang chấn dạ dày, ống 

dạ dày cần đủ dài, không thiếu máu. Cần phát hiện và xử trí kịp thời, tích cực, bằng cách mở rộng vết mổ cổ, dẫn  lưu hiệu quả và nuôi dưỡng đầy đủ qua ống mở thong hỗng tràng kết hợp với vật lý trị liệu giúp đường thở sẽ  tránh được biến chứng tử vong. 

Từ khóa: Xì miệng nối, phẫu thuật nội soi cắt thực quản, miệng nối ở cổ, khâu tay, nối bằng stapler. 

ABSTRACT 

RUPTURE AND LEAK OF CERVICAL ESOPHAGEAL ANATOMOSIS – EXPERIENCE  

WITH 66 CASES OF THORACOSOPIC AND LAPAROSCOPIC ESOPHAGECTOMY 

 IN TREATMENT 2/3 LOWER ESOPHAGEAL CANCER  

Tran Phung Dung Tien * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 5‐ 2014: 123 ‐ 128 

Objective:  To  evaluate  cervical  esophageal  anastomotic  leakage  in  thoracoscopic  and  laparoscopic 

esophagectomy in treatment 2/3 lower esophageal cancer. 

Methods:  Prospective,  66  cases  of  thoracoscopic  and  laparoscopic  esophagectomy  were  performed  in  the 

surgical digestive department in Cho ray hospital. 

Results:  From  01/2009  to  07/2013,  66  cases  of  thoracoscopic  and  laparoscopic  esophagectomy  have  been 

performed at Cho Ray hospital. The cervical anastomosis were performed in all. There were 1 case (1.52%) with  anastomosis leak. The anastomosis leak were promtly recognized and managed. There’re no death due to leak of  the cervical esophagastric anastomosis. 

Conclusion:  Anastomotic leak in esophagectomy is a brightfull complication, especially with intrathoracic 

anastomosis that associated with high mortality. Although leak is more common following cervical anastomosis, it 

is more successful and has less mortality. It is important that is anastomosis must be performed by an experienced  surgeon, and leak should be early recognized and managed.  

* Bộ môn Ngoại, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh   ** Khoa Ngoại Tiêu hóa, Bệnh viện Chợ Rẫy 

Tác giả liên lạc: Ths. BS Trần Phùng Dũng Tiến   ĐT: 0907576099   Email: tranpdtien@gmail.com 

Trang 2

Keywords:  Anastomotic  leakage,  minimally  invasive  esophagectomy,  cervical  anastomosis,  hand‐sewn, 

stapled anastomosis 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Phẫu thuật cắt thực quản quản nội soi ngực 

bụng điều trị ung thư thực quản 2/3 dưới là một 

phẫu  thuật  lớn,  kỹ  thuật  phức  tạp  tinh  tế,  thời 

gian  mổ  kéo  dài,  tình  trạng  bệnh  nhân  thường 

không  tốt,  dinh  dưỡng  kém  do  không  ăn  uống 

được.  Chính  vì  vậy  tỉ  lệ  tai  biến  và  biến  chứng 

của phẫu thuật còn cao. Trong đó biến chứng xì 

rò  miệng  nối  là  một  trong  những  biến  chứng 

nặng, làm kéo dài thời gian và chi phí điều trị và 

tăng tỉ lệ tử vong sau mổ. 

Mục tiêu nghiên cứu  

Phân  tích,  đánh  giá  tình  trạng  xì  rò  miệng 

nối thực quản cổ trong phẫu thuật cắt thực quản 

quản  nội  soi  ngực  bụng  điều  trị  ung  thư  thực 

quản  2/3  dưới  nhằm  tìm  ra  được  biện  pháp 

phòng  ngừa,  phát  hiện  và  xử  trí  kịp  thời,  làm 

giảm tỉ lệ tử vong sau phẫu thuật cắt thực quản. 

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Trong thời gian từ tháng 1/2009 đến 7/2013, 

tại  Bệnh  viện  Chợ  Rẫy,  chúng  tôi  thực  hiện  66 

trường  hợp  cắt  thực  quản  qua  nội  soi  ngực  và 

bụng điều trị ung thư thực quản 2/3 dưới, trong 

đó có 65 bệnh nhân nam và 1 bệnh nhân nữ. 

Kỹ thuật phẫu thuật nội soi cắt thực quản 

Bệnh  nhân  được  gây  mê  nội  khí  quản,  đăt 

ống  Carlens  đảm  bảo  phổi  bên  mổ  xẹp  tốt. 

Chúng tôi áp dụng kỹ thuật cắt thực quản như 

của tác giả Luketich JD (1). 

Thì ngực nội soi 

‐ Tư thế bệnh nhân: nằm nghiêng trái giống 

như  phẫu  thuật  mở  ngực  phải  kinh  điển,  hoặc 

nằm sấp. 

‐ Vị trí các trocars: chúng tôi thường sử dụng 

4  trocar  (3‐10  mm,  1‐5  mm).  Trocar  10  đầu  tiên 

đặt  ở  khoang  gian  sườn  4‐5  đường  nách  giữa. 

Trocars  10  thứ  2  đặt  ở  khoang  liên  sườn  7‐8 

đường nách giữa. 2 trocar còn lại đặt ở khoang 

liên sườn 6‐7 và 8‐9 đường nách sau. Chúng tôi 

‐  Sau  khi  quan  sát  và  đánh  giá  tổn  thương,  tiến  hành  cắt  dây  chằng  phổi  dưới.  Mở  màng  phổi trung thất ở hai bên thực quản cho tới tĩnh  mạch đơn để trình bày toàn bộ thực quản ngực.  Thắt tĩnh mạch đơn bằng chỉ và clip hoặc dùng  Endostapler.  

‐  Bộc  lộ  thực  quản  và  luồn  qua  thực  quản  một  penrose  để  cầm  kéo  thực  quản.  Nhờ  penrose này chúng ta có thể giải phóng toàn bộ  thực  quản  dễ  dàng.  Cần  cầm  máu  kỹ  những  mạch máu đi vào thực quản bằng đốt điện hoặc  clip.  Lấy  hạch  quanh  thực  quản  và  tổ  chức  mơ 

mỡ cùng với thực quản thành một khối.  

‐ Sau khi giải phóng toàn bộ thực quản, kiểm  tra phổi và đặt 1 ống dẫn lưu khoang màng phổi 

số 32‐F. Cho phổi nở và đóng ngực 

Thì Bụng nội soi 

Chúng tôi thường sử dụng dao cắt đốt siêu 

âm Harmonic scalpel trong thì này. 

Tư  thế  bệnh  nhân:  nằm  ngửa.  Sử  dụng  5  trocar giống như trong phẫu thuật Heller nội soi.  Giải  phóng  bờ  cong  lớn  dạ  dày  và  bảo  tồn  mạch  máu  vị  mạc  nối  phải.  Thắt  và  cắt  động  mạch vị trái bằng chỉ hoặc stapler nội soi. 

Giải phóng thực quản đoạn bụng‐khe hoành  cho tới thực quản đoạn ngực đảm bảo có thể di  động thực quản dễ dàng 

Có  thể  thực  hiện  thủ  thuật  Kocher  để  di  động  khối  tá  tụy  nếu  thấy  dạ  dày  không  đủ  chiều dài để nối lên cổ. 

Dạ dày được tạo hình trong thì nội soi bằng  endostapler  hoặc  đưa  ra  ngoài  ổ  bụng  tạo  hình  qua một đường rạch nhỏ dưới mũi ức khoảng 4 

cm. Chúng tôi thường sử dụng cách sau bởi khối 

u thực quản thường lớn khó kéo qua đường mở 

ở cổ và không phải sử dụng endo stapler nên ít  tốn  kém  hơn.  Tạo  hình  ống  dạ  dày  như  phẫu  thuật kinh điển. Sau đó ống dạ dày được kéo lên  qua trung thất sau để nối với thực quản đoạn cổ.   Tạo hình môn vị và mở hỗng tràng nuôi ăn 

Trang 3

Trong  66  ca  cắt  thực  quản  do  ung  thư,  với 

phương pháp cắt thực quản qua nội soi ngực và 

bụng, kết quả như sau 

Tuổi trung bình: 56,15 (từ 30 đến 78 tuổi). 

Bảng 4‐ Phân bố ung thư theo giới 

Nam (n=65) (n=1) Nữ (n=66) Tổng Tỉ lệ (%)

K thực quản 1/3 giữa 39 0 39 59,1

K thực quản 1/3 dưới 25 1 26 39,4

2 u (1/3 giữa và dưới) 1 0 1 1,5

Nhận xét: u chủ yếu ở 1/3 giữa: 59,1%. 

Bảng 5‐ Giai đoạn ung thư theo T 

T1 T2 T3 T4a

4 (6,1%) 18 (27,3%) 43 (65,2%) 1 (1,5%)

Nhận xét: khối u chủ yếu ở giai đoạn muộn: 

65,2% giai đoạn T3. 

Bảng 6‐ Giai đoạn ung thư theo N 

Giai đoạn N

30 (45,5 %) 27 (40,9 %) 7 (10,6 %) 2 (3 %)

Nhận xét: hơn nửa bệnh nhân có di căn hạch 

(54,5%). 

Thời  gian  mổ  trung  bình  là  319,7  phút  (230 

đến 490 phút). 

Tuổi bệnh nhân trung bình 56,15 (từ 30 đến 

78 tuổi) 

Số ngày nằm tại ICU là 1 ngày. 

Số ngày nằm viện sau mổ trung bình: 11,47 

(7‐44) ngày. 

Viêm phổi sau mổ: 6 ca (9,1%), trong đó có 2 

trường hợp viêm phổi phải nằm viện 23 ngày và 

44 ngày. 

Xì  miệng  nối  thực  quản  cổ:  1  ca  (1,52%). 

Trường hợp này được điều trị bảo tồn, nằm viện 

23  ngày,  có  viêm  phổi  sau  mổ,  bệnh  nhân  xuất 

viện ổn.  

Không  có  trường  hợp  nào  tử  vong  do  xì 

miệng nối.  

Có 1 trường hợp tử vong do viêm phổi sau 

mổ. 

BÀN LUẬN 

Xì  miệng  nối  thực  quản  sau  cắt  thực  quản  phương pháp Ivor Levis là một biến chứng đáng 

sợ mà tỉ lệ tử vong trước đây lên đến 50%(11,2,4,5,6).  Với những trung tâm dùng kỹ thuật này thường  qui,  kỹ  thuật  được  cải  thiện  và  tỉ  lệ  xì  rất  thấp  (khoảng 2%) nhưng tỉ lệ tử vong do viêm trung  thất vẫn còn cao. Chính vì vậy nhiều tác giả chủ  trương  thực  hiện  cắt  gần  toàn  bộ  thực  quản  và  thực hiện miệng nối ở cổ(11,14,15,4,5,6). Tần suất của 

xì miệng nối thực quản cổ là 10‐15% cao hơn xì  miệng nối trong ngực (5%‐10%) nhưng lại ít dẫn  tới  tử  vong  do  ít  khi  viêm  trung  thất  như  xì  miệng nối trong lồng ngực(3,4,6). Xì miệng nối ở cổ  thường điều trị bảo tồn có hiệu quả tới 98% sau 2  tuần(6). Tuy nhiên vẫn có một tỉ lệ nhỏ (5‐10%) xì 

rò  miệng  nối  ở  cổ  lan  xuống  trung  thất  gây  tử  vong  nếu  không  được  phát  hiện  sớm  và  xử  trí  kịp thời bằng cách rạch rộng vết mổ ở cổ để dẫn  lưu  dịch  rò.  Đặc  biệt  trong  trường  hợp  ống  dạ  dày  ngắn  có  xu  hướng  bị  kéo  tụt  xuống  trung  thất. 

Xì miệng nối thực quản cổ cao hơn do những  nguyên nhân được cho như sau 

‐  Đầu  tiên,  cần  phải  có  ống  dạ  dày  hay  đại  tràng dài, ống không đủ dài sẽ làm căng miệng  nối.  

‐ Đỉnh dạ dày nơi thực hiện miệng nối có thể  máu  nuôi  kém  do  ở  xa  động  mạch  vị  mạc  nối.  Hơn  nữa,  đường  vào  ngực  chật  có  thể  làm  ứ  máu tĩnh mạch, dẫn đến giảm máu nuôi. 

‐ Trong quá trình phẫu thuật và khi kéo lên 

cổ qua trung thất sau, cĩ thể gây bầm dập và tụ  máu ở thành dạ dày nơi sẽ thực hiện miệng nối. 

‐  Một  số  liệu  gần  đây  cho  thấy  nồng  độ  Albumin/máu dưới 3g/dL, bờ cắt còn tế bào ung  thư, và miệng nối ở cổ là những yếu tố nguy cơ  gây xì miệng nối. 

Theo Luketich, qua 222 trường hợp cắt thực  quản nội soi với miệng nối thực quản cổ, nguyên  nhân của xì miệng nối là tình trạng thiếu máu và  hoại tử phần cao của ống dạ dày(15).  

Trang 4

quản ở cổ? 

Trước hết cần chọn lựa, đánh giá bệnh nhân 

trước mổ cẩn thận, kỹ lưỡng. Cần đạt được các 

chỉ số sinh học bình thường, chức năng hô hấp, 

tim  mạch,  tình  trạng  toàn  thân  trong  giới  hạn 

cho phép. Cần chú ý đặc biệt những bệnh nhân 

có  bệnh  lý  tắc  nghẽn  phổi  mạn  tính,  dày  dính 

màng  phổi.  Chúng  tôi  có  hai  trường  hợp  ung 

thư  thực  quản  có  bệnh  lý  tắc  nghẽn  phổi  mạn 

tính được mổ nội soi qua đường ngực và bụng 

có kết quả tốt. 

Về mặt kỹ thuật cần chú ý những vấn đề sau 

‐  Thao  tác  cẩn  thận  và  cầm  nắm  dạ  dày 

không sang chấn đặc biệt trong mổ nội soi là rất 

quan trọng để ngăn ngừa biến chứng này.  

‐ Ống dạ dày cần đủ dài, bảo tồn cung mạch 

tốt. Nên kiểm tra ống dạ dày kỹ và cắt bỏ những 

mô thiếu máu hoặc hoại tử. Chúng tôi thường sử 

dụng  stapler  để  tạo  hình  ống  dạ  dày.  Nên  sử 

dụng nhiều stapler: 4 tới 6 cái, loại (55 mm) để có 

thể kéo dài được ống dạ dày hơn. Trong trường 

hợp nối vào đáy lưỡi, chúng tôi cũng vẫn có thể 

đưa ống dạ dày lên đủ không bị căng. 

‐ Kỹ thuật khâu nối. 

‐ Theo Luketich, ống dạ dày quá hẹp d < 4cm 

cũng làm tăng khả năng rò(15). 

Một  so  sánh  ngẫu  nhiên  giữa  khâu  tay  và 

stapler cho thấy không có khác biệt đáng kể về tỉ 

lệ xì miệng nối(9). Tần suất xì miệng nối do khâu 

tay  phụ  thuộc  vào  phẫu  thuật  viên  hơn,  và  những  phẫu  thuật  viên  ít  thực  hiện  phẫu  thuật  này  nên  sử  dụng  stapler.  Trong  66  ca  cắt  thực  quản  trong  nghiên  cứu  này,  có  34  ca  thực  hiện  miệng  nối  thực  quản  với  khâu  tay;  32  trường  hợp sau này để giảm tỉ lệ hẹp miệng nối, chúng  tôi tạo miệng nối hình T với nối bên bên mặt sau  bằng stapler và tận bên mặt trước bằng khâu tay  (Hình).  Chúng  tôi  thực  hiện  mũi  khâu  Gambee  liên tục bằng chỉ PDS4‐0, khâu một lớp. Ưu điểm  của kiểu khâu này không làm hẹp miệng nối do  chỉ khâu một lớp và lấy được cả lớp niêm mạc,  chỉ  PDS  là  chỉ  tiêu  giúp  giảm  tỉ  lệ  viêm  loét  miệng nối về sau. 

 

Bảng 7‐ Kết quả của một số nghiên cứu cắt thực quản qua nội soi 

Tác giả Số ca Phương pháp Thời gian mổ Thời gian nằm viện trung bình (ngày) Chuyển mổ mở (%) Rò miệng nối (%)

Smithers 2001(8) 153 TE 5 giờ 12 7 4 Osugi 2003(7) 80 TE 3,7 0 1,3 DePaula 1995 ( 19 ) 12 LTE 4,3 7,6 8,3 Luketich 2000(1) 77 TM/LE 7,5 7 9,1 Nguyen NT 2000(4) 18 TM/LE 6 11,3 11 Luketich 2003(15) 222 TM/LE 7,5 7 7,2 11,7 Nguyen NT 2003 ( 5 ) 46 TM/LE 350± 75 phút 8

Nguyễn Minh Hải(3) 80 TE/ TM/LE 330 8 3 10

Chúng tôi 66 TM/LE 319,7 11,4 0 1,52

TE: cắt thực quản nội soi lồng ngực (Thoracoscopic esophagectomy) phối hợp với mở bụng. LTE (laparoscopic transhiatal 

esophagectomy) : nội soi ổ bụng cắt thực quản qua khe hoành) TM/LE: nội soi lồng ngực giải phóng thực quản (thoracoscopic 

Trang 5

Xì miệng nối thực quản cổ thường biểu hiện 

với sốt, tấy đỏ, và phập phều ở vết mổ cổ. Mặc 

dù xì rò thường gặp ở miệng nối cổ hơn nhưng 

lại hiếm khi gây ra tử vong.  

 Việc xử trí cần phải mở vết mổ cổ, thông dò 

thám  sát  xuống  đến  mạc  trước  cột  sống,  cùng 

với  việc  dẫn  lưu.  Bệnh  nhân  được  nuôi  ăn  qua 

ống  mở  thông  hỗng  tràng  cho  đến  khi  lành 

đường  rò.  Trong  trường  hợp  rò  của  chúng  tôi, 

được xử trí nội khoa tích cực với mở rộng vết mổ 

cổ, bảo đảm dẫn lưu hoạt đông tốt, nuôi ăn qua 

ống mở thông hỗng tràng. Chỗ rò lành tốt. 

Đôi  khi  xì  ở  cổ  đưa  đến  xì  vào  trong  ngực, 

lúc này cần điều trị giống như xì trong ngực và 

biến chứng này sẽ làm tình trạng bệnh nhân xấu 

đi nhiều. 

Trong  lô  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  về  92 

trường  hợp  cắt  thực  quản  có  nối  thực  quản  cổ 

thực hiện từ tháng 12/2003 đến tháng 7/2008, có 

3 trường hợp xì miệng nối thực quản cổ đưa đến 

xì  vào  trung  thất,  trong  đó  có  1  trường  hợp  tử 

vong  sau  mổ  3  tháng.  Bệnh  nhân  này  mổ  xuất 

viện  vào  dịp  Tết  nguyên  đán  nên  tự  điều  trị  ở 

nhà trong một tuần mới nhập viện lại nên chúng 

tôi xử trí không kịp thời dẫn tới tràn mủ khoang 

màng phổi. Ngoài việc xử lý như trên, cần phải 

dẫn lưu màng phổi kéo dài 7‐15 ngày, tập vật lý 

trị  liệu  tích  cực,  điều  trị  viêm  phổi  với  kháng 

sinh  mạnh  theo  kháng  sinh  đồ.  Theo  tác  giả 

Luketich, để tránh xì miệng nối thực quản cổ lan 

xuống ngực, khi phẫu tích màng phổi trung thất 

tránh  xé  rách  màng  phổi  trung  thất  đoạn  trên 

Azygos, phần màng phổi này sẽ ngăn chặn dịch 

rò từ cổ chảy xuống trung thất(15). 

Chụp  cản  quang  với  thuốc  cản  quang  tan 

trong nước giúp phát hiện rò miệng nối. Một số 

tác giả cho bệnh nhân uống nước ép nho màu tía 

và  quan  sát  ống  dẫn  lưu  khi  uống  có  thể  phát 

hiện những trường hợp rò. 

KẾT LUẬN 

  Xì miệng nối thực quản là một biến chứng 

đáng  sợ,  đưa  đến  tỉ  lệ  tử  vong  cao  trong  phẫu 

thuật cắt thực quản, đặc biệt là miệng nối trong  lồng  ngực.  Tỉ  lệ  xì  miệng  nối  thực  quản  cổ  cao  hơn xì miệng nối thực quản trong ngực, nhưng tỉ 

lệ điều trị bảo tồn thành công cao hơn và hiếm  khi gây tử vong. Việc ngăn ngừa biến chứng này  cần thực hiện bởi phẫu thuật viên kinh nghiệm,  thao  tác  cẩn  thận,  tránh  sang  chấn  dạ  dày,  ống 

dạ  dày  cần  đủ  dài,  không  thiếu  máu.  Cần  phát  hiện  và  xử  trí  kịp  thời,  tích  cực,  bằng  cách  mở  rộng vết mổ cổ, dẫn lưu hiệu quả và nuôi dưỡng  đầy  đủ  qua  ống  mở  thông  hỗng  tràng  kết  hợp  với vật lý trị liệu giúp đường thở sẽ tránh được 

biến chứng tử vong. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Akiyama  H,  Miyazono  H,  Tsurumaru  M,  Hashimoto  C& 

Kawamura T. (1979). Am J Surg. Thoracoabdominal approach  for carcinoma of the cardia of the stomach, 137(3), 345‐349. 

2 DePaula AL, Hashiba K, Ferreira EA, Paula de RA & Grecco 

E.  (1995).  Surg  Laparosc  Endosc.  Laparoscopic  transhiatal  esophagectomy with esophagogastroplasty, 5(1), 1‐5. 

3 Hội nghị Nội soi Việt Nam lần thứ 1. (2006). Y học Việt Nam. 

Cắt thực quản qua nội soi đường ngực và bụng: 30 ca, 45‐51. 

4 Luketich  JD,  Alvelo‐Rivera  M,  Buenaventura  PO,  Christie 

NA,  McCaughan  JS,  Litle  VR  và  cs.  (2003).  Ann  Surg.  Minimally invasive esophagectomy: outcomes in 222 patients, 

238(4), 486‐494; discussion 494‐485. 

5 Luketich  JD,  Schauer  PR,  Christie  NA,  Weigel  TL,  Raja  S, 

Fernando  HC  và  cs.  (2000).  Ann  Thorac  Surg.  Minimally  invasive esophagectomy, 70(3), 906‐911; discussion 911‐902. 

6 Mathisen  DJ,  Grillo  HC,  Wilkins  EW,  Moncure  Jr  AC  & 

Hilgenberg  AD.  (1988).  Ann  Thorac  Surg.  Transthoracic 

esophagectomy:  a  safe  approach  to  carcinoma  of  the 

esophagus, 45(2), 137‐143. 

7 Nguyễn  Minh  Hải,  Trần  Minh  Trường,  Lâm  Việt  Trung  & 

Trần Phùng Dũng Tiến. (2008). Y học thành phố Hồ Chí Minh. 

Xì rò miệng nối thực quản cổ kinh nghiệm qua 92 trường hợp 

cắt thực quản, 12(3), 1‐7. 

8 Nguyen NT, Follette DM, Wolfe BM, Schneider PD, Roberts P 

&  Goodnight  JE  Jr.  (2000).  Arch  Surg.  Comparison  of 

minimally  invasive  esophagectomy  with  transthoracic  and 

transhiatal esophagectomy, 135(8), 920‐925. 

9 Nguyen  NT,  Roberts  P,  Follette  DM,  Rivers  R  &  Wolfe  BM. 

(2003).  J  Am  Coll  Surg.  Thoracoscopic  and  laparoscopic 

esophagectomy  for  benign  and  malignant  disease:  lessons 

learned from 46 consecutive procedures, 197(6), 902‐913. 

10 Orringer MB, Marshall B & Iannettoni MD. (1999). Ann Surg. 

Transhiatal  esophagectomy:  clinical  experience  and 

refinements, 230(3), 392‐400; discussion 400‐393. 

11 Osugi H, Takemura M, Higashino M, Takada N, Lee S, Ueno 

M và cs. (2003). Surg Endosc. Learning curve of video‐assisted 

lymphadenectomy  for  squamous  cell  cancer  of  the  thoracic 

esophagus and results, 17(3), 515‐519. 

Trang 6

12 Smithers  BM,  Gotley  DC,  McEwan  D,  Martin  I,  Bessell  J  & 

Doyle  L.  (2001).  Surg  Endosc.  Thoracoscopic  mobilization  of 

the esophagus. A 6 year experience, 15(2), 176‐182. 

13 Urschel  JD.  (1995).  Am  J  Surg.  Esophagogastrostomy 

anastomotic  leaks  complicating  esophagectomy:  a  review, 

169(6), 634‐640. 

 

Ngày nhận bài báo:         28/9/2014 

Ngày phản biện nhận xét bài báo:     30/9/2014 

Ngày bài báo được đăng:  20/10/2014  

 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 16:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w