1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá bước đầu áp dụng phương pháp lấy sỏi thận qua da tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương

5 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 335,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá bước đầu hiệu quả và tính an toàn của phương pháp lấy sỏi thận qua da tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương. Nghiên cứu thực hiện với ca 22 phẫu thuật lấy sỏi thận qua da gồm 16 nam và 6 nữ, tuổi từ 22 đến 84. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết.

Trang 1

TẠI BỆNH VIỆN NGUYỄN TRI PHƯƠNG  

Võ Phước Khương*, Nguyễn Hữu Phúc*, Nguyễn Đình Xướng**  

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Đánh giá bước đầu hiệu quả và tính an toàn của phương pháp lấy sỏi thận qua da tại Bệnh viện 

Nguyễn Tri Phương. 

Phương pháp: phương pháp nghiên cứu mô tả hàng loạt ca. 22 phẫu thuật lấy sỏi thận qua da gồm 16 nam 

và 6 nữ, tuổi từ 22 đến 84 (TB: 50,8±13,1), 4 trường hợp sỏi đài thận, 10 trường hợp sỏi bể thận, 2 trường hợp  sỏi bán san hô, 1 trường hợp sỏi có nhánh và 5 trường hợp sỏi bể thận kèm nhiều sỏi ở các đài thận. Thực hiện  lấy sỏi qua da với 1 đường hầm vào thận. Soi thận qua Amplatz 30Fr. Mở thận ra da bằng thông Foley 20Fr. 

Kết quả: Tỉ lệ sạch sỏi là 86,36%. Thời gian mổ từ 60phút đến 140phút (TB: 92,3 ± 22,5phút ). Hb giảm từ 

0g/dl7,3g/dl (TB: 2,6±1,97g/dl). Không có biến chứng chảy máu phải truyền máu trong và sau mổ. 2 trường  hợp thủng đài bể thận được lưu thông JJ niệu quản 1 tuần, 1 trường hợp thủng đại tràng,không có trường hợp  nào tử vong. 

Kết luận: Lấy sỏi thận qua da là phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị sỏi thận. 

Từ khóa: lấy sỏi qua da, đường vào đài dưới, sạch sỏi 

ABSTRACT 

INITIAL PERCUTANEOUS NEPHROLITHOMY AT THE NGUYỄN TRI PHƯƠNG HOSPITAL 

Vo Phuoc Khuong, Nguyen Huu Phuc, Nguyen Dinh Xuong 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 2 ‐ 2013: 44 ‐ 48 

Aims:  This  study  was  to  initially  evaluate  the  safety  and  efficacy  of  percutaneous  nephrolithomy  at  the 

Nguyễn Tri Phương hospital. 

Methods:  22  percutaneous  nephrolithotomy  procedures  were  conducted  at  our  hospital  from  september 

2011 to july 2012. Patient age was 50.8 years±13.1 (range 22 to 84 years). All patients underwent percutaneous  nephrolithomy  via  a  single  renal  tract.  Rigid  Nephroscope  was  inserted  through  the  Amplatz  sheath  30Fr.  Nephrostomy tube was a 20Fr Foley. 

Results:  Stone‐free  rate  was  86.36%.  Mean  operative  time  was  92.3  minutes  ±  22.5  (range  60  to  140 

minutes).  The  drop  in  Hemoglobine  level  ranged  from  07.3g/dl  (mean  2.6  ±  1.97  g/dl  ).  Perforation  of  the  pelvicalyceal system occurred in 2 patients. A case is injuried the colon. 

Conclusions:  Percutaneous nephrolithomy was  a  safe  and  efficacious  procedure  for  management  of  renal 

stones. 

Key words: percutaneous nephrolithotomy, lower‐pole access, stone free 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Điều  trị  sỏi  thận  vẫn  còn  là  thách  thức  lớn 

đối  với  các  Bác  sĩ  Niệu  khoa  lâm  sàng,  nhiều 

trường hợp phải cắt bỏ thận và 20% các trường 

hợp sỏi tái phát dẫn đến suy thận(6). Trước đây, 

mổ mở là phương pháp điều trị chủ yếu của sỏi  thận.  Ngày  nay,các  phương  tiện  kỹ  thuật  hình  ảnh  và  dụng  cụ  nội  soi  đã  đem  lại  nhiều  thay 

* Khoa Ngoại Thận ‐ tiết niệu Bệnh viện Nguyễn Tri Phương 

Tác giả liên lạc: Bs Võ Phước Khương  ĐT: 0903740583  Email: vpkhuong@yahoo.com 

Trang 2

đổi  trong  điều  trị  sỏi  thận.  Phần  lớn  sỏi  thận 

được điều trị hiệu quả với các phương tiện ngoại 

khoa xâm lấn tối thiểu như:  nội  soi  tán  sỏi,  tán 

sỏi ngoài cơ thể, lấy sỏi qua da… Mục tiêu điều 

trị sỏi thận là lấy sạch sỏi với phương pháp xâm 

lấn tối thiểu và tai biến, biến chứng thấp(21). Qua 

30 năm kể từ khi Fernstrom và Johansson lấy sỏi 

thận  qua  đường  mở  thận  ra  da  vào  năm  1976, 

cùng với phương pháp Tán sỏi ngoài cơ thể, lấy 

sỏi qua da trở nên là phương pháp điều trị chính 

yếu  của  bệnh  sỏi  thận  do  tỉ  lệ  sạch  sỏi  cao,  tai 

biến,  biến  chứng  thấp  và  dần  dần  thay  thế 

phương pháp mổ mở trong điều trị sỏi thận(5). 

Chúng tôi bắt đầu áp dụng phương pháp lấy 

sỏi qua da tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương từ 

tháng 9/2011. Qua một năm thực hiện, chúng tôi 

muốn  đánh  giá  bước  đầu  hiệu  quả  và  tính  an 

toàn của phương pháp lấy sỏi qua da trong điều 

trị sỏi thận. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Chọn lựa bệnh nhân 

Tất  cả  bệnh  nhận  được  chẩn  đoán  sỏi  thận 

và được phẫu thuật lấy sỏi qua da tại bệnh viện 

Nguyễn Tri Phương từ tháng 9/2011 đến tháng 

7/2012. 

Không có bất thường về giải phẫu như thận 

móng ngựa, thận độc nhất, thận lạc chỗ… 

Không có rối loạn về đông máu và ngưỡng 

Hb ≥ 11 mg/dl. 

Phương pháp nghiên cứu 

Làm  các  xét  nghiệm  tiền  phẫu,  chụp 

KUB,UIV. 

Kích  thước  sỏi:  đo  bằng  thước  đường  kính 

lớn nhất viên sỏi trên phim KUB. 

Trong mổ ghi nhận: thời gian mổ, thời gian 

tán  và  gắp  sỏi,  các  biến  chứng  chảy  máu, 

thủng  đài  bể  thận,  sỏi  rớt  xuống  niệu  quản, 

thủng đại tràng. 

Biến chứng chảy máu: che mờ phẫu trường 

phải  ngưng  cuộc  mổ  hoặc  phải  truyền  máu 

trong và sau mổ. 

Sau  mổ:  chụp  phim  KUB  kiểm  tra,  xét 

nghiệm Hb. 

Sạch  sỏi:  trên  phim  KUB  không  còn  sỏi  tồn  lưu hoặc những mãnh sỏi < 5mm. 

Có thể lấy sỏi thì hai (second look ) nếu sót  sỏi. 

Số  liệu  được  phân  tích  bằng  phần  mềm  Excel 2007. 

Dụng cụ: 

Dụng cụ chọc dò và nong đường hầm: kim  chọc  dò  18  gauge,  dây  dẫn,  bộ  nong  bằng  kim  loại ALKEN, ống nhựa Amplatz số 30. 

Máy C‐arm. 

Dụng  cụ  soi:  máy  soi  bang  quang,  máy  soi  thận cứng nòng 26, góc nhìn 00.  

Kềm  gắp  sỏi:  2  chấu  Crocodile,  3  chấu  Tripode. 

Máy tán sỏi siêu âm. 

Dịch tưới rửa: dung dịch nước muối sinh lý 

để cao 0,61m so với bệnh nhân với dòng chảy 

tự nhiên. 

Kỹ thuật: 

Phương pháp vô cảm: mê nội khí quản.  Bệnh  nhân  nằm  tư  thế  sản  khoa,  đặt  thông  niệu quản 8 Fr. 

Chuyển sang tư thế nằm sấp với gối độn bên  thận mổ lên cao 300, 2 đùi gập xuống 1000150.  Dưới  màng  hình  huỳnh  quang,  bơm  thuốc  cản quang vào đài bể thận, chọc dò vào đài thận  bằng kim 18 gauge. 

Đặt 2 dây dẫn: 1 dây dẫn dùng nong đường  hầm và 1 dây dự phòng (safety guide). 

Nong đường hầm đến số 30, đặt Amplatz số 

30. 

Đưa máy soi thận vào: tán vỡ sỏi bằng máy  siêu âm và gắp hết sỏi. 

Mở thận ra da bằng thông Foley 20Fr, bơm 5 

ml bóng. 

KẾT QUẢ 

 Chúng  tôi  thực  hiện  lấy  sỏi  qua  da  22  trường  hợp  bao  gồm  16  nam  và  6  nữ.  2 

Trang 3

trườnghợp  tiền  căn  mổ  mở  lấy  sỏi  thận  cùng 

bên. 1 trường hợp lấy sỏi qua da kết hợp tán sỏi 

nội soisỏi niệu quản đoạn lưng đối bên. Tuổi từ 

22  tuổi  đến  84  tuổi  (trung  bình  50,8±13,1 

tuổi).Kích thước sỏi trung bình 20,9±6,08mm (từ 

11mm đến 30mm). 

Bảng 1: Loại sỏi 

Loại sỏi N Tỉ lệ

Sỏi bán san hô 2 9,09%

Sỏi bể thận + nhiều sỏi ở các đài thận 5 22,72%

Bảng 2: Mức độ ứ nước 

Độ ứ nước N Tỉ lệ

Bảng 3: Đường chọc dò vào thận 

Đường vào đài thận N Tỉ lệ

Thời gian mổ trung bình 92,3 ± 22,5 phút (từ 

60 phút đến 140 phút).Thời gian nằm viện trung 

bình 5 ± 2,25 ngày (từ 3 ngày đến 13 ngày).Một 

trường  hợp  không  đặt  được  thông  niệu  quản 

ngược dòng, phải tiêm thuốc cản quang đường 

tĩnh  mạch  và  chọc  dò  vào  đài  thận  đã  hiện  rõ 

dưới  màng  huỳnh  quang.Hematocrite  giảm 

trung  bình  2,6±1,97g/%  (từ  0%  đến  7,3g/%). 

Không  có  biến  chứng  chảy  máu  phải  truyền 

máu trong hoặc sau mổ, 2 trường hợp thủng đài 

bể  thận  làm  xì  dò  nước  tiểu  phải  lưu  thông  JJ 

niệu  quản  và  1  trường  hợp  thủng  đại  tràng. 

Không có trường hợp tử vong. Tỉ  lệ  sạch  sỏi  là 

86,36%. Trong 3 trường hợp sót sỏi có một viên 

5mm, một viên 7mm và một viên 12mm. 

BÀN LUẬN 

Theo y văn, lấy sỏi qua da là phương pháp 

điều trị sỏi thận hiệu quả và ít xâm lấn với tỉ lệ 

sạch sỏi toàn bộ từ 66% đến 93,7%(8). Năm 2011, 

De la Rosette & cs tổng kết 5803 trường hợp lấy 

sỏi qua da tại 96 trung tâm trên thế giới từ tháng 

11‐2007  đến  tháng  12‐2009  với  tỉ  lệ  sạch  sỏi  là  75,7%(15).  Dựa  trên  phim  KUB  chụp  ngay  sau 

mổ,  không  thấy  còn  mảnh  sỏi  sót  nào  hoặc  mảnh sỏi < 5mm, nghiên cứu của chúng tôi có tỉ 

lệ  sạch  sỏi  là  86,36%.  Tất  cả  các  trường  hợp  chúng tôi vào thận bằng 1 đường hầm với phần  lớn  là  sỏi  đơn  giản  (63,4%),  kích  thước  nhỏ  (21±6mm) nên tỉ lệ sạch sỏi của chúng tôi tốt hơn 

1 số báo cáo gần đây. Van der Ness và cs (20) có tỉ 

lệ  sạch  sỏi  là  71%  trên  169  trường  hợp  lấy  sỏi  qua  da.  Davis  S.  Meinbach  và  Douglas  Modling(9)  tại  trung  tâm  ĐH  Birmingham  với 

204 bệnh nhân có tỉ lệ sạch sỏi là 70,6%. Shalaby 

và cs(17) tỉ lệ sạch sỏi là 74,8% trên 26 trường hợp.  Mohamed F. Abdelhafez và cs(1) từ Úc báo cáo 83  trường  hợp  với  tỉ  lệ  sạch  sỏi  là  78,3%.  Tại  Hội  nghị Niệu khoa toàn quốc 2012, 1 số báo cáo về  lấy sỏi qua da như Nguyễn Việt Cường và cs(13)  tại bệnh viện 175 có tỉ lệ sạch sỏi là 85.3% trên 75  bệnh nhân. Lê Sỹ Trung và cs(4) tại bênh viện FV 

Hà Nội có tỉ lệ sạch sỏi là 75,36%. Đối với sỏi có  kích  thước  lớn,  phức  tạp  hơn,  thì  cần  phải  tạo  thêm nhiều đường hầm để tiếp cận sỏi ở những 

vị  trí  khác  nhau  trong  đài  bể  thận.  Các  nghiên  cứu  về  sỏi  san  hô  của  Desai  M  et  al.  (tỉ  lệ  sạch  sỏi: 93%)(3), Aron M và cs (84%)(2), Wong C và cs  (95%)(22) đi vào thận với 2‐3 đường hầm và dùng  máy soi thận mềm nên có tỉ lệ sạch sỏi cao. Đối  với những trường hợp còn sót sỏi, tán sỏi ngoài 

cơ  thể,  nội  soi  niệu  quản  ngược  dòng  hoặc  lấy  sỏi lần 2, lần 3 qua đường hầm sẵn có có thể làm  tăng hiệu quả sạch sỏi toàn bộ như báo cáo của  Mohamed  F.  Abdelhafez  và  cs(1)  tăng  tỉ  lệ  sạch  sỏi  từ  78,3%  lên  95,2%.  Lê  Sỹ  Trung  và  cs(4)  từ  75,36%  lên  90,36%  sau  khi  kết  hợp  với  tán  sỏi  ngoài cơ thể. 3 trường hợp sót sỏi của chúng tôi 

có  chỉ  định  tán  sỏi  ngoài  cơ  thể,  đã  giải  thích  nhưng bệnh nhân chưa quay lại không rõ lý do.   Biến  chứng  chảy  máu  cần  phải  truyền  máu 

là biến chứng thường gặp nhất trong phẫu thuật  lấy  sỏi  qua  da.  Theo  y  văn,  tỉ  lệ  từ  11%  đến  17,5%,  những  báo  cáo  gần  đây  tỉ  lệ  này  giảm  xuống  5,7%(10).  Tỉ  lệ  truyền  máu  trong  báo  cáo  của Van de Ness và cs là 7%, Abdelhafezet và cs 

là  1,2%;  Davis  S.  Meinbach  là  2%(20,1,9).  Trong 

Trang 4

với  trước  mổ  trung  bình  là  2,6  ±  1,97g/dl  (từ 

0g/dl7,3g/dl). Trong phẫu thuật lấy sỏi qua da, 

chỉ định truyền máu phụ thuộc vào ngưỡng Hb 

giảm < 8 g/dl hoặc chảy máu nhiều làm che mờ 

phẫu  trường  phải  ngưng  cuộc  mổ.  Nghiên  cứu 

của chúng tôi không có trường hợp phải truyền 

máu  trong  hoặc  sau  mổ.  2  TH  giảm  Hb  nhiều 

(6,3  g/dl  và  7,3g/dl  )  nhưng  theo  dõi  hậu  phẫu 

không  chảy  máu  và  sinh  hiệu  ổn  định.  Chúng 

tôi cho rằng biến chứng chảy máu giảm do đa số 

các trường hợp (86,36%) chúng tôi  chọn  đường 

vào thận là đài dưới. Đài thận sau dưới có trục 

hướng  đến  diện  vô  mạch,  do  đó  chọc  dò  trực 

tiếp vào đài thận sau dưới từ hướng sau bên sẽ 

ngang qua diện vô mạch(5). Mặt khác, mạch máu 

phân bố nhiều ở mặt trước và sau  các  đài  thận 

trên  và  giữa,  trong  khi  mặt  sau  đài  dưới  hầu 

như rất ít mạch máu(16), vào thận từ mặt sau đài 

dưới ít gây tổn thương mạch máu. Chọc dò vào 

đỉnh đài và theo trục của đài sau dưới sẽ tránh 

được  các  mạch  máu  lớn,  từ  đó  giảm  thiểu  tổn 

thương và ít chảy máu (19). Do đó chúng tôi chọn 

đường vào thận từ đài dưới trong tất cả các TH 

do thuận tiện về mặt giải phẫu và ít biến chứng. 

Một số tác giả cũng ưu tiên chọn đài dưới để vào 

thận:  Shalaby  và  cs  tất  cả  26  TH(17),  Young  và 

cs(23)  9/13  TH  với  1  đường  hầm  vào  đài  dưới, 

Nelson và cs(12)  58,8%  TH  và  Martin  và  cs(8)  166 

sỏi  san  hô  hầu  hết  vào  thận  từ  đài  dưới.  Tuy 

nhiên, 1 số trường hợp kích thước sỏi lớn và tình 

trạng ứ nước thận có thể làm thay đổi vị trí và 

hình  dạng  của  các  đài  thận.  Do  đó,  tùy  trường 

hợp chúng tôi chọn lựa đường vào thận để tiếp 

cận sỏi thuận tiện nhất và an toàn nhất. Kết quả 

là có 1 trường hợp chọc dò vào đài trên, 2 trường 

hợp vào đài giữa. 

Sỏi thận thường gây ứ nước và nhiễm trùng 

tái  đi  tái  lại  lâu  ngày  làm  viêm  mạn  niêm  mạc 

đài bể thận. Thao tác soi thận,  tán  sỏi  cùng  với 

áp lực dịch tưới rữa  dễ  làm  tổn  thương  và  gây 

thủng đài bể thận. Chúng tôi ghi nhận 2 trường 

hợp thủng đài bể thận, đây là nguyên nhân gây 

xì  nước  tiểu  sau  khi  rút  thông  thận,  tuy  nhiên 

đây  là  biến  chứng  nhẹ,  chúng  tôi  lưu  thông  JJ 

niệu quản 7 ngày, không cần can thiệp gì thêm.  Một trường hợp thủng đại tràng được  phát  hiện sớm (48 giờ sau mổ), chúng tôi cho nuôi ăn  đường  tĩnh  mạch,  kháng  sinh  phổ  rộng,  đặt  thông JJ để tách biệt đường niệu và đường tiêu  hóa.  Bệnh  nhân  ổn  định,  không  cần  phải  can  thiệp lại, xuất viện sau 13 ngày. Theo y văn, tỉ lệ  thủng đại tràng từ 0,2% đến 0,8%(5). Mặc dù rất  hiếm gặp nhưng thủng đại tràng gây ra những  hậu quả nặng nề như viêm phúc mạc, sốc nhiễm  trùng  nhiễm  độc,  dò  đường  niệu‐đại  tràng,  dò  đại  tràng  ra  da  hoặc  tử  vong(10,18).  Khoãng  85%  các trường hợp tổn thương đại tràng được điều  trị  bảo  tồn(11),  đặc  biệt  là  các  trường  hợp  thủng  sau  phúc  mạc,  không  có  dấu  hiệu  viêm  phúc  mạc  hoặc  nhiễm  trùng.  Đánh  giá  trước  mổ  để  phát hiện các yếu tố nguy cơ, chuẩn bị trước mổ  tốt,  chẩn  đoán  sớm  và  điều  trị  tích  cực  biến  chứng là nhũng điểm rất quan trọng để điều trị  thành  công  biến  chứng  thủng  đại  tràng  sau  phẫu thuật lấy sỏi qua da. 

Thời  gian  mổ  thay  đổi  từ  60  phút  đến  140phút  (TB:  92,3±22,5phút  ).  Đối  với  sỏi  nhỏ 

có  kích  thước  <  12mm,  chúng  tôi  dùng  kềm  kéo  nguyên  viên  sỏi  ra  ngoài  mà  không  cần  tán  vỡ  sỏi  ra.  Chúng  tôi  thực  hiện  2  trường  hợp  nhu  vậy,  thời  gian  mổ  ngắn  từ  60  phút  đến  70  phút.  Tuy  nhiên  đối  với  sỏi  phức  tạp  như  sỏi  san  hô,  thời  gian  mổ  kéo  dài  hơn  (140ph),  do  sỏi  thường  có  kích  thước  lớn  và  mật  độ  cứng  cho  nên  cần  nhiều  thời  gian  tán 

vỡ sỏi và gắp hết các mảnh sỏi. 

KẾT LUẬN 

Qua 22 trường hợp đầu tiên, với tỉ lệ sạch sỏi  cao 86,36%, tai biến, biến chứng thấp; không có  trường hợp tử vong. Chúng tôi cho rằng lấy sỏi  qua  da  là  phương  pháp  an  toàn  và  hiệu  quả  trong điều trị sỏi thận. Trong tương lai, với thêm  nhiều  kinh  nghiệm  hơn,  chúng  tôi  hy  vọng  có  thể  áp  dụng  thường  quy  phương  pháp  này  trong điều trị sỏi thận tại bệnh viện. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Abdelhafez  MF,  Bedke  J,  Amend  B  et  al  (2012).  Minimally  invasive  percutaneous  nephrolitholapaxy  (PCNL)  as  an 

Trang 5

pp: 1‐5. 

2 Aron  M,  Yadav  R,  Goel  R,  Kolla  sb,  Gautam  G,Hemal  AK, 

Gupta NP (2005). Multy‐ tract percutaneous nephrolithotomy 

for large complete staghorn calculi. Urol Int; 75(4): 325 – 32. 

3 Desai  M,  Jain  P,  Ganpule  A,  Sabnis  R,  Patel  S,  Shrivastav  P 

(2009). Developments in technique and technology: the effect 

on the results of percutaneous nephrolithotomy for staghom 

calculi. BJU Int., Mar 4. (Epub ahead of print). 

4 Lê Sỹ Trung, Barbe YP, Bire J, Buttin FX, Delorme E, Lienhart 

J et al (2012). Nội soi thận qua da diều trị sỏi san hô: 10 năm 

kinh nghiệm của bệnh  viện  Việt  Pháp  Hà  Nội.  Y học Tp. Hồ 

Chí Minh tập 16, phụ bản của số 3, trang: 249‐254. 

5 Lingeman  JE,  Lifshitz  DA,  Evans  AP  (2002).  Surgical 

management  of  urinary  lithiasis.  In  Campbellʹ  s  Urology, 

volume 4, Eighth Edition, pp: 3361‐3438. Sounders Company. 

6 Mani  Menon,  Martin  I.  Resnick  (2002).  Urinary  Lithiasis.  In 

Campell´s  Urology,  volume  4,  eighth  Edition,  pp:  3229‐3231. 

Sounders Company. 

7 Martin  TV,  Sosa  RE  (1998).  Shock‐ware  lithotrisy.  In  Walse 

PC, Retik AB, Vaughan ED, Wein AJ, Campell s Urology,7 th  

ed, vol 3, pp: 2740. WB Saunders,Philadelphia Pennsylvania.  

8 Martin  X,  Tar\jra  LC,  Gelet  A,  Dawahra  M,  Konan  PG, 

Dubernard  JM  (1999).  Complete  Staghorn  Stones: 

Percutaneous Approach Using One or Multiple Percutaneous 

Acceses. J. EndoUrol. 13(5): 367‐368. 

9 Meinbach DS, Modling D (2008), percutaneous management 

of large renal stones in a private practice community setting, J. 

Endourol Mar; 22(3): 447‐452. 

10 Michel MS, Trojan L, Rassweiller JJ  (2007).  Complications  in 

percutaneous nephrolithotomy. Eur Urol 51(4): 899‐906. 

11 Negrete‐Puldo  OR,  Molina‐Torres  M,  Gutierez‐Aceves  J 

(2010).  Colonic  perforation  during  percutaneous 

nephrolithotomy:  prevention,  diagnosis  and  treatment.  Rev 

Mex Urol. 70(1): 44‐47. 

12 Netto  NR,  Ikonomidis  J  Jr.,  Ikari  O,  Claro  JA  (2004). 

Comparative  study  of  percutaneous  access  for  staghorn 

calculi. J. Urology 11: 045. 

13 Nguyễn  Việt  Cường,  Nguyễn  Thành  Đức,  Trương  Văn 

Thuận,  Nguyễn  Hồng  Oanh,  Đỗ  Trung  Nam,  Hoàng  Mạnh 

Hải (2012). Kết quả điều trị sỏi thận bằng phương pháp lấy 

sỏi  qua  da  tại  bệnh  viện  175.  Y học Tp. Hồ Chí Minh  tập  16, 

phụ bản của số 3, trang: 398‐401. 

14 Ritter M, Krombach P, Michel MS (2011). Percutaneous stone 

removal. J Eursup. Oct; pp: 433‐439.  

15 Rosette  J,  Assimos  D,  Desai  M  et  al  (2011).  The  Clinical  Research  Office  of  Endourological  Society  Percutaneous  Nephrolithotomy  Global  Study:  indications,  complications, 

and outcomes in 5803 patients. J Endourol. Jan; 25(1): 11‐17. 

16 Sampaio  FJ,  Aragao  AH  (1990).  Anatomical  relationship  between  the  intrarenal  arteries  and  the  kidney  collecting 

system. J. Urol. 143: 679‐81. 

17 Shalaby MM, Abdalla MA, Aboul‐Ella HA, El‐Haggagy AM,  Abd‐Elsayed  AA  (2009).  Single  puncture  percutaneous  nephrolithomy  for  managament  of  complex  renal  stones. 

BMC Res Notes Apri 20;2‐62. 

18 Skolarikos  A,  De  La  Rosette,J  (2008).  Prevention  and  treatment  of  complications  following  percutaneous 

nephrotithotomy. Curr Opin Urol. 18(2): 229‐34.  

19 Tuerk C, Knoll T, Petrik A, Sarica K, Straub M, Seitz C (2012). 

EAU  Guidelines  on  Urolithiasis.  Arnhem,  The  Netherlands:  European Association of Urology. Updated March 2011. Available  at: 

http://www.uroweb.org/gls/pockets/english/20%20Urolithiasi s.pdf. Accessed Mar 2012. 

20 Van  der  Ness  MN,  De  Vries  CS,  Claassen  FM,  Wentzel  SW 

(2006). Percutaneous stone removal. SA J of Radiology Sep; pp: 

6‐8. 

21 Wolf  JS,  Jr,  Clayman  RV  (1997).  Percutaneous 

nephrostolithotomy.  What  isits  role  in  1997?  Urol Clin North  Am; 24: 43‐58. Doi: 10.1016/S0094‐0143(05)70353‐0. 

22 Wong C, Leveillee RJ (2002). Single upper‐pole percutaneous  access for treatment of > or=5cm complex branched staghorn 

calculi:  is  Schockwave  lithotripsy  necessary?  J  Endourol  Sep; 

16(7):477‐81. 

23 Young  AT,  Hulbert  JC,  Cardella  JK,  Hunter  DW  (1985).  Percutaneous  nephrostolithotomy:  Application  to  Staghorn 

Calculi. AJR 145: 1265‐69. 

 

Ngày nhận bài báo      04‐09‐2012  Ngày phản biện nhận xét bài báo:  11‐03‐2013  Ngày bài báo được đăng:    20–04‐2013   

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 16:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm