1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát mật độ xương ở trẻ bị hội chứng thận hư tại bệnh viện Nhi Đồng 2

6 55 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 187,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội chứng thận hư là dạng bệnh thận thường gặp ở trẻ em. Trẻ bị hội chứng thận hư có nguy cơ loãng xương cao do chính bệnh lý gây ra và do tác dụng của trị liệu corticosteroid. Mời các bạn tham khảo!

Trang 1

Lê Thị Ngọc Dung ∗, Phan Thành Tho∗∗ï

TÓM TẮT

Hội chứng thận hư là dạng bệnh thận thường gặp ở trẻ em Trẻ bị hội chứng thận hư có nguy cơ loãng xương cao do chính bệnh lý gây ra và do tác dụng của trị liệu corticosteroid Phương pháp nghiên cứu: chúng tôi chọn 31 trẻ bị hội chứng thận hư dựa vào lâm sàng và sinh hóa, nhóm chứng là 31 trẻ em khoẻ mạnh có những đặc điểm phù hợp với nhóm bệnh về tuổi và giới tính MĐX đo bằng phương pháp DEXA đầu dưới xương quay Loãng xương khi MĐX Z-score - 2,5 Phân tích các yếu tố nguy cơ giảm MĐX Kết quả: 6.2% loãng xương, 42% thiếu xương BMD trung bình của nhóm bệnh giảm (0,301 ± 0,051 g/cm 2 ) so với nhóm chứng (0,372 ± 0,08 g/cm 2 ), (p=0,000) Các yếu tố nguy cơ giảm MĐX là liều tích luỹ corticosteroid (p=0.000), thời gian dùng corticosteroid (p=0,007), tuổi khởi phát (p=0,000) Kết luận: Trẻ

bị HCTH có nguy cơ giảm mật độ xương Những trẻ này cần được đánh giá mật độ xương và can thiệp điều trị thích hợp

SUMMARY

BONE MINERAL DENSITY AMONG CHILDREN WITH NEPHROTIC SYNDROME

AT CHILDREN HOSPITAL No2

Le Thi Ngoc Dung, Phan Thanh Tho * Y Hoc TP Ho Chi Minh

* Vol 9 * Supplement of No 1 * 2005: 202 – 207

Nephrotic syndrome (NS) is a common kidney disorder in children, and with the high risk of osteoporosis due to pathology as well as side effect of corticosteroid therapy Methods: We studied 31 children with NS based on criteria of clinical and biochemical diagnostic, and 31 healthy children matched in age, gender included in the control group BMD was assessed by using DEXA of distal radius Osteoporosis is defined as the value of BMD Z-score -2.5 SD We find out factors to predict the low BMD Results: A few of 31 patients (6,2%) had osteoporosis and 42% of patients had osteopenia The mean BMD for patient group was lower (0,301±0,051g/cm 2 ) than control group (0,372±0,08g/cm 2 ) significantly (p=0,000) Factors can predict low BMD were cumulative corticosteroid dose (p=0,000), long term therapy of corticosteroid (p=0,007), and age at onset (p=0,000) Conclusions: Children with NS may be

at high risk for low BMD These children should check regularly BMD, and use the appropriate intervention

MỞ ĐẦU

Hội chứng thận hư (HCTH) là bệnh thận thường

gặp nhất ở trẻ em, hầu hết có sang thương tối thiểu

và đáp ứng với corticosteroid Bệnh diễn tiến mạn

tính với nhiều đợt tái phát, nhưng hiếm khi dẫn đến

suy thận mạn

Bệnh nhân bị HCTH thường có rối loạn chuyển

hóa xương như hạ can xi máu, giảm vitamin D và

giảm protein vận chuyển vitamin D(6,8) Các khảo sát trên bệnh nhân bị viêm đa khớp dạng thấp, lupus, suyễn có dùng corticosteroid thậm chí bằng đường hít đều cho thấy có nguy cơ giảm mật độ xương(2) Trong khi đó corticosteroid là thuốc chính yếu dùng trong điều trị HCTH(11) Cùng với rối loạn chuyển hóa xương do chính bệnh lý gây ra, và tác dụng phụ của trị liệu corticosteroid nên trẻ bị HCTH có nguy cơ giảm mật độ xương(4,7,10,15)

Trang 2

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

Một khi mật độ xương giảm, cơ thể sẽ không đạt

được khối lượng xương đỉnh cần thiết lúc trưởng

thành Do tình trạng mất chất xương tự nhiên diễn ra

hàng năm sau đó sẽ làm tăng nguy cơ loãng xương và

gãy xương do loãng xương sau này(23)

Có một số nghiên cứu về mật độ xương ở trẻ bị

HCTH đã được công bố ở nước ngoài(4,7,10,15,22) Tại

Việt Nam, chưa có nghiên cứu về mật độ xương ở trẻ

bị HCTH Nên chúng tôi bước đầu mạnh dạn thực

hiện đề tài này nhằm góp phần đánh giá mật độ

xương ở trẻ em Việt Nam bị HCTH

Mục tiêu nghiên cứu

- So sánh mật độ xương ở trẻ bị HCTH với nhóm

chứng

- Xác định mối liên hệ giữa mật độ xương với thời

gian dùng corticosteroid, liều tích lũy corticosteroid

- Xác định mối liên hệ giữa mật độ xương với tuổi

của trẻ, tuổi khởi phát HCTH, thời gian mắc bệnh,

giới tính, chỉ số khối cơ thể

PHƯƠNG PHÁP

Nhóm bệnh

Chúng tôi chọn 31 trẻ bị hội chứng thận hư tại

khoa thận bệnh viện Nhi Đồng 2 Sau khi giải thích và

xin ý kiến gia đình và bệnh nhân, nếu đồng ý tham gia

nghiên cứu, tất cả bệnh nhân đều được thăm khám

lâm sàng, làm xét nghiệm chẩn đoán HCTH: đo

creatinine huyết thanh, đạm toàn phần, albumin,

cholesterol máu, tổng phân tích nước tiểu, đạm niệu

24 giờ Độ lọc cầu thận được ước tính theo công thức

Schwartz(20) Chúng tôi chỉ chọn những trẻ có đầy đủ

tiêu chuẩn xếp loại chẩn đoán thận hư của

International Study of Kidney Disease in Children:

đạm niệu > 50mg/kg/ngày hay >2g/m2da/ngày, hoặc

protein niệu/creatinine niệu >200 mg/mmol; albumin

máu < 25g/l; phù(12), và có chức năng thận bình

thường Chúng tôi loại trừ những bệnh nhân sau: (1)

có GFR < 90ml/phút/1,73m2; (2) bị suy dinh dưỡng,

béo phì; (3) giảm chức năng vận động; (4) và các bệnh

mạn tính khác; (5) có tuổi nhập viện < 5 tuổi

Đo mật độ xương

Đo mật độ xương (MĐX) ở đầu dưới xương quay bên phải bằng máy GE Lunar, dùng phương pháp DEXA tại Phòng Đo Xương- bệnh viện Phụ sản Từ Dũ Kết quả MĐX được tính bằng cách chia dung lượng khoáng của xương (DLKCX) cho diện tích vùng xương đo được Để diễn giải mật độ xương đo được ở trẻ em theo từng lứa tuổi khác nhau, chúng tôi dựa vào độ lệch chuẩn SD hay Z-score Một đơn vị Z-score được định nghĩa là số độ lệch chuẩn SD nằm trên hay dưới giá trị trung bình theo tuổi và giới tính của dân số mẫu

Z-score = (x – trung bình)/ SD, x là giá trị mật độ xương bệnh nhân, trung bình và SD được tính từ nhóm chứng Giá trị trung bình Z-score của dân số trong nhóm chứng khỏe mạnh được cho = 0 Loãng xương khi MĐX score ≤ - 2.5, thiếu xương khi -2,5<MĐX Z-score ≤ -1, bình thường khi MĐX Z-Z-score >-1

Nhân trắc học Chiều cao, không mang giầy, tính bằng đơn vị

cm, đo bằng thước thẳng đứng Cân nặng, không mang giầy, mặc quần áo mỏng, tính bằng đơn vị kg, cân bằng cân cơ học Chỉ số khối cơ thể (CSKCT) được tính bằng công thức chuẩn CSKCT = cân nặng(kg)/ (chiều cao(m))2

Nhóm chứng

Sau khi xin phép gia đình và trẻ, nếu được chấp thuận cho nghiên cứu, chúng tôi chọn 31 trẻ em khoẻ mạnh trong đó có một phần là trẻ ở trường cấp

2 quận Gò vấp, và còn lại là con hay cháu của người thân tại quận Tân Bình Tp HCM có những đặc điểm phù hợp với nhóm bệnh về tuổi, giới trong tiền sử hoặc hiện tại không bị bệnh mạn tính, không dùng thuốc ảnh hưởng tới chuyển hoá xương Tất cả được

đo MĐX với cùng máy đo và cùng kỹ thuật viên

Phân tích thống kê

Số liệu sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS 10.0 Phân tích kết quả để tìm khác biệt có ý nghĩa thống kê bằng phép kiểm chi bình phương, phép kiểm T, phép kiểm phi tham số Mann-Whitney Hệ số tương quan thực nghiệm R, và phương trình hồi

Trang 3

Y đức

Được sự đồng ý tham gia nghiên cứu của gia

đình và bệnh nhân, và sự cho phép của ban giám đốc

bệnh viện Nhi Đồng 2, và độ an toàn bức xạ

(<10μsv)

KẾT QUẢ

Tuổi trung bình lúc đo mật độ xương trong

nghiên cứu là 9,7 tuổi thấp nhất là 5 tuổi và cao

nhất là 15 tuổi Giới nam là 54,8% và nữ 45,2%

Tuổi khởi phát HCTH trung bình trong lô nghiên

cứu là 64,97 ±21,91 tháng Thời gian từ lúc chẩn

đoán HCTH cho tới lúc đo MĐX trung bình trong

lô nghiên cứu là 51,42 tháng thấp nhất là 1

tháng, cao nhất là 96 tháng Trong số 31 trẻ bị

HCTH có 3,2% lệ thuộc corticosteroid, 6,4%

kháng corticosteroid, 19,4% bị lần đầu, 71% tái

phát Liều tích lũy corticosteroid trung bình là

6,634 ±4,57g Thời gian dùng corticosteroid trung

bình 10,45±2,67 tháng

Mật độ xương trung bình của nhóm bệnh là

theo chỉ số MĐX Z-score trung bình của nhóm

bệnh là -0,981±0,988 so với nhóm chứng là

0±0,85 (p=0,002) Trong số 31 trẻ bị HCTH có

6,4% loãng xương, 42% thiếu xương và 51,6 %

bình thường

Khi phân tích sự liên hệ giữa hai đặc tính,

chúng tôi thấy rằng MĐX tương quan nghịch với

liều tích luỹ corticosteroid (r=-0,74 ; y=-0,0084x

+ 0,36) Thời gian dùng corticosteroid càng kéo

dài thì MĐX giảm (p=0,007) MĐX tương quan

thuận với tuổi của trẻ (r=0,169;

y=0,005x+0,322) Tuổi khởi phát HCTH≤5 tuổi

có MĐX cao hơn > 5 tuổi (p=0,003) Trẻ trai có

MĐX cao hơn trẻ gái (p=0,001)

(n=31)

Nhóm chứng (n=31)

P Value∗

Nam/nữ Cân nặng, kg Chiều cao, cm BMI, kg/m 2 DLKCX, g MĐX, g/cm 2 MĐX Z-score

14/17 29,37±8,95 127,13±13,5 17,74±2,41 0,976 0,301±0,051 -0,981±0,988

14/17 35,63±8,38 138,7±13,93 18,33±1,66 1,153 0,372±0,08 0±0,85

0,007 0,002 0,26 0,009 0,000 0,002

∗ Phép kiểm chi bình phương, phép kiểm T, phép kiểm

Mann-Whitney

BÀN LUẬN

Theo khảo sát của chúng tôi, trong nhóm HCTH có 6,4% bị loãng xương, 42% thiếu xương và 51,6% bình thường Chúng ta biết rằng trẻ bị hội chứng thận hư có tình trạng tiểu đạm và mất chất khoáng qua nước tiểu nên rất dễ giảm MĐX(6,8,17) Thậm chí điều này có thể xảy ra khi chức năng thận bình thường và chưa điều trị corticosteroid Tình trạng giảm can xi máu cũng thường gặp trên những bệnh

(25(OH)D) trong huyết thanh thường giảm trên bệnh nhân bị HCTH, bởi vì do mất protein gắn kết với vitamin D qua nước tiểu(8) Nồng độ PTH thường nằm trong giới hạn bình thường hoặc tăng nhẹ, nồng độ calcitriol giảm nhẹ trong giai đoạn hoạt động của bệnh(6,8,18,17) Nghiên cứu trên chuột thí nghiệm, người ta thấy rằng rối loạn chuyển hoá vitamin D một phần là do giảm chức năng ống thận gần(18) Các rối loạn này thường thoáng qua và trở về bình thường khi bệnh ổn định Tuy nhiên, nếu trẻ bị hội chứng thận hư tái phát nhiều lần thì sẽ tăng nguy cơ giảm mật độ xương Khi khảo sát MĐX ở người lớn bị hội chứng thận hư người ta thấy có tăng tỉ lệ loãng xương(1) Hình ảnh mô học xương trên người lớn bị hội chứng thận hư kéo dài cho thấy có hình ảnh nhuyễn xương(17) Do đó nguy cơ giảm mật độ xương càng tăng khi tiểu đạm càng nặng và thời gian bệnh kéo dài

Một yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng tới giảm MĐX trên trẻ bị HCTH là tác dụng phụ của

Trang 4

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

corticosteroid Trong điều trị hội chứng thận hư trẻ

em người ta dùng corticosteroid liều cao liên tục

trong giai đoạn tấn công, sau đó dùng liều thấp và

duy trì(11) Như chúng ta đã biết tác dụng phụ hàng

đầu của corticosteroid là ảnh hưởng lên sự phát triển

chiều cao, tiếp theo là loãng xương Tác dụng phụ này

xảy ra ngay cả khi dùng corticosteroid bằng đường

hít, hoặc dùng bằng đường tiêm tĩnh mạch(9,19)

Mất chất xương do corticosteroid thường có hình

ảnh 2 pha, pha đầu tiên xảy ra nhanh mất từ 10% đến

15% khối lượng xương đỉnh trong vòng vài tháng đầu

điều trị Pha mất chậm, tốc độ mất chất xương hàng

Prednisone dùng hàng ngày với liều ≥ 7.5mg trên 3

tháng sẽ làm tăng đáng kể tình trạng mất chất xương

và làm tăng gấp đôi nguy cơ gãy xương, tuy nhiên với

liều thấp kéo dài trên 3 tháng cũng gây ra mất chất

xương(24) Điều này đặc biệt quan trọng đối với trẻ em,

bởi vì thời kỳ tuổi trẻ là giai đoạn có tốc độ tạo xương

xảy ra rất nhanh Chính vì vậy cơ thể cần đầy đủ

lượng khoáng chất, protein và các chất cần thiết khác

để đáp ứng quá trình phát triển nhanh chóng của hệ

thống xương Trẻ em bị hội chứng thận hư có nguy

cơ giảm MĐX cao do chính bệnh lý gây ra và do tác

dụng của trị liệu corticosteroid Do đó trẻ không đạt

được khối lượng xương đỉnh lúc trưởng thành, và tình

trạng mất chất xương cứ xảy ra mỗi năm theo sự

thoái biến vật chất với thời gian, nên tăng nguy cơ

loãng xương và gãy xương do loãng xương về sau(23)

Có nhiều yếu tố góp phần làm mất chất xương,

như là các yếu tố ức chế quá trình tạo xương, hoặc

các yếu tố tăng quá trình huỷ xương Quá trình tạo

xương giảm có thể là do giảm biệt hoá tạo cốt bào,

hoặc do ức chế quá trình tổng hợp tạo cốt bào, hoặc

do mất cân bằng can xi trong máu(24) Corticosteroid

làm giảm hấp thu can xi ở ruột, đồng thời làm tăng

thải can xi ở ống thận, do đó làm giảm can xi trong

máu Cơ thể phản ứng lại bằng cách cường tuyến cận

giáp thứ phát dẫn đến tăng hoạt tính huỷ cốt bào và

tăng huỷ xương(6,7,18) Trẻ em bị hội chứng thận hư

được điều trị bằng corticosteroid liều cao và kéo dài,

nên có nguy cơ giảm mật độ xương Tình trạng giảm

mật độ xương không chỉ do thận hư mà còn do tác

dụng phụ của nhiều đợt điều trị bằng corticosteroid Loãng xương do corticosteroid thì đã được nghiên cứu nhiều, trong khi đó nghiên cứu MĐX ở trẻ bị hội chứng thận hư thì không nhiều, kết quả thì thay đổi(7,15,22)

Trong khảo sát của chúng tôi, tỉ lệ loãng xương chiếm 6,4%, tỉ lệ thiếu xương chiếm 42% Khi so sánh mật độ xương giữa nhóm bệnh và nhóm chứng, chúng tôi thấy rằng MĐX z-score ở nhóm bệnh thấp hơn so với nhóm chứng ( p = 0.002) Điều này có nghĩa là số trẻ này có khả năng không đạt được khối lượng xương đỉnh lúc trưởng thành, và với tình trạng mất chất xương hàng năm một cách tự nhiên (1%) kể từ sau 30-40 tuổi, do đó sẽ làm tăng nguy cơ loãng xương và gãy xương do loãng xương về sau

Đánh giá mật độ xương hiện nay là đo dung lượng khoáng của xương chia cho diện tích vùng xương đo được Do đo trên mặt phẳng 2 chiều nên phụ thuộc vào kích thước của xương Nên kết quả MĐX đo được sẽ thấp nếu xương có kích thước nhỏ, hoặc cao nếu xương có kích thước lớn MĐX sẽ thay đổi tuỳ thuộc vào tuổi, giới tính và tình trạng dinh dưỡng Do đó các máy đo mật độ xương ngày nay khi đo trên trẻ em đều tính ra Z-score ( theo tuổi, giới) là cách tốt nhất để đánh giá mật độ xương ở trẻ

em Điều cực kỳ quan trọng là nhóm chứng phải phù hợp về tuổi và giới tính(3,5,23) Phương pháp DEXA có thể phát hiện sớm giảm mật độ xương hơn là X quang xương, bởi vì khi thấy hình ảnh loãng xương trên X quang thì xương gần đạt tới điểm gãy

lượng tia X thấp hơn nhiều so với chụp X quang, cho nên có thể dùng an toàn trên trẻ em, và được WHO chọn làm tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương(13) Chúng tôi chọn đo MĐX tại đầu dưới xương quay là vì: muốn tránh tiếp xúc với bức xạ toàn thân, đầu dưới xương quay vừa có cấu trúc xương bè và xương vỏ nên phản ánh toàn diện cấu trúc xương Hơn nữa theo tác giả Hergaty khi theo dõi MĐX ở trẻ bị HCTH cho tới lúc trưởng thành, kết quả thấy rằng MĐX của xương bè ở đầu dưới xương quay giảm, trong khi đó MĐX của xương bè ở thân đốt sống đã về bình thường(10) Vì vậy, do chúng tôi nghiên cứu

Trang 5

Dựa vào phân tích tương quan giữa hai đặc tính,

chúng tôi thấy rằng các yếu tố nguy cơ giảm mật độ

xương là tuổi khởi phát HCTH (p= 0.003) Lý do tại

sao trẻ khởi phát HCTH muộn lại có mật độ xương

thấp thì chưa rõ Điều này có thể liên quan tới những

thay đổi về nội tiết tố, chuyển hoá can xi và vitamin

D, đặc biệt trong giai đoạn này trẻ có tốc độ phát triển

xương nhanh

Một nghiên cứu đoàn hệ khi so sánh 244 235

bệnh nhân có dùng prednisone liều 2,5mg-7mg

trong vòng 3 tháng với 244 235 bệnh nhân bắt cặp

theo tuổi và giới không dùng prednisone, kết quả cho

thấy nhóm có dùng prednisone có nguy cơ gãy xương

do loãng xương tăng cao(24) MĐX giảm ở trẻ viêm đa

khớp dạng thấp, hoặc lupus có dùng corticosteroid đã

được nghiên cứu(2) Vai trò của can xi và vitamin D

trong dự phòng mất chất xương do corticosteroid đã

được chứng minh(13) Do đó tất cả trẻ em bị hội chứng

thận hư khi bắt đầu điều trị Prednisone đều được bổ

sung bằng can-xi và vitamin D

Trong khảo sát của chúng tôi thấy rằng các yếu

tố nguy cơ giảm MĐX bao gồm: tuổi khởi phát bệnh

trễ (p= 0.003), liều tích luỹ corticosteroid cao, thời

gian dùng corticosteroid kéo dài Vì vậy, những trẻ

này cần phải kiểm tra định kỳ MĐX, bổ sung can-xi

và vitamin D, tăng cường hoạt động thể lực(13,14) Cần

phải đánh giá thêm vai trò của biphosphonates trong

điều trị và dự phòng giảm MĐX ở trẻ bị hội chứng

thận hư Biphosphonates đã được sử dụng hiệu quả

trên điều trị và dự phòng loãng xương ở người lớn, và

trên trẻ em bị loãng xương do tạo xương bất toàn(16)

KẾT LUẬN

Mật độ xương trung bình của trẻ bị HCTH (0,301

g/cm2) Tỉ lệ trẻ HCTH bị loãng xương là 6,4% và

thiếu xương là 42% Thời gian dùng corticosteroid

càng lâu (>12 tháng) và liều tích luỹ corticosteroid

càng cao (> 5g) sẽ tăng nguy cơ giảm mật độ xương

Mật độ xương tăng dần theo tuổi không rõ, giới nam

nhóm HCTH khởi phát < 5 tuổi

Kiến nghị

Đo MĐX thường quy cho tất cả trẻ em bị HCTH để giúp chẩn đoán và theo dõi điều trị Cần có những nghiên cứu với cỡ mẫu lớn về mật độ xương ở trẻ em Việt Nam nói chung và trẻ bị HCTH nói riêng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Xuân Nghiêm, Tô Quốc Hùng (2000), Khảo sát một số đặc điểm bệnh xốp xương do sử dụng Corticosteroid kéo dài trên bệnh nhân hội chứng thận

hư, Luận văn thạc sĩ nội khoa, Đại học Y Dược TP HCM

2 Cunnane G and Lane NE (2000), "Steroid-induced osteoporosis in systemic lupus erythematosus", Rheum Dis Clin North Am, 26 (2), pp 311-29

3 Schnau E (1998), "Problems of bone analysis in

chilhood and adolescence", Pediatr Nephol, (12), pp

420-429

4 Esbjorner E, Arvidsson B, Jones Il, Palmer M (2001),

"Bone mineral content and collagen metabolites in children receiving steroid treatment for nephrotic

syndrome", Acta Pediatr, (90), pp.1127-1130

5 Fewtrenll M S (2003), "Bone densitometry in children assessed by dual x ray absorptionmetry: uses and

Pitfalls", Arch Dis Child, (88), pp.795-798

6 Freundlich M, Bourgoignie JJ, Zilleruelo G , Abitbol

C, Canterbury JM, and Strauss J (1986), "Calcium and vitamin D metabolism in children with nephrotic

syndrome", J Pediatr, 108 (3), pp.383-7

7 Gulati S, Madan G, Uttam S, Kiran Gutali, Arvind S (2003), "Are children with idiopathic Nephrotic

Syndrome at risk for metabolic bone disease?", Am J kidney Dis ,Vol 41 (6), pp.1163-1169

8 Grymonprez A, Proesmans W, Van Dyck M, Jans I, Goos G, and Bouillon R (1995) "Vitamin D metabolites

in childhood nephrotic syndrome", Pediatr Nephrol, 9

(3), pp 278-81

9 Haugeberg G, Griffiths B, Sokoll K B, Emery P (2004)

"Bone loss in patients with pulses of methylprednisolone is not negligible", Ann Rheum Dis, (63), pp 940 – 944

10 Hergaty J, Adams J, Muhal L Z, Webb N J A (2004),

"Reduce distal radial trabecular bone density in adult who received corticosteroids for chilhood nephrotic

syndrome"Archives of disease in chilhood, (89), pp 69

(abstract)

11 Hodson EM, Knight JF, Willis NS, and Craig JC (2003), "Corticosteroid therapy for nephrotic syndrome

in children", Cochrane library, (2), oxford: updete

software

12 International Study of Kidney Disease in Children (1981), "The Primary nephrotic syndrome in children Identification of patients with minimal change

Trang 6

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

nephrotic syndrome from initial response to

prednisone , J Pediar, (98), pp.561-564

13 Jacques P B, Robert GJ (2002), "2002 clinical practice

guidelines for the diagnosis and management of

osteoporosis in canada" Cmaj, (167), pp.1-34

14 Kthleen F, Trudy, Burns L, James, Torner.C, Levy.M,

et al (2001), "Physical activity and bone measures in

young children", Pediatrics Vol 107 (6), pp.1387-1391

15 Lettgen B, Jeken C, and Reiners C (1994), "Influence

of steroid medication on bone mineral density in

children with nephrotic syndrome", Pediatr Nephrol,

(8), pp.667-70

16 Marni J F, Shauna H, Katherine A L, Kathleen R D,

Debohach, Karen S G, et al (2003), "Intravenous

biphosphonate therapy in children with osteogenesis

imperfecta",Pediatrics, vol 111 (3), pp.573-578

17 Mittal SK, Dash SC, Tiwari SC, Agarwal SK, Saxena

S, and Fishbane S (1999), "Bone histology in patients

with nephrotic syndrome and normal renal function",

Kidney Int , vol 55 (5), pp.1912-9

18 Mizokuchi M, Kubota M, Tomino Y, and Koide H

(1992), "Possible mechanism of impaired calcium and

vitamin D metabolism in nephrotic rats", Kidney Int,

vol 42 (2), pp.335-40

19 Raymon G S, Susan S J (2004), "Inhaled corticosteroid and the risk of fractures in children and adolescents", Pediatrics, Vol.114 (2), pp.469-473

20 Schwartz G J, Brion L P, Spitzer A (1987), "The use of plasma creatinine concentration for estimating glomerular filtration rate in infants, children, and adolescents", Pediar Clin North, (34), pp.571-590

21 Stevenson J C (1998), "Management of

corticosteroid-induced osteoporosis", Lancet, vol 352 (9137),

pp.1327-8

22 Takeda Y (1993), "Evaluation of bone mineral turnover

in children with nephrotic syndrome", Nippon jinzo gakkai shi, JaPan, vol 35 (6), pp.705-13

23 Van der Sluis I M, Ridder M A, Boot A M, Krenning E

P, Muinck Keizer-Schrama S M P F (2002), "Reference data for bone density and composition measured with dual x ray absorptiometry in white children and young

adults", Arch Dis Child, (87), pp 341-347

24 Van Staa T P, Leufkens H G, Abenhaim L, Zhang B,

et al (2000), "Use of oral corticosteroids and risk of fractures", J Bone Miner Res, (15), pp.993-1000

Ngày đăng: 21/01/2020, 16:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm