Đề tài Phân loại bằng mắt - mức độ vàng da sơ sinh - thang điểm Kramer với mục tiêu nghiên cứu trình bày lượng giá khả năng phân loại mức độ VD bằng mắt của nhân viên y tế.
Trang 1Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 16 * Số 4 * 2012
LƯỢNG GIÁ KHẢ NĂNG PHÂN LOẠI LÂM SÀNG MỨC ĐỘ VÀNG DA
SƠ SINH CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ
Phạm Diệp Thùy Dương*
TÓM TẮT
Tổng quan: Trong 5 năm 2007-2011, bệnh viện (BV) Nhi đồng I và BV Nhi đồng II lần lượt đã thực hiện
thay máu cho 228 và 197 trẻ sơ sinh (SS) tăng bilirubin máu (BM), nhiều trẻ trong số đó nhập viện với những triệu chứng của bệnh lý não cấp do bilirubin Vấn đề là khả năng phân loại mức độ vàng da (VD) của nhân viên
y tế (NVYT) không chính xác nên trẻ được nhập viện trễ
Mục tiêu: Lượng giá khả năng phân loại mức độ VD bằng mắt của NVYT
Phương pháp: 66 NVYT (gồm sinh viên Y6, học viên sau đại học chuyên ngành Nhi khoa) tham gia vào
nghiên cứu (NC) mô tả hàng loạt ca của chúng tôi Mục tiêu NC: xác định tỉ lệ không phù hợp giữa mức độ VD của trẻ SS phân loại theo thang điểm Kramer và mức BM Mỗi đối tượng NC phân loại mức độ VD theo thang điểm Kramer trên một trẻ SS mẫu 2 lần: lần 1(Kr 1 ) dưới ánh sáng đèn néon trắng không đủ sáng theo cách bất kỳ; rồi lần 2 (Kr 2 ) sau khi đã được hướng dẫn phương pháp đánh giá đúng cách BM toàn phần được thực hiện trong vòng 1 giờ sau khi đánh giá Kr2 và được quy thành độ Kramer (Kr c ) Kết quả NC mô tả tỉ lệ không phù hợp giữa 3 giá trị Kr 1 , Kr 2 và Kr c
Kết quả: Chỉ có 45,4% NVYT đánh giá mức độ VD theo thang điểm Kramer phù hợp với mức BM của trẻ
SS mẫu Sự phù hợp của Kr 1 và Kr 2 với nhau và với Kr c tăng dần theo trình độ chuyên môn (36,1% ở sinh viên
Y 6, 45,8% ở học viên SĐH năm thứ nhất và 100% ở học viên SĐH năm thứ 2) và theo số lần tiếp xúc trung bình với trẻ SS mỗi tuần (32,6% khi không tiếp xúc lần nào, 70,6% khi tiếp xúc 1-5 lần và 100% khi tiếp xúc > 5 lần)
Kết luận: Kết quả NC cho thấy NVYT càng ít kinh nghiệm lâm sàng, càng ít cơ hội tiếp xúc với trẻ SS thì
phân loại VD SS theo thang điểm Kramer càng kém chính xác Cần NC thêm để khẳng định kết quả
Từ khóa: nhân viên y tế - phân loại bằng mắt – mức độ vàng da sơ sinh – thang điểm Kramer
ABSTRACT
ASSESSMENT THE VISUAL ABILITY OF HEALTHCARE PRACTITIONERS IN NEONATAL
JAUNDICE CLASSIFICATION
Pham Diep Thuy Duong * Y hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 – No 4– 2012: 222 - 225
Background: Between 2007 and 2011, the Pediatric Hospital Number 1 and the Pediatric Hospital Number
2 performed the exchange transfusion for 228 and 197 hyperbilirubin newborn, respectively Some of them were admitted lately with acute bilirubin encephalopathy
Objective: To evaluate the correlation between the jaundice degree classification of the healthcare
practitioners by using Kramer scale and the serum bilirubin of newborn jaundice
Methodology: We performed a case series study enrolled 66 individuals (6 th year medical students and post-graduate pediatric specialist) Each participant used Kramer scale jaundice classification two times for each jaundice newborn: the first time (Kr 1 ), under the casual neon bulb light with individual examination technique and the second time (Kr 2 ), using the correctly instructed method The total serum bilirubin was measured within
1 hour after Kr 2 , and the lab result was converted to Kramer scale (Kr c ) Three values of Kr 1, Kr 2 and Kr c were compared for matching
Trang 2Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 16 * Số 4 * 2012 Nghiên cứu Y học
Results: Only 45.4% examiners had jaundice assessment Kramer scale matched to the blood bilirubin
levels The percentage of matching related to the participant learning year (increased from 36.1% for the 6 th_ year medical students to 45.8% for 1 st year postgraduate and 100% for 2 nd year postgraduate specialists) and their contact times per week with newborn (32,6%, 70,6% and 100% for those who have no contact, 1-5 times and over
5 times per week respectively)
Conclusion: The examiners with less practical experience and less contacting times with jaundice newborns
would less likely to give accurate Kramer degree
Key words: healthcare practitioner - visual classification - neonatal jaundice degree - Kramer scale
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong 5 năm 2007-2011, BV Nhi đồng I và
BV Nhi đồng II lần lượt đã thực hiện thủ thuật
thay máu cho 228 và 197 trẻ SS VD Nhiều trẻ
trong những trẻ này nhập viện rất trễ với những
triệu chứng của bệnh lý não cấp do bilirubin
Thực trạng này đặt ra nhiều vấn đề: Phải chăng
khả năng đánh giá mức độ VD SS của NVYT
còn thấp? hay Việc đánh giá toàn diện để truy
tìm những trẻ nguy cơ cao tăng BM chưa đúng
mức? hay Thân nhân trì hoãn đưa trẻ đi khám?
Mục tiêu nghiên cứu
Lượng giá khả năng đánh giá mức độ VD
bằng mắt của NVYT
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả hàng loạt ca
Đối tượng nghiên cứu
Là 66 NVYT, bao gồm sinh viên (SV) Y 6,
học viên sau đại học (SĐH, gồm Chuyên khoa
cấp I và cấp II, Cao học chuyên ngành Nhi
khoa) năm thứ I và năm thứ II
Phương pháp tiến hành
Mỗi đối tượng NC đánh giá mức độ VD trên
một trẻ SS 2 lần theo phân độ Kramer (Kr) từ
không vàng da, vàng da ở mức K I đến K V(2)
Đánh giá lần 1 (Kr1) dưới ánh sáng đèn néon
trắng không đủ sáng theo cách bất kỳ và đối
tượng NC được phép thay đổi mọi điều kiện
quan sát nếu thấy cần thiết; ngay sau đó đối
tượng NC được hướng dẫn thực tế một lần về
phương pháp đánh giá mức độ VD bằng mắt
đúng cách (quan sát dưới ánh sáng mặt trời đủ
sáng, ấn da ngay trước khi đánh giá, lần lượt theo hướng từ đầu đến chân) rồi đánh giá lần 2 (Kr2) trong những điều kiện này Các đối tượng đánh giá riêng rẽ và không thảo luận kết quả đánh giá với nhau Đo BM toàn phần trong vòng 1 giờ sau khi đánh giá Kr2 và quy thành
độ K tương ứng (Krc) So sánh Kr1 và Kr2 với nhau và với chuẩn Krc
Xử lý số liệu
Phần mềm SPSS
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU & BÀN LUẬN
6 trẻ SS mẫu trong NC là những trẻ đủ tháng, đủ cân, có BM từ 3 – 27,7 mg/dL (không vàng da đến vàng da mức độ Kr 1 -5) Có 66 đối tượng tham gia NC và đánh giá mức độ VD trên
6 trẻ SS mẫu được phân bố như sau:
Bảng 1: Đặc tính dịch tễ học của đối tượng NC
Giới tính 29 nam; 37nữ Tuổi 27,8 (23 - 46) Trình độ 38 SV Y6; 24 SĐH năm I; 4
SĐH năm II
Cơ quan công tác 38 SV Y 6; 3 Trung tâm y
tế; 10 BV huyện; 12 BV đa khoa; 3 BV nhi Cho biết đã được hướng
dẫn đánh giá VD bằng mắt
trước đó
27 không; 39 có
Thời gian điều trị trẻ SS trước đây
57 chưa; 9 có điều trị từ
3-72 tháng
Số lần tiếp xúc trung bình với trẻ SS mỗi tuần
46 không lần nào; 17 1-5 lần; 2 5-20 lần;1 21-50 lần Phân tích số liệu NC cho thấy:
Xem xét sự tương hợp giữa Kr1 và Kr2 cho thấy ở phân độ K 2-3 có hiện tượng đánh giá tăng lên, còn ở phân độ K 4-5 lại đánh giá giảm xuống sau khi được hướng dẫn Như vậy, cần
Trang 3Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 16 * Số 4 * 2012
xem lại phương pháp cũng như thời gian hướng
dẫn Dù có thể sai lệch, đánh giá mức độ VD
bằng mắt thực hiện đúng cách cũng cho một
ước lượng ban đầu về mức độ VD, và khi VD
quá mức rốn thì cần xác định mức BM bằng đo
qua da hay xét nghiệm máu(1)
Bảng 2: Sự tương hợp giữa Kr 1 và Kr 2
Kr 2
1 0% 16,7% 0% 0% 0%
2 0% 9,1% 3,0% 6,1% 0%
Kr 1 3 0% 0% 13,6% 12,1% 1,5%
4 0% 0% 4,5% 13,6% 1,5%
5 0% 0% 0% 1,5% 13,6%
Phân tích số liệu cho thấy sự tương hợp giữa
Kr1 và Kr2 không bị ảnh hưởng bởi giới tính
cũng như cơ quan công tác, nhưng bị ảnh
hưởng bởi số lần tiếp xúc trung bình với trẻ SS
mỗi tuần trong quá trình làm việc tại cơ quan
công tác: không tiếp xúc trẻ SS hay tiếp xúc 1-5
lần thì sự tương hợp chỉ là 47,1-50%, trong khi
tiếp xúc 6-20 lần thì sự tương hợp lên đến 100%
(không đối tượng nào tiếp xúc >20 lần) Điều
này gợi ý kinh nghiệm là một yếu tố quan trọng,
và việc thực tập sau hướng dẫn cần phải lập đi
lập lại
Bảng 3: Sự tương hợp giữa Kr 1 và Kr 2 theo số lần
tiếp xúc trung bình với trẻ SS mỗi tuần trong quá
trình làm việc tại cơ quan công tác
10,9 19,6 19,6 0 50,1
Số
lần
tiếp
xúc
>20
So sánh mỗi kết quả đánh giá bằng mắt
với phân độ Kramer qui chuẩn Krc, chỉ xét 2
trường hợp mong đợi lần lượt là phù hợp ở cả
2 lần và Kr1 không phù hợp rồi Kr2 phù hợp,
kết quả lần lượt là 31,8% và 13,6% Tổng cộng
của cả trường hợp này chỉ là 45,4%
Bảng 4: Sự phù hợp giữa Kr 1 và Kr 2 với Kr c
Kr 2
Không phù hợp Phù hợp
Sự phù hợp của Kr1 và Kr2 với Krc không
bị ảnh hưởng bởi giới tính nhưng bị ảnh hưởng bởi trình độ chuyên môn Sự phù hợp tăng dần theo trình độ chuyên môn: 36,1% ở sinh viên Y 6, lên 45,8% ở học viên SĐH năm thứ nhất và đến 100% ở học viên SĐH năm thứ 2 Điều này cho thấy khi trình độ càng thấp thì càng cần phải huấn luyện nhiều hơn, lâu dài hơn
Bảng 5: Sự phù hợp của Kr 1 và Kr 2 với Kr c theo trình
độ chuyên môn
Kr 2
Không phù hợp
Phù hợp
SV Y 6 Không phù
hợp
36,4 13,6
Kr 1 SĐH năm I Không phù
hợp
36,4 13,6
SĐH năm II Không phù
hợp
36,4 13,6
* là tổng cộng 2 trường hợp mong đợi lần lượt là phù hợp
ở cả 2 lần và Kr 1 không phù hợp rồi Kr 2 phù hợp
Xem xét sự phù hợp của Kr1 và Kr2 với Krc
theo số lần tiếp xúc trung bình với trẻ SS mỗi tuần cho thấy sự phù hợp tăng dần: 32,6% khi không tiếp xúc lần nào, lên 70,6% khi tiếp xúc 1-5 lần và đến 100% khi tiếp xúc > 5 lần Điều này cho thấy kinh nghiệm thực tế đóng vai trò rất quan trọng, nên người càng ít kinh nghiệm với trẻ SS thì càng phải được huấn luyện lâu dài và thực hành nhiều hơn
Bảng 6: Sự phù hợp của Kr 1 và Kr 2 với Kr c theo số lần tiếp xúc trung bình mỗi tuần với trẻ SS
Kr 2
Không phù hợp
Phù hợp