1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Mối quan hệ giữa đặc điểm hình thái và tình trạng dinh dưỡng của học sinh Đà Nẵng

8 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 353,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu của bài viết nhằm tìm hiểu sự tăng trưởng của các chỉ số này, tình trạng dinh dưỡng của HS và mối tương quan giữa các chỉ số hình thái với nhau. Mời các bạn cùng tham khảo tài liệu.

Trang 1

MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ TÌNH TRẠNG

DINH DƢỠNG CỦA HỌC SINH ĐÀ NẴNG

Mai Văn Hưng*

TÓM TẮT

Nghiên cứu tiến hành trên 432 học sinh (HS) Trường Chuyên Lê Quý Đôn, thành phố Đà Nẵng, các chỉ số hình thái (theo tuổi) được đo bao gồm: cân nặng, chiều cao, vòng đầu, vòng

cổ, vòng cánh tay trái duỗi, vòng ngực, vòng bụng qua rốn, vòng mông (cân nặng/tuổi, chiều cao/tuổi, vòng đầu/tuổi, vòng cổ/tuổi, vòng cánh tay trái duỗi/tuổi, vòng ngực/tuổi, vòng bụng/tuổi, vòng mông/tuổi) Kết quả: sự tăng trưởng của một số chỉ số hình thái HS Trường Chuyên Lê Quý Đôn, Thành phố Đà Nẵng tuân theo quy luật tăng trưởng của người Việt Nam, tuy nhiên còn một tỷ lệ nhỏ HS bị còi và 6,9% HS bị thừa cân béo phì Phần mềm WHO AnthroPlus và SPSS 11.5 là phần mềm rất hữu ích trong nghiên cứu đánh giá sự phát triển cơ thể HS và mối tương quan giữa các chỉ số hình thái Vì vậy, nếu điều kiện về cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin cho phép, các cơ sở y tế, trường học có thể sử dụng rộng rãi phần mềm này trong theo dõi, đánh giá và quản lý tình trạng dinh dưỡng của HS

* Từ khóa: Hình thái; Tăng trưởng; Dinh dưỡng; Học sinh

Relationship between Nutrition Status and Morphological Characters

of Students in Danang

Summary

A study was conducted on 432 students in Le Quy Don high school for gifted students,

Danang City to evaluate anthropometric indexes, including weight-for-age, height-for-age, head circumference-for-age, neck circumference-for-age, mid-upper arm circumference-for-age, chest circumference-for-age, abdomen circumference-for-age, and hip circumference-for-age Results showed that: The development of these anthropometric parameters of the Le Quy Don

high school for gifted students, Danang City follows rules of body growth of Vietnamese people

However, there were a minor rate of stunted students and 6.9 percents of overweight and obese pupils WHO AnthroPlus and SPSS version 11.5 are useful tools to assess growth of students The findings of this study suggest that the WHO AnthroPlus software could be extensively used

in health organizations, schools to evaluate and monitor malnutrition status of students

* Keywords: Anthropometric; Growth; Nutrition; Students

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, tình trạng dinh dưỡng của

trẻ em Việt Nam là một vấn đề rất quan

trọng Không chỉ ở các vùng núi, nông

thôn mà ngay các thị trấn, thành phố lớn, vấn đề này cũng được nghiên cứu rất nhiều Tình trạng dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến thể chất, trí tuệ của HS

* Đại học Quốc gia Hà Nội

Người phản hồi (Corresponding): Mai Văn Hưng (hunggmv@vnu.edu.vn)

Ngày nhận bài: 20/07/2017; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 15/08/2017

Ngày bài báo được đăng: 23/08/2017

Trang 2

Chế độ dinh dưỡng và thói quen sinh

hoạt không hợp lý có thể gây nên tình

trạng suy dinh dưỡng hoặc béo phì và

các bệnh liên quan đối với HS Xuất phát

từ thực trạng này, đề tài của chúng tôi

nghiên cứu một số chỉ số hình thái của

HS Trường Chuyên Lê Quý Đôn, thành

phố Đà Nẵng nhằm mục đích: Tìm hiểu

sự tăng trưởng của các chỉ số này, tình

trạng dinh dưỡng của HS và mối tương

quan giữa các chỉ số hình thái với nhau

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

432 HS Trường Chuyên Lê Quý Đôn,

thành phố Đà Nẵng, tuổi từ 16 - 18

2 Phương pháp nghiên cứu

Các chỉ số hình thái được đo bao gồm

cân nặng/tuổi, chiều cao/tuổi, vòng

đầu/tuổi, vòng cổ/tuổi, vòng cánh tay trái duỗi/tuổi, vòng ngực/tuổi, vòng bụng qua rốn/tuổi, vòng mông/tuổi

Các phương pháp hình thái, phỏng vấn chính thức theo bộ câu hỏi được sử dụng để thu thập số liệu Số liệu về hình thái của HS được xử lý bằng phần mềm WHO AnthroPlus

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ

BÀN LUẬN

1 Các kích thước hình thái của HS trong nghiên cứu

* Cân nặng:

Trong các điều tra cơ bản về hình thái người, trọng lượng cơ thể là một thông số quan trọng Cân nặng liên quan đến nhiều kích thước khác nên thường được

sử dụng để đánh giá sự phát triển cơ thể

Bảng 1: Cân nặng theo tuổi và giới tính

Cân nặng của HS trong nghiên cứu

tuân theo quy luật tăng trưởng cân nặng

của người Việt Nam So sánh với nghiên

cứu của Bộ Y tế, cân nặng trung bình của

HS trong nghiên cứu cao hơn hẳn (nam:

59,1 kg, 61,6 kg, 65,5 kg so với 45,33 kg,

48,03 kg, 49,71 kg; nữ: 49,4 kg, 50,6 kg,

50,3 kg so với 42,13 kg, 42,98 kg, 43,84

kg của Bộ Y tế), khác biệt có ý nghĩa

thống kê (p < 0,001) Điều này có thể lý

giải do tốc độ phát triển kinh tế của khu

vực này nhanh hơn so với năm khảo sát của Bộ Y tế và so với trung bình cả nước

* Chiều cao:

Giống cân nặng, chiều cao đứng là kích thước quan trọng trong nghiên cứu

về hình thái người, nó có ý nghĩa trong việc đánh giá về thể lực cũng như tầm vóc con người Chiều cao thay đổi theo lứa tuổi, giới tính, đồng thời cũng chịu những ảnh hưởng nhất định của môi trường bên ngoài

Trang 3

Bảng 2: Chiều cao đứng theo tuổi và giới tính

Chiều cao của HS trong nghiên cứu tuân theo quy luật tăng trưởng chiều cao của người Việt Nam và cao hơn so với chiều cao nghiên cứu của Bộ Y tế (nam: 169,1 cm, 169,9 cm và 172,5 cm so với 160,29 cm, 162,73 cm và 163,45 cm; nữ: 158,2 cm, 158,7 cm và 159,7 cm so với 152,45 cm, 152,87 cm và 152,77 cm của Bộ Y tế), khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) Từ đó có thể nhận định chất lượng cuộc sống và giáo dục sẽ giúp thay đổi tầm vóc của người Việt Nam

* Vòng đầu:

Bảng 3: Vòng đầu theo tuổi và giới tính

Vòng đầu nam và nữ trong nghiên cứu thấp hơn nghiên cứu của Bộ Y tế (nam: 53,5 cm, 55,4 cm, 53,4 cm so với 54,02 cm, 54,36 cm, 54,62 cm; nữ: 54,0 cm, 53,2 cm, 52,7 cm

so với 53,26 cm, 53,29 cm, 53,33 cm của Bộ Y tế) (p < 0,05)

* Vòng cổ:

Bảng 4: Vòng cổ theo tuổi và giới tính

So sánh với nghiên cứu của Bộ Y tế [2], vòng cổ trung bình của HS trong nghiên cứu thấp hơn, tuy nhiên trong nghiên cứu của Bộ Y tế chỉ đề cập đến trung bình cộng của nhóm tuổi từ 15 - 19 mà không có số liệu cụ thể ở từng độ tuổi, đây có thể là nguyên nhân gây ra khác biệt giữa nghiên cứu của chúng tôi và Bộ Y tế

Trang 4

* Vòng cánh tay trái duỗi:

Vòng cánh tay trái duỗi là một kích thước dễ xác định và đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới để đánh giá nhanh tình trạng dinh dưỡng của trẻ Nghiên cứu của Stevens và CS cho biết so với kích thước bề dày lớp mỡ dưới da tại cơ tam đầu cánh tay thì vòng cánh tay trái duỗi là một kích thước đáng tin cậy hơn khi đánh giá về tình trạng dinh dưỡng của trẻ, bởi việc xác định bề dày lớp mỡ dưới da tại cơ tam đầu cánh tay thường đem lại các kết quả rất sai lệch, đặc biệt ở các bé trai [6]

Bảng 5: Vòng cánh tay trái duỗi theo tuổi và giới tính

Kết quả của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của Bộ Y tế (nam: 25,6 cm, 27,4

cm, 24,8 cm so với 21,37 cm, 22,04 cm, 22,57 cm; nữ: 23,8 cm, 25,0 cm, 24,6 cm so với 21,03 cm, 21,27 cm, 21,75 cm của Bộ Y tế), khác biệt có ý nghĩa (p < 0,001) Vòng cánh tay trái duỗi của nam 17 tuổi (27,4 cm) cao hơn 18 tuổi (24,8 cm), khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05), vòng cánh tay trái duỗi của nữ 17 tuổi (25 cm) cao hơn 18 tuổi (24,6 cm), khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Điều này có thể giải thích do thời điểm nghiên cứu của chúng tôi, tình trạng dinh dưỡng của HS được cải thiện rất nhiều so với thời điểm nghiên cứu của Bộ Y tế

* Vòng ngực bình thường:

Vòng ngực bình thường được đo qua mũi ức khi hít thở bình thường, kích thước này thường được phối hợp với chiều cao đứng và cân nặng để tính các chỉ số phát triển cơ thể

Bảng 6: Vòng ngực bình thường theo tuổi và giới tính

So với nghiên cứu của Bộ Y tế [2], vòng ngực trung bình của HS trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn (nam: 83,2 cm, 86,3 cm, 85,3 cm so với 71,44 cm, 73,25 cm, 75,08 cm; nữ: 82,9 cm, 82,9 cm, 83,9 cm so với 69,18 cm, 69,83 cm, 72,61 cm của Bộ

Y tế), khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) Điều này cũng phù hợp với tính quy luật của tăng trưởng chiều cao, bởi sự tăng trưởng vòng ngực và chiều cao có tương quan thuận với nhau

Trang 5

* Vòng bụng qua rốn:

Vòng bụng qua rốn liên quan đến độ béo, gày của cơ thể và thể tạng con người Kết quả nghiên cứu cho thấy: vòng bụng qua rốn của HS trong nghiên cứu tăng theo quy luật chung, tuy nhiên mức tăng không nhiều

Bảng 7: Vòng bụng qua rốn theo tuổi và giới tính

So với nghiên cứu của Bộ Y tế, kết quả của chúng tôi cao hơn Vòng bụng qua rốn của nam 17 tuổi (76,1 cm) cao hơn nam 18 tuổi (74,8 cm), khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05); vòng bụng của nữ 17 tuổi (68,8 cm) cao hơn nữ 18 tuổi (67,6 cm) (p > 0,05) Có thể do điều kiện kinh tế và giáo dục của vùng phát triển nên thể tạng của

HS lớn hơn so với trung bình trong nghiên cứu của Bộ Y tế

* Vòng mông:

Giống với vòng bụng qua rốn, vòng mông to nhất (vòng mông) cũng là một kích thước được sử dụng để đánh giá độ béo, gày và thể tạng của cơ thể

Bảng 8: Vòng mông theo tuổi và giới tính

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của Bộ Y tế Vòng mông của nam 17 tuổi (91,6 cm) cao hơn nam 18 tuổi (88,2 cm), khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05); vòng mông của nữ 17 tuổi (89,8 cm) cao hơn nữ 18 tuổi (88,7 cm), khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Điều này có thể giải thích do nền kinh tế trong thời điểm nghiên cứu của chúng tôi phát triển hơn so với thời điểm nghiên cứu của Bộ Y tế, đời sống được cải thiện nên chỉ số đo của HS trong nghiên cứu cũng cao so với nghiên cứu của Bộ Y tế

2 Tình trạng dinh dƣỡng của HS trong nghiên cứu

Nghiên cứu của Mercedes de Onis và CS cho thấy, mặc dù tỷ lệ trẻ bị còi đang giảm ở hầu hết các quốc gia đang phát triển, nhưng ở một vài quốc gia thuộc nhóm này, tỷ lệ còi vẫn đang tăng [4]

Trang 6

Bảng 9: Tình trạng dinh dưỡng chiều cao theo tuổi của HS trong nghiên cứu

Tuổi

Tình trạng dinh dưỡng

Sử dụng phần mềm hình thái của

WHO để đánh giá tình trạng dinh dưỡng

của HS trong nghiên cứu, kết quả cho

thấy 98,8% HS phát triển bình thường,

còn 1,2% HS có chiều cao dưới mức bình

thường, có thể do di truyền Điều này

chứng tỏ chiều cao của HS trong nghiên

cứu phát triển bình thường và phù hợp

với quy luật phát triển chiều cao của

người Việt Nam

Chỉ số cân nặng/tuổi cho phép các

quốc gia (những nước chỉ quan tâm tới

cân nặng của trẻ) theo dõi quá trình tăng

trưởng của trẻ Với những trẻ lớn tuổi (> 10 tuổi) thì cân nặng/tuổi không phải là chỉ số đánh giá phù hợp vì 2 lý do: 1) Chỉ

số này không thể giúp phân biệt được giữa chiều cao đứng và trọng lượng cơ thể trong giai đoạn nhiều trẻ đang trải qua đỉnh tăng trưởng của dậy thì; 2) Dễ dẫn tới việc đánh giá nhầm trẻ bị quá cân (cân nặng/tuổi cao hơn bình thường) trong khi thực tế trẻ đó chỉ đơn thuần là cao Chỉ số BMI/tuổi là chỉ số được WHO khuyến nghị

để đánh giá mức độ gầy, thừa cân và béo phì ở người 10 - 19 tuổi [9]

Bảng 10: Tình trạng suy dinh dưỡng BMI theo tuổi của HS trong nghiên cứu

Tuổi

Tình trạng dinh dưỡng

4,3% số HS ở thể trạng còi, HS thừa

cân chiếm 5,3%, béo phì chiếm 1,6%

Trong đó HS còi, thừa cân, béo phì chiếm

tỷ lệ cao ở 17 tuổi Từ đó cho thấy chế độ

dinh dưỡng cho HS ở các lứa tuổi chưa

hợp lý

3 Tương quan giữa các kích thước hình thái của HS trong nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để tìm hiểu mối quan hệ giữa các kích thước hình thái của HS Trường Chuyên Lê Quý Đôn, Thành phố Đà Nẵng

Trang 7

Mô hình này có dạng: Y = βo + β1X (trong

đó X là biến độc lập, Y là biến phụ thuộc,

βo là hằng số của đường hồi quy tổng thể,

β1 là hệ số góc của đường hồi quy)

Dùng biểu đồ P-P Plot để kiểm tra tính

chuẩn thấy các chỉ số hình thái cân nặng,

chiều cao, vòng đầu, vòng cổ, vòng ngực,

vòng bụng, vòng mông đều phân bố

chuẩn Sử dụng ma trận đồ thị phân tán

để tìm hiểu quan hệ giữa các kích thước

hình thái của HS Trường Chuyên Lê Quý

Đôn, Thành phố Đà Nẵng thấy xuất hiện các cặp quan hệ giữa cân nặng với chiều cao, cân nặng với vòng cổ, cân nặng với vòng mông, cân nặng với vòng bụng vòng ngực với vòng bụng, vòng ngực với vòng mông, vòng bụng với vòng mông

Tìm hiểu cụ thể mối quan hệ giữa cân nặng và chiều cao, kết quả: chiều cao giải thích đến 42,8% sự biến thiên của cân nặng Tiếp tục tính các hệ số của phương trình hồi quy, thu được kết quả như sau:

Bảng 11: Mô hình hồi quy tuyến tính giữa cân nặng và chiều cao

Model

Unstandardized coefficients

Standardized

1

Hệ số Bo = -81,971; B1 = 0,836 Kiểm định t với p = 0,000 cho thấy giả thiết Ho (hai

hệ số của đường hồi quy = 0) bị bác bỏ Mô hình hồi quy tuyến tính giữa chiều cao và vòng đầu của trẻ em người H’mông < 5 tuổi có dạng: Cân nặng = -81,971 + 0,836 ×

chiều cao

Phương trình trên cho phép dự đoán được cân nặng của HS Trường Chuyên Lê Quý Đôn, Thành phố Đà Nẵng khi đã biết chiều cao Giả sử ta biết chiều cao của một

HS là 147,0 cm, có thể dự đoán cân nặng của HS đó như sau: cân nặng = -81,971 + 0,836 x 147,0 = 40,921 kg

Bảng 12: Mô hình hồi quy tuyến tính về các kích thước hình thái của trẻ < 5 tuổi

Rõ ràng có mối tương quan giữa cân nặng với chiều cao, chiều cao với vòng đầu, vòng ngực với vòng bụng, vòng ngực với vòng mông, vòng bụng với vòng mông

Trang 8

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Sự tăng trưởng của một số chỉ số hình

thái HS Trường Chuyên Lê Quý Đôn,

Thành phố Đà Nẵng thể hiện quy luật

tăng trưởng cơ thể người Việt Nam, tuy

nhiên còn một tỷ lệ nhỏ HS bị còi và 6,9%

HS bị thừa cân béo phì

Giữa các đặc điểm hình thái và tình

trạng dinh dưỡng của HS bậc trung học

phổ thông có mối liên quan chặt chẽ với

nhau Mặc dù kinh tế tại Đã Nẵng khá

phát triển, nhưng chế độ dinh dưỡng

không hợp lý cũng làm cho cơ thể con

người phát triển không cân đối

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Besatrice Sesnemaud, Phạm Văn Hoan,

Nguyễn Thị Lâm Hướng dẫn đánh giá tình

hình dinh dưỡng và thực phẩm ở một cộng

đồng NXB Y học Hà Nội 1998

2 Bộ Y tế Các giá trị sinh học người Việt

Nam bình thường thập kỷ 90 - Thế kỷ XX

NXB Y học Hà Nội 2003

3 Hoàng Quý Tỉnh, Nguyễn Hữu Nhân,

Nguyễn Thị Thùy Linh Ứng dụng phần mềm

Anthro của WHO trong nghiên cứu một số

kích thước nhân trắc Tạp chí Y - Dược học

Quân sự, Học viện Quân y Hà Nội 2009, 1

(34), tr.1-5

4 Mercedes de Onis, Frongillo E.A Jr, Blössner M Is malnutrition declining? An

analysis of changes in levels of child malnutrition since 1980 Bulletin of World Health Organization 2000, 78, pp.1222-1233

5 Hoang Quy Tinh, Nguyen Huu Nhan

Using the New World Health Organization Standards to assess the nutrition status of Thai preschoolers in Yenbai province, Vietnam (2010) Proceeding 09 (Selected Papers): Science of Human Development for Restructuring the Gap-Widening Society Ochanomizu University, Japan 2010, pp.107-110

6 Stevens, Michael C.G, Landman Jacqueline

P, Hayes Richard J, Serjeant Graham R

Skinfold thickness and nutritional status in young Jamaican children Journal of West Indian medicine 1983, 32 (3), pp.161-167

7 World Health Organization - Department

of Nutrition for Health and Development WHO

Child Growth Standards: Training course on child growth assessment: C Interpreting growth indicators, Geneva 2006

8 World Health Organization World Health

Statistics Geneva 2006

9 World Health Organization WHO

AnthroPlus for Personal Computers Manual: Software for assessing growth and development

of the world's children Geneva 2009

Ngày đăng: 21/01/2020, 16:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w