Nội dung bài viết với mục tiêu xác định hệ số tương quan giữa FEV1, sGaw và FRC. Nghiên cứu phân tích trên 151 bệnh nhân BPTNMT tại phòng khám hô hấp Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM từ 01/2009-01/2011. Bài viết xác định hệ số tương quan giữa FEV1 với sGaw, FEV1 với FRC và giữa FRC với sGaw.
Trang 1TƯƠNG QUAN TĂNG KHÁNG LỰC ĐƯỜNG THỞ, TẮC NGHẼN LUỒNG KHÍ, Ứ KHÍ PHẾ NANG TRONG ĐÁNH GIÁ CHỨC NĂNG HÔ HẤP BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
Lê Khắc Bảo*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: GOLD 2014 khuyến cáo đánh giá chức năng phổi bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT)
bằng cách dùng FEV 1 Đặc điểm chức năng hô hấp trong BPTNMT gồm tắc nghẽn luồng khí, tăng kháng lực đường thở và ứ khí phế nang.Như vậy, FEV 1 có thể làm đại diện cho các chỉ số chức năng hô hấp trong BPTNMT?
Mục tiêu: Xác định hệ số tương quan giữa FEV 1 , sGaw và FRC
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả phân tích trên 151 bệnh nhân BPTNMT tại
phòng khám hô hấp BVĐHYD từ 01/2009–01/2011 Chúng tôi xác định hệ số tương quan giữa FEV 1 với sGaw, FEV 1 với FRC và giữa FRC với sGaw
Kết quả: Hệ số tương quan giữa FEV 1 với sGaw là 0,75 – 0,77; FEV 1 với FRC là (– 0,48) – (– 0,49); FRC với sGaw là (– 0,57) – (– 0,58) [p < 0,01]
Kết luận: Tắc nghẽn luồng khí tương quan mạnh với tăng kháng lực đường thở Ứ khí phế nang chỉ tương
quan vừa với tắc nghẽn luồng khí và tăng kháng lực đường thở
Từ khóa: Tăng kháng lực đường thở, tắc nghẽn luồng khí, ứ khí phế nang, BPTNMT
ABSTRACT
CORRELATIONS AMONG AIRWAY RESISTANCE, AIRFLOW OBSTRUCTION,
HYPERINFLATION IN THE ASSESSMENT OF LUNG FUNCTION
IN CHRONIC OBSTRUCTIVE PULMONARY DISEASE
Le Khac Bao * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - Supplement of No 1 - 2015: 523 - 531
Background: GOLD 2014 recommends the assessment of lung function in chronic obstructive pulmonary
disease (COPD) using FEV 1 Lung function in COPD is characterized by airflow obstruction, increase in airway resistance and hyperinflation Can FEV 1 represent for other lung function parameters in COPD?
Objectives: to define correlation ratios among FEV 1 , sGaw and FRC
Methodology: A descriptive cross sectional study was conducted on 151 patients with COPD at outpatient
respiratory department of Medical University Center at HCMC from Jan 2009 to Jan 2011 We find the correlation ratios between FEV 1 with sGaw, FEV 1 with FRC and FRC with sGaw
Results: The correlation ratios between FEV 1 with sGaw is 0.75 – 0.77; FEV1 with FRC is (– 0.48) – (– 0.49) ; FRC with sGaw is (– 0.57) – (– 0.58) [p < 0,01]
Conclusion: Airflow obstruction correlates well with increase in airway resistance Hyperinflation correlates
moderately with airflow obstruction and increase in airway resistance
Key words: Increase in airway resistance, airflow obstruction, hyperinflation, COPD
ĐẶT VẤN ĐỀ
Năm 2011, GOLD thay đổi khuyến cáo đánh
giá lâm sàng BPTNMT từ dựa trên một thành phần sang nhiều thành phần: triệu chứng lâm sàng, tiền căn đợt cấp, chức năng hô hấp(19) Để
Trang 2đánh giá thành phần chức năng hô hấp, GOLD
2014 khuyến cáo dùng FEV1(20)
Philippe Gagnon nêu rõ đặc điểm chức năng
hô hấp trong BPTNMT gồm tắc nghẽn luồng
khí, tăng kháng lực đường thở và ứ khí phế
nang(15) Như vậy, FEV1 có thể làm đại diện cho
các chỉ số chức năng hô hấp khác trong
BPTNMT?
Nghiên cứu tương quan giữa các biến số đại
diện cho tăng kháng lực đường thở, tắc nghẽn
luồng khí và ứ khí phế nang góp phần trả lời câu
hỏi này Vì thế chúng tôi tiến hành đề tài nghiên
cứu: “Tương quan tăng kháng lực đường thở, tắc
nghẽn luồng khí, ứ khí phế nang trong đánh giá
chức năng hô hấpBPTNMT”
Mục tiêu nghiên cứu
Tổng quát
Xác định tương quan giữa tăng kháng lực
đường thở, tắc nghẽn luồng khí, ứ khí phế nang
trong đánh giá chức năng hô hấp BPTNMT
Chuyên biệt
Xác định hệ số tương quan giữa FEV1 với
sGaw
Xác định hệ số tương quan giữa FEV1 với
FRC
Xác định hệ số tương quan giữa FRC với
sGaw
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Cắt ngang mô tả phân tích
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân BPTNMT tại Tp.HCM và các tỉnh
lân cận đến khám tại phòng khám hô hấp
BV.ĐHYD Tp.HCM từ tháng 01/2009 – 01/2011
Tiêu chuẩn nhận bệnh
Bệnh nhân thỏa mãn tất cả các tiêu chuẩn
chọn bệnh:
Nam hoặc nữ tuổi ≥ 40
Có ≥ 1 triệu chứng lâm sàng chỉ điểm
BPTNMT:
Khó thở khi gắng sức, dai dẳng, tiến triển nặng dần hàng tháng hay hàng năm
Ho, khạc đàm kéo dài ≥ 3 tuần
-Tiền căn tiếp xúc yếu tố nguy cơ:
Đã từng hay đang hút thuốc lá ≥ 10 gói.năm
và / hoặc
Đã từng hay đang tiếp xúc chất đốt sinh khối (biomass) ≥ 10 giờ.năm
FEV1/FVC sau trắc nghiệm giãn phế quản < 0,7
Tiêu chuẩn loại bệnh
Bệnh nhân vi phạm ít nhất một tiêu chuẩn loại bệnh:
-Tiền căn bệnh lý:
Hen suyễn, dãn phế quản, ung thư phế quản, lao phổi, bệnh phổi mô kẽ, cắt thùy phổi, thuyên tắc phổi, tràn dịch màng phổi, tràn khí màng phổi, gù vẹo cột sống
Suy tim trái, đau thắt ngực không ổn định hoặc nhồi máu cơ tim một tháng trước đó, tai biến mạch máu não
Di chứng sốt bại liệt, chấn thương gãy xương chi dưới, đoạn chi dưới, biến dạng khớp do viêm khớp, suy tĩnh mạch chi dưới
-Tình trạng lúc khám:
Có chống chỉ định đo phế thân ký (11,30) hoặc không thể hợp tác đo phế thân ký
-Các xét nghiệm hỗ trợ:
X quang ± CT scan: lao phổi, dãn phế quản, u phổi, bệnh phổi mô kẽ, tràn khí / dịch màng phổi
Soi đàm: trực trùng kháng cồn acid
Điện tâm đồ ± siêu âm tim: rối loạn nhịp, thiếu máu cơ tim, suy tim
Các biến số nghiên cứu
Đặc điểm dân số học
Tuổi – Giới – Chiều cao – Cân nặng
Tình trạng hút thuốc lá hiện tại
Tiền căn hút thuốc lá ± tiếp xúc chất đốt sinh khối
Trang 3Tiền căn đợt cấp BPTNMT: số đợt cấp trong
12 tháng trước đó
Triệu chứng lâm sàng
Mức độ khó thở đánh giá với bộ câu hỏi
BDI(24)
Khả năng gắng sức đánh giá với khoảng
cách đi bộ sáu phút 6MWD(1)
Chất lượng cuộc sống đánh giá với bộ câu
hỏi SGRQ(20)
Chức năng hô hấp trước và sau trắc nghiệm
giãn phế quản
Đánh giá với máy phế thân kế của hãng
CareFusion (Hoa Kỳ):
Tắc nghẽn luồng khí đánh giá với % FEV1 so
với dự đoán, tỷ lệ FEV1/ FVC
Tăng kháng lực đường thở đánh giá với %
sGaw so với dự đoán
Ứ khí phế nang đánh giá với % FRC so với
dự đoán, tỷ lệ RV/TLC
Cách đánh giá các biến số nghiên cứu
Bệnh nhân không uống rượu, bia trước khi
đo 4 giờ, không ăn quá no trước khi đo 2 giờ,
không hút thuốc lá trước khi đo 1 giờ, không vận
động thể lực mạnh trước khi đo 30 phút
Thứ tự đo các chỉ số phế thân ký là: (1)
kháng lực đường thở, (2) ứ khí phế nang, (3) tắc
nghẽn luồng khí(5,31)
Sau khi đo phế thân ký trước trắc nghiệm
giãn phế quản, bệnh nhân được sử dụng 400
mcg Salbutamol và ngồi nghỉ 15 phút, sau đó đo
lại phế thân ký sau trắc nghiệm giãn phế quản
Phân tích thống kê
Phần mềm SPSS 15.0 được sử dụng để lưu
trữ và xử lý dữ liệu
Phân tích tương quan đơn biến giữa FEV1
với sGaw, FEV1 với FRC, FRC với sGaw
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm dân số nghiên cứu
174 bệnh nhân đồng ý tham gia 23 bệnh
nhân có tiêu chuẩn loại gồm: 9 lao phổi, 4 gù
vẹo, 3 dãn phế quản, 2 suy tim, 5 không thể đo
phế thân ký Cuối cùng, 151 bệnh nhân được thu dung
Bảng 1: Đặc điểm dân số nghiên cứu
Đặc điểm dân số học (n = 151)
Tình trạng hút thuốc lá
Tiền căn hút thuốc lá
Tiếp xúc chất đốt sinh khối, n (%) 129 (85)
Số đợt cấp 12 tháng trước
Pre/Post Trước/sau trắc nghiệm giãn phế quản
Triệu chứng & chức năng phổi (n = 151)
Triệu chứng lâm sàng
Tắc nghẽn luồng khí
Tăng kháng lực đường thở
Ứ khí phế nang
FEV 1 Thể tích thở ra gắng sức 1s đầu tiên
Trang 4Tương quan giữa tăng kháng lực đường thở,
tắc nghẽn luồng khí, ứ khí phế nang
Bảng 2: Hệ số tương quan FEV 1 , sGaw và FRC
n = 151 Pre
FEV1
Post FEV1
Pre sGaw
Post sGaw
Pre FRC
Post FRC
Pre
Post
Pre
Post
Pre
Post
Tất cả các hệ số tương quan đều có ý nghĩa thống kê với p <
0,01 FEV 1 Thể tích thở ra gắng sức 1 giây đầu tiên.sGaw
Suất dẫn đường thở đặc hiệu (nghịch đảo trở kháng đặc
hiệu: 1/ sRaw) FRC Dung tích khí cặn chức năng
Pre/Post: Trước / Sau trắc nghiệm giãn phế quản
Tắc nghẽn luồng khí tương mạnh với tăng
kháng lực đường thở (Biểu đồ 1) nhưng chỉ
tương quan vừa với ứ khí phế nang (Biểu đồ 2)
Biểu đồ 1: Tương quan FEV 1 với sGaw
FEV 1 : Thể tích thở ra gắng sức 1 s đầu tiên sGaw:
Suất dẫn đường thởđặc hiệu (sGaw = 1/sRaw) Post:
Sau trắc nghiệm giãn phế quản
Biểu đồ phân tán tương quan giữa tắc nghẽn
luồng khí và tăng kháng lực đường thở có phân
bố tương đối hẹp
Biểu đồ 2: Tương quan FEV 1 với FRC FEV 1 : Thể tích thở ra gắng sức 1 s đầu tiên FRC: Dung tích khí cặn chức năn Post: Sau trắc nghiệm giãn phế quản
Biểu đồ phân tán tương quan giữa tắc nghẽn luồng khí với ứ khí phế nang phân bố rộng: 25% không ứ khí phế nang + tắc nghẽn luồng khí nhẹ đến vừa, 38% ứ khí phế nang + tắc nghẽn luồng khí nặng đến rất nặng; 32% ứ khí phế nang + tắc nghẽn luồng khí nhẹ đến vừa, 5% không ứ khí phế nang + tắc nghẽn luồng khí nặng đến rất nặng
BÀN LUẬN
Chức năng hô hấp là thành phần then chốt trong chẩn đoán và đánh giá lâm sàng BPTNMT Giảm tốc độ suy giảm chức năng hô hấp là một mục tiêu quan trọng trong điều trị BPTNMT (19), (20) Chức năng hô hấp không chỉ là tắc nghẽn luồng khí Nghiên cứu tương quan đơn biến giữa các chỉ số FEV1, sGaw, FRC giúp xác định chỉ số phế thân ký đại diện đánh giá chức năng
hô hấp
Tắc nghẽn luồng khí tương quan mạnh với tăng kháng lực đường thở, trong khi đó tắc nghẽn luồng khí và tăng kháng lực đường thở chỉ tương quan vừa với ứ khí phế nang, tất cả
đều có ý nghĩa thống kê (Bảng 2) Biểu đồ phân
tán giữa tắc nghẽn luồng khí và tăng kháng lực
post FEV1 visit 1 (%predicted)
10
20
30
40
50
60
post FEV1 visit 1 (%predicted)
100 200 300 400 500
Trang 5đường thở cho thấy độ phân tán hẹp (Biểu đồ 1)
Như vậy, tắc nghẽn luồng khí là đủ tin cậy để
đánh giá tăng kháng lực đường thở và ngược lại
Trong khi đó, cùng một mức độ tắc nghẽn luồng
khí, tăng kháng lực đường thở, mức độ ứ khí
phế nang phân tán khá rộng: 32% bệnh nhân có
ứ khí phế nang nhưng chỉ tắc nghẽn luồng khí
nhẹ đến vừa, ngược lại 5% bệnh nhân không ứ
khí phế nang nhưng tắc nghẽn luồng khí nặng
đến rất nặng (Biểu đồ 2) Như vậy, tắc nghẽn
luồng khí không tin cậy để đánh giá ứ khí phế
nang và ngược lại
Nghiên cứu của Athavudh Deesomchok
cũng xác định ngay trên bệnh nhân chỉ tắc
nghẽn luồng khí nhẹ với FEV1 = 91 % dự đoán,
RV đã tăng lên 135% và FRC tăng lên 119% dự
đoán Tất cả các hệ số tương quan đều có ý nghĩa
thống kê với p < 0,01 Phân tích gộp 15 nghiên
cứu từ 1976 – 2011, khảo sát tương quan giữa khí
phế thủng đánh giá bằng chụp cắt lớp vi tính
định lượng và tắc nghẽn luồng khí đánh giá
bằng hô hấp ký, xác định hệ số tương quan mức
độ vừa: r = 0,48 – 0,65 (p<0,01) giữa khí phế
thủng và tắc nghẽn luồng khí(42)
Cơ chế sinh bệnh hình thành tắc nghẽn
luồng khí, tăng kháng lực đường thở và ứ khí
phế nang có thể lý giải các kết quả nghiên cứu
trên Dày thành phế quản do viêm mạn tính và
khí phế thủng do phá hủy vách phế nang và cấu
trúc nâng đỡ là hai tổn thương giải phẫu bệnh
gây bất thường chức năng hô hấp trong
BPTNMT(15, 22) Tỷ lệ đóng góp lần lượt của viêm
mạn tính và khí phế thủng gây tăng kháng lực
đường thở, tắc nghẽn luồng khí và ứ khí phế
nang là khác nhau:
Thứ nhất, tăng kháng lực đường thở, theo
định nghĩa, là hậu quả duy nhất của viêm dày
thành phế quản gây hẹp lòng phế quản (22)
Thứ hai, tắc nghẽn luồng khí là hậu quả phối
hợp của cả viêm dày thành phế quản và khí phế
thủng nhưng khí phế thủng đóng góp rất khiêm
tốn Nghiên cứu cắt ngang của Arthur F Gelb
trên 116 bệnh nhân để xác định tương quan giữa
vi tính độ phân giải cao với tắc nghẽn luồng khí đánh giá bằng FEV1 cho hệ số tương quan r = – 0,31 (p = 0,001)(17) Nghiên cứu cắt ngang của Hironi Makita trên 274 bệnh nhân để xác định kiểu hình BPTNMT dựa trên mức độ nặng khí phế thủng đánh giá bằng hệ thống tính điểm Goddard qua chụp cắt lớp vi tính định lượng độ phân giải cao cũng cho hệ số tương quan giữa điểm số khí phế thủng và tắc nghẽn luồng khí là
r = – 0,3 (p < 0,001), đồng thời tại một mức tắc nghẽn luồng khí, mức khí phế thủng phân bố rộng(26)
Thứ ba, ứ khí phế nang, dù cũng là hậu quả phối hợp của cả viêm dày thành phế quản và khí phế thủng, nhưng khí phế thủng lại đóng góp rất quan trọng(15) Nghiên cứu cắt ngang của Pauls S trên 474 bệnh nhân để xác định tương quan giữa điểm khí phế thủng đánh giá bằng chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao với ứ khí phế nang đánh giá bằng TLC cho hệ số tương quan r = 0,68 (p < 0,001)(34) Nghiên cứu cắt ngang của Huai Chen để xác định tương quan giữa chức năng hô hấp đánh giá bằng phế thân ký và hình ảnh học đánh giá bằng chụp cắt lớp vi tính
đa đầu dò liều thấp cũng xác định hệ số tương quan giữa thể tích phổi thì hít vào trên chụp cắt lớp vi tính với TLC trên phế thân ký là r=0,67 (p
< 0,001)(10) Tương quan giữa hai tổn thương giải phẫu bệnh (viêm dày thành phế quản và khí phế thủng) quyết định tương quan giữa ba rối loạn sinh lý bệnh (tăng kháng lực đường thở, tắc nghẽn luồng khí và ứ khí phế nang) Nghiên cứu cắt ngang của Grant Mair trên 56 bệnh nhân để xác định tương quan giữa độ dày thành phế quản và độ nặng khí phế thủng cùng đánh giá bằng chụp cắt lớp vi tính lồng ngực liều thấp xác định: Độ dày phế quản trung tâm (thế hệ 1 đến 2) và ngoại vi (thế hệ 3 đến 6) tương quan mức
độ thấp đến vừa với độ nặng khí phế thủng với
hệ số tương quan lần lượt là r = – 0,30 (p = 0,025)
và r = – 0,32 (p = 0,015)(25) Tương quan mạnh giữa tăng kháng lực
Trang 6thích là do cả hai rối loạn sinh lý bệnh này đều
gây ra chủ yếu bởi viêm dày thành phế quản(17,22)
Tương quan vừa giữa ứ khí phế nang với tăng
kháng lực đường thở và tắc nghẽn luồng khí cĩ
thể giải thích là do ứ khí phế nang gây ra chủ
yếu bởi khí phế thủng chứ khơng phải viêm dày
thành phế quản(34), mà khí phế thủng chỉ tương
quan yếu đến vừa với viêm dày thành phế
quản(25)
Kết quả nghiên cứu chúng tơi cĩ ba ý nghĩa
lâm sàng sau đây
Thứ nhất, tắc nghẽn luồng khí tương quan
mạnh với tăng kháng lực đường thở nên khi
khơng thể đánh giá trực tiếp biến số thứ nhất, cĩ
thể đánh giá gián tiếp qua biến số thứ hai và
ngược lại Tình huống này hay gặp trên thực
hành, trong đĩ việc đánh giá tắc nghẽn luồng
khí với đo hơ hấp ký là khơng thể thực hiện
được do bệnh nhân khơng thể gắng sức đo hơ
hấp ký đạt tiêu chuẩn chấp nhận được và lập lại
được(31) Một giải pháp hợp lý là tìm cách đánh
giá đánh giá tăng kháng lực đường thở với kỹ
thuật khơng địi hỏi gắng sức, ví dụ dao động
xung ký (IOS: Impulse Oscillometry System),
sau đĩ dùng kết quả IOS đánh giá gián tiếp tắc
nghẽn luồng khí(12) Nghiên cứu cắt ngang của
Anderson trên 57 bệnh nhân thực hiện vừa hơ
hấp ký và IOS, xác định chỉ số IOS đại diện
kháng lực đường thở ngoại vi R5–R20 tương
quan với FEV1, r = – 0,50 (p < 0,001)(2) Nghiên
cứu tương tự của Waldemar Tomalak trên 277
bệnh nhân tuổi 65 – 96 cũng tìm được R5–R20
tương quan với FEV1, r = – 0,57 (p < 0,001)(38)
Thứ hai, tắc nghẽn luồng khí tương quan
mạnh với tăng kháng lực đường thở nên cĩ thể
chỉ cần đánh giá một biến số đại diện là đủ
Vấn đề lâm sàng đặt ra là nên chọn biến số
nào Vài nghiên cứu chứng minh tăng kháng
lực đường thở nhạy cảm hơn tắc nghẽn luồng
khí đánh giá đáp ứng điều trị thuốc giãn phế
chéo 4 lần so sánh hiệu quả giãn phế quản của
Tiotropium 18 mcg, Salmeterol 100 mcg,
Salmeterol 50 mcg và giả dược do Zoë L
Borrill thực hiện, xác định sGaw nhạy cảm hơn FEV1 trong đánh giá hiệu quả của thuốc giãn phế quản(6) Tương tự, nghiên cứu cắt ngang trên 60 bệnh nhân do Santus P thực hiện, cũng
so sánh thay đổi FEV1và sRaw trong đánh giá đáp ứng thuốc giãn phế quản Biến số nghiên cứu: (1) Tắc nghẽn luồng khí đánh giá bằng FEV1; (2) kháng lực đường thở đánh giá bằng sRaw; (3) ứ khí phế nang đánh giá bằng FRC, RV; (4) khĩ thở đánh giá bằng điểm VAS Bệnh nhân được đo phế thân ký lúc bắt đầu và 60 phút sau khi dùng 300 mcg thuốc giãn phế quản indacaterol Kết quả: Thay đổi sRaw tương quan từ vừa đến mạnh, cĩ ý nghĩa thống kê (p < 0,01) với thay đổi FRC (r = 0,61),
RV (r = 0,60) và VAS (r = 0,73); Thay đổi FEV1
khơng tương quan với thay đổi các biến số trên Tác giả kết luận sRaw nhạy cảm hơn FEV1 trong đánh giá đáp ứng thuốc giãn phế quản(35) Kết quả nghiên cứu của hai tác giả gĩp phần giải thích lý do nhiều bệnh nhân BPTNMT, dù khơng đáp ứng trắc nghiệm giãn phế quản theo tiêu chuẩn FEV1, vẫn cải thiện khĩ thở, khả năng gắng sức và chất lượng cuộc sống khi điều trị với thuốc giãn phế quản(7,36)
Dù vậy, chúng tơi cho rằng vẫn nên chọn FEV1
làm đại diện nhờ tính tin cậy, lập lại, khả thi,
dễ sử dụng trên lâm sàng(31) Tăng kháng lực đường thở cĩ tính tin cậy và lập lại thấp hơn
do độ dao động cao hơn, tính khả thi thấp hơn
do cần phải dùng phế thân ký hoặc IOS(4,12) Thứ ba, tắc nghẽn luồng khí và tăng kháng lực đường thở chỉ tương quan vừa với ứ khí phế nang Như vậy, ngồi đánh giá tắc nghẽn luồng khí/tăng kháng lực đường thở, cần phải đánh giá thêm ứ khí phế nang Vấn đề đặt ra là dùng phương pháp nào để đánh giá ứ khí phế nang một cách chính xác, tin cậy, khả thi trên lâm sàng tại Việt Nam Tiêu chuẩn vàng đánh giá ứ khí phế nang là phương pháp phế thân
ký(40) với hai chỉ số FRC và RV đại diện lần lượt
ứ khí phế nang và bẫy khí(37) Tuy nhiên, phế thân ký tương đối tinh vi, cách đo phức tạp, và thường chỉ được trang bị tại một số bệnh viện
Trang 7lớn Hạn chế này giảm tính khả thi của phế
thân ký đánh giá ứ khí phế nang trong
BPTNMT trên lâm sàng
Tuy nhiên, tính khả thi thấp của đánh giá ứ
khí phế nang bằng phế thân ký không đồng
nghĩa với việc đánh giá ứ khí phế nang là không
thể thực hiện được trên lâm sàng Ngoài việc
khám lâm sàng phát hiện hội chứng ứ khí phế
nang (lồng ngực hình thùng, gõ vang, âm phế
bào giảm)(28), ba kỹ thuật cận lâm sàng khác phế
thân ký cũng có thể đánh giá được ứ khí phế
nang thường đề cập là: (1) đo ứ khí phế nang với
hô hấp kế kèm bộ phận phân tích nồng độ khí
(Nitơ và Helium), (2) đánh giá gián tiếp ứ khí
phế nang qua đo IC với hô hấp ký (kỹ thuật
vòng kín)(37), (3) đánh giá khí phế thủng với kỹ
thuật hình ảnh học (X quang, chụp cắt lớp vi tính
độ phân giải cao/xoắn ốc, chụp cắt lớp vi tính
định lượng)(40)
Phương pháp rửa trôi nitơ và hòa loãng
helium không đo được phần thể tích phổi bị bẫy
lại trong phế nang vì phần khí này không pha
trộn được với lượng khí có Nitơ hoặc Helium hít
vào Hậu quả là thể tích phổi đo được thấp hơn
thể tích phổi thực tế do đó phương pháp này sẽ
đánh giá thấp tình trạng ứ khí phế nang trong
BPTNMT (3, 40) Hô hấp ký có bộ phận phân tích
nồng độ khí (Nitơ và Helium) cũng chỉ được
trang bị tại một số bệnh viện lớn Như vậy, đo
thể tích phổi với máy hô hấp kế kèm bộ phận
phân tích nồng độ khí trơ không chính xác và
kém khả thi để có thể thay phế thân ký đánh giá
ứ khí phế nang trong BPTNMT
Phương pháp đo IC với hô hấp ký (kỹ thuật
vòng kín) cho phép đánh giá gián tiếp ứ khí phế
nang vì IC là hiệu số của TLC trừ đi FRC(8) Giả
định TLC không đổi, IC giảm là dấu hiệu gián
tiếp của FRC tăng, hay nói cách khác là dấu hiệu
gián tiếp của ứ khí phế nang(37) ERS/ATS 2005
khuyến cáo về kỹ thuật đo IC với hô hấp ký sao
cho kết quả đo được đáp ứng các tiêu chuẩn
chấp nhận và lập lại được(31) IC cũng được dùng
để đánh giá ứ khí phế nang khi vận động (21)
khí phế nang khi ứ khí phế nang nặng(33) hoặc thay đổi theo thời gian(9) Phương trình tính trị số tham khảo của IC là chưa có, vì thế trị số tham khảo của IC thường phải tính bằng cách tính hiệu số trị số tham khảo của TLC trừ đi trị số tham khảo của FRC(8) Như vậy, đo IC với hô hấp ký (kỹ thuật vòng kín), dù có hạn chế, hứa hẹn là phương pháp chính xác, tin cậy, khả thi
để đánh giá ứ khí phế nang trong BPTNMT Hình ảnh học được xem là phương pháp tốt cho phép đánh giá trực tiếp khí phế thủng trong BPTNMT(40,41) Từ hơn 50 năm nay, X quang lồng ngực qui ước vẫn có thể được dùng để đánh giá khái quát khí phế thủng(14) Vài dấu hiệu X quang đặc trưng khí phế thủng đã trở thành kinh điển: vòm hoành dẹt, nằm ngang (nhìn rõ nhất trên phim nghiêng), vòm hoành bị đẩy thấp xuống dưới kèm tăng thể tích lồng ngực, tăng đường kính lồng ngực trước sau thể hiện bằng khoảng sáng sau xương ức > 2,5 cm(14) Chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao, xoắn ốc tăng tính chính xác, tin cậy của X quang trong đánh giá khí phế thủng và ứ khí phế nang Nghiên cứu của Jamie L Garfield cho thấy TLC đo bằng phế thân ký tương quan mạnh với TLC đo bằng chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao (r = 0,92, p < 0,01)(16) Nghiên cứu của Yasutaka Nakano xác định tương quan giữa tỷ lệ giữa vùng phổi giảm đậm độ(39) trên toàn bộ nhu mô phổi đánh giá bằng chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao/xoắn
ốc với thể tích phổi đánh giá bằng phế thân ký(32) Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ số tương quan giữa ứ khí phế nang (RV/TLC) với điểm số khí phế thủng đánh giá trên chụp cắt lớp vi tính sau phân tích hồi qui đa biến là r = 0,60 (p < 0,001)(32) Chụp cắt lớp vi tính định lượng giúp chẩn đoán phân biệt kiểu hình BPTNMT: ưu thế viêm phế quản mạn, ưu thế khí phế thủng, hỗn hợp(27) Cải tiến kỹ thuật đã cho phép chụp cắt lớp vi tính định lượng có thể tính toán chính xác độ nặng của khí phế thủng và hiện tượng bẫy khí, đo kích thước thành đường thở lớn, tiên đoán tổn thương đường thở nhỏ(29), tránh được sai số do phân tích bằng mắt trần hình ảnh chụp cắt lớp vi
Trang 8tính (18, 23) So với máy đo phế thân ký hay máy đo
hô hấp ký kèm bộ phận phân tích khí (Nitơ,
Helium), máy chụp cắt lớp vi tính phổ biến hơn,
một số trường hợp, hiện diện tại các bệnh viện
tuyến quận huyện Như vậy, đánh giá thể tích
phổi với các kỹ thuật hình ảnh học cũng chính
xác, tin cậy và có thể khả thi đánh giá ứ khí phế
nang trên lâm sàng
KẾT LUẬN
Tắc nghẽn luồng khí tương quan mạnh với
tăng kháng lực đường thở Ứ khí phế nang chỉ
tương quan vừa với tắc nghẽn luồng khí và tăng
kháng lực đường thở
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 American Thoracic Society (2002) "ATS statement: guidelines
for the six-minute walk test" Am J Respir Crit Care Med, vol
166 (1), pp 111-7
2 Anderson WJ, Lipworth BJ (2012) "Relationships between
impulse oscillometry, spirometry and dyspnoea in COPD" J R
Coll Physicians Edinb, vol 42 (2), pp 111-5
3 Bailey KL (2012) "The importance of the assessment of
pulmonary function in COPD" Med Clin North Am, vol 96 (4),
pp 745-52
4 Blonshine S, Goldman MD (2008) "Optimizing performance of
respiratory airflow resistance measurements" Chest, vol 134 (6),
pp 1304-9
5 Borg BM, Thompson BR (2012) "The measurement of lung
volumes using body plethysmography: a comparison of
methodologies" Respir Care, vol 57 (7), pp 1076-83
6 Borrill ZL, et al (2008) "The use of plethysmography and
oscillometry to compare long-acting bronchodilators in patients
with COPD" Br J Clin Pharmacol, vol 65 (2), pp 244-52
7 Calverley PM, et al (2007) "Salmeterol and fluticasone
propionate and survival in chronic obstructive pulmonary
disease" N Engl J Med, vol 356 (8), pp 775-89
8 Cazzola M, et al (2008) "Outcomes for COPD pharmacological
trials: from lung function to biomarkers" Eur Respir J, vol 31 (2),
pp 416-69
9 Celli B, et al (2003) "Improvement in resting inspiratory
capacity and hyperinflation with tiotropium in COPD patients
with increased static lung volumes" Chest, vol 124 (5), pp
1743-8
10 Chen H, et al (2014) "Correlation of pulmonary function
indexes determined by low-dose MDCT with spirometric
pulmonary function tests in patients with chronic obstructive
pulmonary disease" AJR Am J Roentgenol, vol 202 (4), pp
711-8
11 Cooper BG (2011) "An update on contraindications for lung
function testing" Thorax, vol 66 (8), pp 714-23
12 Crim C, et al (2011) "Respiratory system impedance with
impulse oscillometry in healthy and COPD subjects: ECLIPSE
baseline results" Respir Med, vol 105 (7), pp 1069-78
13 Deesomchok A, et al (2010) "Lung hyperinflation and its
reversibility in patients with airway obstruction of varying
severity" COPD, vol 7 (6), pp 428-37
14 Friedman PJ (2008) "Imaging studies in emphysema" Proc Am Thorac Soc, vol 5 (4), pp 494-500
15 Gagnon P, et al (2014) "Pathogenesis of hyperinflation in chronic obstructive pulmonary disease" Int J Chron Obstruct Pulmon Dis, vol 9 pp 187-201
16 Garfield JL, et al (2012) "Total lung capacity by plethysmography and high-resolution computed tomography
in COPD" Int J Chron Obstruct Pulmon Dis, vol 7 pp 119-26
17 Gelb AF, et al (1996) "Contribution of emphysema and small airways in COPD" Chest, vol 109 (2), pp 353-9
18 Gietema HA, et al (2011) "Quantifying the extent of emphysema: factors associated with radiologists' estimations and quantitative indices of emphysema severity using the ECLIPSE cohort" Acad Radiol, vol 18 (6), pp 661-71
19 Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease (2011) Global Strategy for the Diagnosis, Management and Prevention
of Chronic Obstructive Pulmonary Disease
20 Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease (2014) Global Strategy for the Diagnosis, Management and Prevention
of Chronic Obstructive Pulmonary Disease
21 Guenette JA, et al (2013) "Inspiratory Capacity during Exercise: Measurement, Analysis, and Interpretation" Pulm Med, vol
2013 pp 956081
22 Hogg JC (2004) "Pathophysiology of airflow limitation in chronic obstructive pulmonary disease" Lancet, vol 364 (9435),
pp 709-21
23 Lynch DA, Al-Qaisi MA(2013) "Quantitative computed tomography in chronic obstructive pulmonary disease" J Thorac Imaging, vol 28 (5), pp 284-90
24 Mahler DA, et al (1984) "The measurement of dyspnea Contents, interobserver agreement, and physiologic correlates
of two new clinical indexes" Chest, vol 85 (6), pp 751-8
25 Mair G, et al (2010) "Airway dimensions in COPD: relationships with clinical variables" Respir Med, vol 104 (11),
pp 1683-90
26 Makita H, et al (2007) "Characterisation of phenotypes based
on severity of emphysema in chronic obstructive pulmonary disease" Thorax, vol 62 (11), pp 932-7
27 Matsuoka S, et al (2010) "Quantitative CT assessment of chronic obstructive pulmonary disease" Radiographics, vol 30 (1), pp 55-66
28 Matthew J, Hegewald ROC (2010) Murray and Nadel's Textbook of Respiratory Medicine Saunders Elsevier Philadelphia 5 ed Vol 1
29 Mets OM, et al (2012) "Quantitative computed tomography in COPD: possibilities and limitations" Lung, vol 190 (2), pp
133-45
30 Miller MR, et al (2005) "General considerations for lung function testing" Eur Respir J, vol 26 (1), pp 153-61
31 Miller MR, et al (2005) "Standardisation of spirometry" Eur Respir J, vol 26 (2), pp 319-38
32 Nakano Y, et al (2000) "Computed tomographic measurements
of airway dimensions and emphysema in smokers Correlation with lung function" Am J Respir Crit Care Med, vol 162 (3 Pt 1),
pp 1102-8
33 O’Donnell DE, Laveneziana P (2006) "Physiology and consequences of lung hyperinflation in COPD" Eur Respir Rev, vol 15 (100), pp 61-67
34 Pauls S, et al (2010) "Assessment of COPD severity by computed tomography: correlation with lung functional testing" Clin Imaging, vol 34 (3), pp 172-8
Trang 935 Santus P, et al (2014) "Assessment of acute bronchodilator
effects from specific airway resistance changes in stable COPD
patients" Respir Physiol Neurobiol, vol 197 pp 36-45
36 Tashkin DP, et al (2008) "A 4-year trial of tiotropium in chronic
obstructive pulmonary disease" N Engl J Med, vol 359 (15), pp
1543-54
37 Thomas M, Decramer M, O'Donnell DE (2013) "No room to
breathe: the importance of lung hyperinflation in COPD" Prim
Care Respir J, vol 22 (1), pp 101-11
38 Tomalak W, Czajkowska-Malinowska M, Radlinski J (2014)
"Application of impulse oscillometry in respiratory system
evaluation in elderly patients" Pneumonol Alergol Pol, vol 82
(4), pp 330-5
39 Wang Z, et al (2013) "Optimal threshold in CT quantification of
emphysema" Eur Radiol, vol 23 (4), pp 975-84
40 Wanger J, et al (2005)."Standardisation of the measurement of lung volumes" Eur Respir J, vol 26 (3), pp 511-22
41 Washko GR (2012)."The role and potential of imaging in COPD" Med Clin North Am, vol 96 (4), pp 729-43
42 Xie X, et al (2012)."Morphological measurements in computed tomography correlate with airflow obstruction in chronic obstructive pulmonary disease: systematic review and meta-analysis" Eur Radiol, vol 22 (10), pp 2085-93
Ngày nhận bài báo: 07/11/2014 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/10/2014 Ngày bài báo được đăng: 10/01/2015