1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nồng độ lipid máu trên bệnh nhân vẩy nến tại Bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh

8 56 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 327,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của nghiên cứu nhằm so sánh nồng độ lipid của bệnh nhân vảy nến với người bình thường, tìm mối liên quan giữa nồng độ lipid máu với các yếu tố nguy cơ, thời gian bệnh và độ nặng của bệnh. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Trang 1

NỒNG ĐỘ LIPID MÁU TRÊN BỆNH NHÂN VẨY NẾN TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Lê Minh Phúc*, Nguyễn Tất Thắng*

TÓM TẮT

Mở đầu: Vẩy nến là một bệnh da viêm mạn tính ảnh hưởng đến hơn 2% dân số, có thể liên quan đến sự gia

tăng bệnh suất và tử suất của các biến cố tim mạch, hội chứng chuyển hóa, rối loạn lipid máu… Nghiên cứu này giúp đánh giá nồng độ lipid máu trên bệnh nhân vẩy nến tại Việt Nam, từ đó giúp ích trong việc tầm soát và điều

trị sớm rối loạn lipid máu nhằm phòng ngừa xơ mỡ động mạch trên bệnh nhân vẩy nến

Mục tiêu: So sánh nồng độ lipid của bệnh nhân vảy nến với người bình thường, tìm mối liên quan giữa

nồng độ lipid máu với các yếu tố nguy cơ, thời gian bệnh và độ nặng của bệnh

Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang phân tích trên 50 bệnh nhân vẩy nến và 50 người bình thường Kết quả: Nồng độ triglyceride ở bệnh nhân vẩy nến cao hơn người bình thường (p =0,02) Nồng độ HDL ở bệnh nhân vẩy nến thấp hơn người bình thường (p =0,001) Không có sự khác biệt về nồng độ cholesterol TP,

LDL Không có mối tương quan giữa nồng độ lipid máu của bệnh nhân vẩy nến và các yếu tố nguy cơ, thời gian

bệnh Nồng độ LDL có liên quan đến độ nặng của bệnh vẩy nến (p =0,02)

Kết luận: Cần tầm soát rối loạn lipid máu trên bệnh nhân vẩy nến nhằm phòng ngừa xơ mỡ động mạch và các biến chứng của nó

Từ khóa: nồng độ lipid máu, vẩy nến

ABSTRACT

THE LIPID PROFILE IN PATIENTS WITH PSORIASIS AT HOSPITAL

OF DERMATO-VENEROLOGY IN HO CHI MINH CITY

Le Minh Phuc, Nguyen Tat Thang

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 260 - 67

Background: Psoriasis is a chronic inflammatory dermatosis which affects more than 2% of the population

This disease may be associated with an increased morbidity and mortality from cardiovascular events, metabolic syndrome, serum lipid abnormalities, etc This study aims to evaluate the lipid profiles in patients with psoriasis

in Vietnam, which helps to diagnosis and treat hyperlipidaemia early in patients with psoriasis to prevent

psoriatic patients from the atherosclerosis

Objective: To compare the lipid profiles in psoriatic patients with non-affected individuals, to find correlation with risk factors, induration and severity

Method: Performing a analyzed cross-sectional study in 50 psoriatic patients and 50 healthy people

Results: The triglyceride serum was significantly higher (p =0.02), and serum HDL was significantly lower

in patients with psoriasis (p = 0.001), respectively The serum cholesterol and LDL of psoriatic patients were not

significantly different from those of healthy people There was no significant correlation between the lipid profiles

and risk factors, and induration in psoriatic patients The correlation between LDL and PASI was significant (p =

* Bộ môn Da Liễu – ĐHYD TP HCM

Tác giả liên lạc: PGS.TS Nguyễn Tất Thắng ĐT: 0903350104 Email:

thangngtat@yahoo.com

Trang 2

0.02)

Conclusion: It is necessary to do screening and treatment of hyperlipidaemia early in patients with psoriasis

to prevent the atherosclerosis and its complications

Key words: lipid profiles, psoriasis

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vẩy nến là một bệnh da viêm mạn tính ảnh

hưởng đến hơn 2% dân số, đặc trưng bởi sự

tăng sinh tế bào sừng và tẩm nhuận viêm lớp bì

và thượng bì Bệnh có thể liên quan đến sự gia

tăng bệnh suất và tử suất của các biến cố tim

mạch, đặc biệt là ở những trường hợp vẩy nến

nặng và kéo dài(7) Tuy nhiên cơ chế bệnh sinh

của những trường hợp xơ vữa huyết khối trên

bệnh nhân vẩy nến vẫn còn đang được nghiên

cứu làm rõ thêm Có nhiều yếu tố như nồng độ

lipid và lipoprotein bất thường, tăng stress oxy

hóa, giảm khả năng chống oxy hóa(12,15) và

những yếu tố nguy cơ khác như tăng huyết áp,

béo phì, tiểu đường liên quan đến vẩy nến

Đã có một số nghiên cứu trên bệnh nhân vẩy

nến cho thấy sự biến đổi nồng độ các lipid gây

xơ vữa mạch như tăng triglyceride, tăng

cholesterol toàn phần, tăng LDLc (low-density

lipoprotein cholesterol), tăng VLDLc

(very-low-density lipoprotein cholesterol), và giảm nồng

độ HDLc (high-density lipoprotein

cholesterol)(1,7,10,11,12,15)

Theo hiểu biết của chúng tôi, hiện chưa có

nghiên cứu nào về vấn đề trên tại Việt Nam, vì

vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu so sánh

nồng độ lipid máu trên bệnh nhân vẩy nến so

với người bình thường khỏe mạnh Nghiên cứu

này giúp đánh giá nồng độ lipid máu trên bệnh

nhân vẩy nến tại Việt Nam, từ đó giúp ích trong

việc tầm soát và điều trị sớm rối loạn lipid máu

nhằm phòng ngừa xơ mỡ động mạch trên bệnh

nhân vẩy nến, cải thiện tiên lượng sống và chất

lượng cuộc sống cho bệnh nhân

Mục tiêu nghiên cứu

Tổng quát

Khảo sát nồng độ lipid máu trên bệnh nhân

vẩy nến tại bệnh viện Da Liễu thành phố Hồ Chí Minh từ 01/12/2009 đến 31/05/2010

Chuyên biệt

So sánh nồng độ lipid máu (cholesterol toàn phần, triglyceride, LDL, HDL) của bệnh nhân vẩy nến với người bình thường

Xác định mối liên quan giữa nồng độ lipid máu với các yếu tố nguy cơ, và với một số đặc điểm lâm sàng như thời gian bệnh, độ nặng của bệnh trên bệnh nhân vẩy nến

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang phân tích

Đối tượng nghiên cứu

Dân số đích

Tất cả bệnh nhân vảy nến

Dân số mục tiêu

Tất cả bệnh nhân vẩy nến đến khám hay nhập viện điều trị tại bệnh viện Da Liễu thành phố Hồ Chí Minh từ 01/12/2009 đến 31/5/2010

Cỡ mẫu

n = 50

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Tiêu chí chọn vào

Không thuộc tiêu chí loại trừ

Nhóm bệnh: bệnh nhân đến khám hay nhập

viện tại bệnh viện Da liễu thành phố Hồ Chí Minh, được chẩn đoán vẩy nến (dựa vào lâm sàng và giải phẫu bệnh)

Nhóm người bình thường: những người

muốn kiểm tra lipid máu và tình nguyện tham gia nghiên cứu, được chọn từ cán bộ, nhân viên, học viên đang làm việc hay học tập tại

Trang 3

bệnh viện Da Liễu thành phố Hồ Chí Minh

hay những người đến điều trị thẫm mỹ da

(đốt nốt ruồi, triệt lông…) tại bệnh viện Da

Liễu thành phố Hồ Chí Minh

Nhóm người bình thường được chọn bắt cặp

với nhóm bệnh về tuổi và giới tính

Tiêu chí loại trừ

Không đồng ý tham gia nghiên cứu

Người có bệnh gây tăng lipid máu thứ phát

như: nhược giáp, tiểu đường, hội chứng thận

hư, suy thận mạn, bệnh mô liên kết

Trong vòng 6 tháng trở lại có sử dụng các

thuốc: ức chế beta, thiazide, corticosteroid,

retinoids, cyclosporine, và những thuốc hạ lipid

máu

Chỉ số khối cơ thể (BMI) >30..

Có thai hoặc đang cho con bú

Phương pháp chọn mẫu

Liên tục, không ngẫu nhiên và không xác

suất

Phân tích số liệu

Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS

16.0

Cách tiến hành nghiên cứu

Bệnh nhân được làm bệnh án theo mẫu

chung, chú ý đến tiền sử và bệnh sử, những

thuốc đã và đang sử dụng, hoạt động thể lực,

uống rượu bia, hút thuốc lá

Máu tĩnh mạch được lấy buổi sáng lúc đói

(bữa ăn cuối cách 12 tiếng) để đo nồng độ

triglyceride, cholesterol toàn phần và HDL

Nồng độ LDL được tính theo công thức:

VLDL = triglyceride/5; LDL = cholesterol TP –

(VLDL + HDL)

Xét nghiệm giải phẫu bệnh và nồng độ lipid

máu tiến hành tại Khoa Xét nghiệm – BV Da liễu

TP HCM

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm dịch tễ và yếu tố nguy cơ

Bảng 1: Đặc điểm dịch tễ va yếu tố nguy cơ của đối

tượng nghiên cứu

(n = 50)

Nhóm người bình thường (n = 50)

So sánh

Giới Nam 37 (74%) 37 (74%) Không

khác biệt

Nữ 13 (26%) 13 (26%) Tuổi 40,76 ±

14,34 (từ 15 – 80)

40,20 ± 10,53 (từ 17 – 65)

p = 0,82

Huyết áp tâm thu (mmHg)

< 140 41 (82%) 46 (92%) p = 0,14

140 – 159 8 (16%) 4 (8%)

> 160 1 (2%) 0 (0%) Huyết áp tâm trương (mmHg)

< 90 40 (80%) 45 (90%) p = 0,16

90 – 99 10 (20%) 5 (10%) BMI (kg/m2) 21,53 ± 2,9

(từ 16 – 28)

22,34 ± 2,8 (từ

17 – 30)

p = 0,16 Hoạt động thể lực

Không đều 30 (60%) 31 (62%) p = 0,5

1 lần/tuần 4 (8%) 7 (14%)

> 1 lần/tuần 16 (32%) 12 (24%)

Ht thuốc l Không bao giờ 23 (46%) 28 (56%) p = 0,31 Hàng ngày 19 (38%) 11 (22%)

Thỉnh thoảng 3 (6%) 6 (12%) Trước đây (đã bỏ) 5 (10%) 5 (10%) Uống rượu, bia

Không bao giờ 22 (44%) 19 (38%) p = 0,18

1 lần/tháng 5 (10%) 12 (24%)

2 – 4 lần/tháng 12 (24%) 14 (28%)

2 – 3 lần/tuần 9 (18%) 3 (6%)

> 3 lần/tuần 2 (4%) 2 (4%) Nhận xét: các đặc điểm chung giữa 2 nhóm

khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Một số đặc điểm liên quan đến bệnh vẩy nến

Thời gian bệnh

Thời gian bệnh trung bình là 7,48 ± 6,52 năm, trong đó bệnh nhân mắc bệnh kéo dài ít nhất là

1 năm, nhiều nhất là 27 năm

Chỉ số PASI

Từ 2,7 đđến 37,3 và trung bình: 18,88 ± 10,18 Phân loại: múc độ nhẹ: 15 bệnh (30%), mức

độ vừa: 35 bệnh (70%)

Phân loại lâm sàng

Trang 4

Vẩy nến mảng: 38 (76%), vẩy nến giọt: 2

(4%), vẩy nến mủ: 4 (8%), đỏ da toàn thân do

vẩy nến: 6 (12%)

So sánh nồng độ lipid máu giữa bệnh nhân

vẩy nến và người bình thường

Bảng 2: So sánh nồng độ lipid máu giữa bệnh nhân

vẩy nến và người bình thường

Loại lipid

(mmol/dl)

Nhóm vẩy nến (n = 50)

Nhóm người bình thường (n = 50)

So sánh

Triglyceride 1,64 ± 0,98 1,23 ± 0,73 p = 0,02

Cholesterol TP 4,15 ± 1,16 4,26 ± 0,95 p = 0,61

HDL 1,36 ± 0,65 1,84 ± 0,77 p = 0,001

LDL 2,04 ± 1,20 1,86 ± 0,98 p = 0,41

Nhận xét: nồng độ triglyceride nhóm bệnh

cao hơn nhóm người bình thường có ý nghĩa

thống kê (p = 0,02); nồng độ HDL nhóm bệnh

thấp hơn nhóm người bình thường có ý nghĩa

thống kê (p = 0,001)

Mối liên quan giữa nồng độ lipid máu và thời

gian bệnh

Bảng 3: Nồng độ lipid máu ở bệnh nhân vẩy nến theo

thời gian bệnh

Loại lipid

(mmol/dl)

Nhóm I

(# 2 năm)

n = 16

Nhóm II (> 2 – 9 năm)

n = 18

Nhóm III (> 9 năm)

n = 16

So sánh

Triglyceride 1,59 ± 0,61 1,98 ± 1,44 1,32 ± 0,42 p = 0,14

Cholesterol

TP

3,91 ± 0,98 4,30 ± 1,02 4,23 ± 1,49 p = 0,60

HDL 1,38 ± 0,58 1,63 ± 0,85 1,05 ± 0,22 p = 0,049

LDL 1,81 ± 1,04 1,77 ± 1,01 2,58 ± 1,42 p = 0,09

Nhận xét: nồng độ lipid máu giữa các

khoảng thời gian bệnh khác biệt không có ý

nghĩa thống kê (p > 0,05)

Mối liên quan giữa nồng độ lipid máu và độ

nặng của bệnh

Bảng 4: Nồng độ lipid máu ở bệnh nhân vẩy nến theo

độ nặng của bệnh (chỉ số PASI)

Loại lipid

(mmol/dl)

Nhẹ (PASI:

0,1 – 10,9)

n = 15

Vừa (PASI: 11 – 49,9)

n = 35

So sánh

Triglyceride 1,44 ± 0,50 1,73 ± 1,12 p = 0,98 Cholesterol TP 3,69 ± 0,87 4,35 ± 1,23 p = 0,06 HDL 1,62 ± 0,88 1,25 ± 0,51 p = 0,12 LDL 1,42 ± 0,80 2,31 ± 1,25 p = 0,02

Nhận xét: nồng độ LDL nhóm mức độ vừa

cao hơn nhóm mức độ nhẹ có ý nghĩa thống kê

(p = 0,02)

Mối liên quan giữa nồng độ lipid máu với các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân vẩy nến

Bảng 5: Lipid máu và HA tâm thu

(mmol/dl)

so sánh

Triglyceride <140 41 1,61 ± 0,98 p = 0,76

140-159 8 1,83 ± 1,05 Cholesterol <140 41 4,12 ± 1,18 p = 0,78

140-159 8 4,19 ± 1,18 LDL <140 41 2,05 ± 1,19 p = 0,98

140-159 8 1,96 ± 1,36 HDL <140 41 1,33 ± 0,66 p = 0,35

140-159 8 1,39 ± 0,56

Nhận xét: Nồng độ lipid máu ở bệnh nhân vẩy nến giữa các mức huyết áp tâm thu khác biệt không có ý nghĩa thống kê

Bảng 6: Lipid máu và HA tâm trương

trương

N Nồng độ (mmol/dl)

so sánh

triglyceride <90 40 1,66 ± 1,08 p = 0,71 90-99 10 1,54 ± 0,36 cholesterol <90 40 4,14 ± 1,21 p = 0,98 90-99 10 4,16 ± 0,99 LDL <90 40 1,92 ± 1,25 p = 0,62 90-99 10 2,20 ± 1,00 HDL <90 40 1,39 ± 0,68 p = 0,54 90-99 10 1,24 ± 0,51

Nhận xét: Nồng độ lipid máu ở bệnh nhân vẩy nến giữa các mức huyết áp tâm trương khác biệt không có ý nghĩa thống kê

Bảng 7: Lipid máu và BMI

(mmol/dl)

So sánh

Triglyceride <25 44 1,67 ± 1,02 p = 0,56

>25 6 1,42 ± 0,55 Cholesterol <25 44 4,18 ± 1,20 p = 0,55

>25 6 3,88 ± 0,80 LDL <25 44 2,00 ± 1,24 p = 0,57

>25 6 2,30 ± 0,87 HDL <25 44 1,42 ± 0,67 p = 0,08 >25 6 0,93 ± 0,21

Trang 5

Nhận xét: Nồng độ lipid máu ở bệnh nhân

vẩy nến giữa nhóm có BMI <25 và nhóm có BMI

>25 khác biệt không có ý nghĩa thống kê

Bảng 8: Lipid máu và uống rượu bia

RƯỢU

ĐỘ(mmol/dl)

SO SÁNH

TRIGLYCERID

E

Không 22 1,43 ± 0,52 p = 0,35

Có 28 2,07 ± 1,34

CHOLESTER

OL

Không 22 4,23 ± 1,30 p = 0,52

Có 28 4,64 ± 1,12

LDL Không 22 2,34 ± 1,28 p = 0,91

Có 28 2,28 ± 1,48

HDL Không 22 1,23 ± 0,38 p = 0,40

Có 28 1,42 ± 0,66

Nhận xét: Nồng độ lipid máu ở bệnh nhân

vẩy nến giữa người có uống và người không

uống rượu bia khác biệt không có ý nghĩa

thống kê

Bảng 9: Lipid máu và hút thuốc lá

THUỐC

(mmol/dl)

SO SÁNH

TRIGLYCERI

DE

Không 23 1,43 ± 0,51 p = 0,13

Có 27 1,82 ± 1,23

CHOLESTER

OL

Không 23 4,33 ± 1,25 p = 0,29

Có 27 3,99 ± 1,07

LDL Không 23 2,27 ± 1,30 p = 0,20

Có 27 1,83 ± 1,08

HDL Không 23 1,41 ± 0,76 p = 0,63

Có 27 1,32 ± 0,55

Nhận xét: Nồng độ lipid máu ở bệnh nhân

vẩy nến giữa người có hút thuốc lá và người

không hút thuốc khác biệt không có ý nghĩa

thống kê

* Lipid máu và hoạt động thể lực

Nồng độ lipid máu ở bệnh nhân vẩy nến

giữa các mức độ hoạt động thể lực khác biệt

không có ý nghĩa thống kê

BÀN LUẬN

Các đặc điểm dịch tễ và yếu tố nguy cơ

(tuổi, giới tính, huyết áp, chỉ số khối cơ thể,

BMI, hoạt động thể lực, hút thuốc lá, uống rượu

bia) được phân tích ở trên có thể ảnh hưởng đến

cả bệnh vẩy nến lẫn kết quả nồng đô lipid máu

của các đối tượng nghiên cứu Sự phân bố các đặc điểm trên giữa nhóm bệnh vẩy nến và nhóm người bình thường trong nghiên cứu của chúng tôi không thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

(Bảng 1) Do vậy chúng tôi có thể so sánh nồng

độ lipid máu giữa 2 nhóm với sự hạn chế tối đa các yếu tố gây nhiễu Tuy nhiên cũng có thể do

cỡ mẫu nghiên cứu chưa đủ lớn, nên nếu có điều kiện chúng ta có thể tiến hành nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn để kết quả nghiên cứu có giá trị và độ tin cậy cao hơn

Trong số 5 loại lipid máu được xét nghiệm, nồng độ triglyceride của nhóm bệnh cao hơn nhóm người bình thường, trong khi nồng độ HDL nhóm bệnh thấp hơn nhóm người bình thường có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Nồng độ cholesterol TP và LDL không có sự khác biệt có

ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Mặc dù sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê nhưng nồng độ cholesterol TP nhóm bệnh lại hơi thấp so với

nhóm người bình thường (Bảng 2)

Có nhiều nghiên cứu về nồng độ lipid máu trên bệnh nhân vẩy nến so với người bình thường khỏe mạnh nhưng cho kết quả không thống nhất Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của các trị số lipid máu giữa bệnh nhân vẩy nến và người bình thường thay đổi theo từng nghiên

cứu ở khắp nơi trên thế giới (Bảng 10) như: khác

biệt về nồng độ cholesterol TP có ý nghĩa(1,6,7,12), khác biệt về nồng độ LDL có ý nghĩa(16,13), giảm HDL có ý nghĩa của nhóm bệnh so với nhóm người bình thường(27), khác biệt có ý nghĩa của

nghiên cứu cho kết quả không có sự khác biệt về nồng độ lipid máu giữa nhóm vẩy nến và nhóm người bình thường(3,4) Những kết quả không nhất quán kể trên có thể do sự biến đổi nhanh chóng nồng độ lipid máu và ảnh hưởng của chế

độ ăn, theo mùa, chủng tộc, di truyền, hormone cũng như những yếu tố khác chưa biết rõ Và không một nghiên cứu nào có thể kiểm soát hết tất cả các yếu tố này

Trang 6

Bảng 10: Một số nghiên cứu về nồng độ lipid máu ở bệnh nhân vẩy nến

Tăng Triglyceride Tăng Cholesterol TP Tăng VLDL Tăng LDL Giảm HDL

FarshchianM (2007)(3) Không có sự biến đổi nồng độ các loại lipid máu

Feretti G (1993)(4)

Gisondi P (2007)(5) X

Nồng độ các lipid máu của bệnh nhân vẩy

nến xét theo các yếu tố nguy cơ là huyết áp tâm

thu, huyết áp tâm trương, chỉ số khối cơ thể

BMI, hoạt động thể lực, tình trạng hút thuốc lá

và uống rượu bia trong nghiên cứu của chúng

tôi là khác biệt không có ý nghĩa thống kê (Bảng

5, 6, 7, 8, 9) Ở bệnh nhân vẩy nến, ngoài bất

thường lipid máu còn có thêm nhiều yếu tố

nguy cơ môi trường khác góp phần vào việc làm

tăng biến cố tim mạch như các yếu tố nguy cơ

mà chúng tôi vừa khảo sát (hút thuốc lá, ít vận

động thể lực, uống nhiều rượu, BMI, tăng huyết

áp) Qua kết quả trên ta thấy những yếu tố này

trong nghiên cứu của chúng tôi không ảnh

hưởng đến kết quả nồng độ các lipid máu của

bệnh nhân vẩy nến Do vậy người ta cho rằng

bất thường lipid máu trên bệnh nhân vẩy nến có

lẽ do di truyền quyết định hơn là do mắc phải

Nồng độ lipid máu giữa các khoảng thời

gian bệnh khác biệt không có ý nghĩa thống kê

(Bảng 3) Điều này có nghĩa là không có sự liên

quan giữa nồng độ các loại lipid máu với thời

gian bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi Kết

quả này tương đương với một số nghiên cứu

Reynoso(11), Zari(16) Trong một nghiên cứu tại

Iran, chỉ LDL có mối liên quan với thời gian

bệnh(1) Thời gian bệnh trong nghiên cứu của

chúng tôi thay đổi từ 3 tháng đến 27 năm, trung

bình là 7,48 năm với độ lệch chuẩn 6,52 năm

Điều này cho thấy khoảng thời gian bệnh thay đổi khác nhau giữa các bệnh nhân là tương đối lớn nên khó có thể phát hiện mối liên quan giữa nồng độ các loại lipid máu theo thời gian bệnh Vẩy nến là bệnh da viêm mang tính di truyền phức tạp, cơ chế sinh bệnh vẫn chưa được biết rõ Một số tác giả cho rằng vẩy nến, giống như xơ vữa động mạch), là một bệnh tự miễn Hiện nay có rất nhiều bằng chứng lâm sàng và thực nghiệm ủng hộ vai trò quan trọng của tế bào T trong sinh bệnh học của vẩy nến và

xơ vữa động mạch Lâm sàng của 2 bệnh đều là hiện tượng viêm có thể do các cytokine tế bào T, đặc trưng cho đáp ứng của tế bào T-helper 1 Chính xác kháng nguyên nào khởi phát vẩy nến vẫn chưa được xác định Tuy nhiên gần đây người ta thấy vai trò của bất thường lipid tự nó cũng tác động lên hệ thống miễn dịch Các tự kháng thể chống LDL oxy hóa đã được tìm thấy trong bệnh vẩy nến Theo những khám phá này, bất thường lipid trong bệnh vẩy nến vừa khởi phát hiện tượng xơ vữa động mạch vừa phát triển và duy trì phản ứng viêm tại da Điều thú

vị là nồng độ kháng thể chống LDL oxy hóa có tương quan với độ nặng của bệnh thông qua chỉ

số PASI(15) Điều này phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi (Bảng 4), cũng cho thấy mối liên quan giữa nồng độ LDL với chỉ số PASI, dẫn đến giả thuyết về vai trò của LDL trong độ nặng

Trang 7

của bệnh Ngoài LDL ra, nồng độ các loại lipid

khác (triglyceride, cholesterol TP, HDL, VLDL)

không có sự liên quan với PASI

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu nồng độ lipid máu trên

bệnh nhân vẩy nến tại bệnh viện Da Liễu thành

phố Hồ Chí Minh bằng nghiên cứu cắt ngang

trên 50 đối tượng, trong thời gian từ tháng

01/12/2009 đến tháng 31/05/2010, chúng tôi rút ra

một số kết luận sau:

Một số đặc điểm lâm sàng ghi nhận được

qua nghiên cứu này

Đa số đối tượng có tuổi trung bình là 40

tuổi

Nam chiếm tỉ lệ cao hơn nữ (74% so với

26%)

Tuổi khởi phát bệnh trung bình là 33 tuổi

Các đặc điểm về huyết áp, hoạt động thể

lực, thói quen hút thuốc lá, uống rượu bia và

BMI của nhóm bệnh vẩy nến và nhóm người

bình thường khá tương đồng với nhau

Một số đặc điểm liên quan đến nhóm bệnh

vẩy nến

Thể bệnh: đa số là vẩy nến mảng (76%)

Thời gian bệnh trung bình là 7,48 năm

Độ năng tính theo chỉ số PASI: đa số là độ

nặng trung bình (70%)

So sánh nồng độ lipid máu giữa nhóm

bệnh vẩy nến và nhóm người bình thường

Tăng nồng độ triglyceride ở bệnh nhân vẩy

nến

Giảm nồng độ HDL ở bệnh nhân vẩy nến

Không có sự thay đổi nồng độ Cholesterol

TP, LDL

Mối liên quan giữa nồng độ lipid máu của

bệnh nhân vẩy nến và các yếu tố cơ bản

Nồng độ lipid máu của bệnh nhân vẩy nến

không liên quan đến các yếu tố nguy cơ như

huyết áp, tình trạng hoạt động thể lực, hút thuốc

lá và uống rượu bia

Mối liên quan giữa nồng độ lipid máu của bệnh nhân vẩy nến và thời gian bệnh

Nồng độ lipid máu của bệnh nhân vẩy nến không liên quan đến thời gian bệnh

Mối liên quan giữa nồng độ lipid máu của bệnh nhân vẩy nến và độ nặng của bệnh

Nồng độ LDL có liên quan đến độ nặng của bệnh vẩy nến

Nồng độ các loại lipid máu khác (cholesterol

TP, HDL, triglyceride) không có liên quan đến

độ nặng của bệnh

KIẾN NGHỊ

Qua nghiên cứu chúng tôi thấy có sự biến đổi nồng độ các loại lipid máu gây xơ vữa mạch trên bệnh nhân vẩy nến nên các bệnh nhân vẩy nến cần được tầm soát và điều trị sớm rối loạn lipid máu nhằm phòng ngừa xơ mỡ động mạch

và các biến chứng của nó

Ngoài ra, nếu có điều kiện chúng ta nên tiến hành thêm những nghiên cứu sâu hơn về hội chứng chuyển hóa, yếu tố nguy cơ tim mạch trên bệnh nhân vẩy nến ở Việt Nam cũng như đánh giá vai trò của các thuốc hạ lipid máu trên diễn tiến lâm sàng của bệnh, từ đó có thể áp dụng để cải thiện tiên lượng và chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân vẩy nến

Đối với bệnh nhân vẩy nến cần giáo dục cho

họ biết những rối loạn lipid máu liên quan đến bệnh để khám bệnh theo dõi định kì, điều trị kịp thời và triệt để

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Akhyani M, Ehsani AH, Robati RM, Robati AM (2007), “The lipid profile in psoriasis: a controlled study”, J Eur Acad Dermatol Venereol, (21), pp 1330-1332

2 Cohen AD, Sherf M, Vidavsky L, Vardy DA, Shapiro J, Meyerovitch J (2008), “Association between psoriasis and the metabolic syndrome”, Dermatology, (216), pp 152–155

3 Farshchian M, Zamanian A, Farshchian M, Monsef AR, Mahjub

H (2007), “Serum lipid level in Iranian patients with psoriasis”, (21), pp 802–805

4 Feretti G, Simonetti O, Offidani AM, et al (1993), “Changes of plasma lipids and erythrocyte membrane fluidity in psoriatic children”, Pediatr Res, 33 (5), pp 506–509

5 Gisondi P, Tessari G, Conti A, Kane D, Lowe G, McInnes IB (2007), “Prevalence of metabolic syndrome in patients with

Trang 8

psoriasis: a hospital-based case-control study”, Br J Dermatol,

(157), pp 68–73

6 Javidi Z, Meibodi NT, Nahidi Y (2007), “Serum lipids

abnormalities nd psoriasis”, Indian J Dermatol, (52), pp 89–92

7 Mallbris Let al (2006), “Psoriasis is associated with lipid

abnormalities at the onset of skin disease”, J Am Acad Dermatol,

(54), pp.614-621

8 Pietrzak A, Kadzielewski J, Janowski K, et al (2009),

“Lipoproteid (a) in patients with psoriasis: association with lipid

profiles and disease severity”, Int J Dermatol, (48), pp 379–387

9 Pietrzak A, Jastrzebska I, Krasowska D et al (2006), “Serum

pancreatic lipase [EC 3.1.1.3] activity, serum lipid profile and

peripheral blood dendritic cell populations in normolipidemic

males with psoriasis”, J Mol Catal B Enzym, (40), pp 144–154

10 Piskin S, Gurkok F, Ekuklu G, Senol M (2003), “Serum lipid

levels in psoriasis”, Yonsei Med J, (44), pp 24-26

11 Reynoso von Drateln et al (2003), “Lipid profile, insulin

secretion, and insulin sensitivity in psoriasis”, J Am Acad

Dermatol, (48), pp 882-855

12 Rocha-Pereira P, Santos-Silva A, Rebelo I, Figueiredo A, Quintanilha A, Teixeira F (2001), “Dyslipidemia and oxidative stress in mild and in severe psoriasis as a risk for cardiovascular disease”, Clin Chim Acta, (303), pp 33-39

13 Tam LS, Tomlinson B, Chu TTW, et al (2008), “Cardiovascular risk profile of patients with psoriatic arthritis compared to controls – the role of inflammation”, Rheumatology, (47), pp 718–723

14 Tarek A., El Saied, Said Hammad Abdou (2005),

“Atherosclerotic Risk in Psoriasis”, Journal of PALD, 16 (2), pp 39-45

15 Vannizor Kural B, Orem A, Cimsit G, Yandi YE, Calapoglu M (2003), “Evaluation of the atherogenic tendency of lipids and lipoprotein content and their relationships with oxidant-antioxidant system in patients with psorisis”, Clin Chim Acta, (328), pp.71-82

16 Zari J, Naser Tayyibi M, Yalda N, (2009) “Serum lipids abnormalities and psoriasis”, Journal of the European Academy

of Dermatology and Venereology, (23), pp 461-462

Ngày đăng: 21/01/2020, 15:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm