Mục tiêu: lượng giá mức độ phù đĩa thị trên siêu âm B và optical coherence tomography (OCT), đối chiếu với soi đáy mắt trực tiếp. Phương pháp: Khảo sát trên 25 bệnh nhân, mỗi mắt có phù đĩa thị được đánh giá mức độ phù đĩa thị qua đèn soi đáy mắt trực tiếp, siêu âm B và OCT. Sau đó so sánh các kết quả này với nhau.
Trang 1LƯỢNG GIÁ MỨC ĐỘ PHÙ ĐĨA THỊ TRÊN SIÊU ÂM B
VÀ OPTICAL COHERENCE TOMOGRAPHY
Lê Minh Thông*, Nguyễn Thị Vân Yến*
TÓM TẮT
Mục tiêu: lượng giá mức độ phù đĩa thị trên siêu âm B và optical coherence tomography (OCT), đối
chiếu với soi đáy mắt trực tiếp
Phương pháp: Khảo sát trên 25 bệnh nhân, mỗi mắt có phù đĩa thị được đánh giá mức độ phù đĩa
thị qua đèn soi đáy mắt trực tiếp, siêu âm B và OCT Sau đó so sánh các kết quả này với nhau
Kết quả: Giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của mức độ phù đĩa thị lượng giá qua soi đáy mắt là
4.23 ± 1.21 (Dioptre), trên siêu âm B là 1.18 ± 0.33 (mm), trên OCT là 446.46 ± 102.38 (μm) Mức độ phù đĩa thị trên siêu âm B và OCT tương quan thuận với nhau khá mạnh (r = 0.854, p <0.0001)
Kết luận: Siêu âm B và OCT tương quan với nhau trong lượng giá mức độ phù đĩa thị
SUMMARY
EVALUATION OF OPTIC DISC WELLING BY USING ULTRASONOGRAPHY
AND OPTICAL COHERENCE TOMOGRAPHY
Le Minh Thong, Nguyen Thi Van Yen
*Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 9 * Supplement of No 1 * 2005: 84 – 87
Purpose To evaluate the measurement of optic disc swelling by using the ultrasonography B-scan
and OCT, compared with the direct ophthalmoscopy
Methods One eye of 25 patients with optic disc swelling underwent ophthalmoscopy,
ultrasonography B-scan and OCT B-scan and OCT measurements were compared with each other and with the readings by using the ophthalmoscopy
Results.The measurements are 4.23 ± 1.21 (Dioptre), 1.18 ± 0.33 (mm) (mean ± 2SD), 446.46 ±
102.38 (μm) for using the direct ophthalmoscopy, ultrasonography B-scan and OCT, respectively Utrasonographic readings were positively correlated with OCT measurements (r = 0.854, p <0.0001)
Conclusions The results indicate that US and OCT are correlated in optic disc swelling
Trên lâm sàng, bệnh nhân có phù đĩa thị thường
được phát hiện dễ dàng qua soi đáy mắt Nhưng đôi
khi người thầy thuốc thăm khám cho những bệnh
nhân môi trường quang học bị đục, việc soi đáy mắt
trở nên rất khó khăn hoặc bệnh nhân không hợp tác
tốt Từ năm 1991 đến nay, OCT cho hình ảnh cắt
ngang mô học có độ phân giải cao được sử dụng để
khảo sát các cấu trúc khác nhau của nhãn cầu, đặc
biệt rất hữu ích trong đánh giá bệnh lý hoàng điểm,
glaucoma, và những bệnh lý thị thần kinh(5) Siêu âm
B được ứng dụng vào lĩnh vực nhãn khoa từ năm
1958 cho đến nay, đây vẫn luôn là một kỹ thuật chẩn đoán cho phép khảo sát nhãn cầu trong nhiều bệnh lý, kể cả khi môi trường quang học bị đục; và có thể thực hiện lặp lại nhiều lần vì siêu âm được xem là vô hại, giá thành thấp, thao tác dễ dàng Vậy kết quả thu được của hai phương pháp này tương quan như thế nào trong lượng giá mức độ phù đĩa thị?
* Bộ môn Mắt - ĐH Y Dược TP HCM
Trang 2Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát
Lượng giá mức độ phù đĩa thị trên siêu âm B và
OCT tại khoa Thần kinh nhãn khoa – Bệnh viện Mắt
thành phố Hồ Chí Minh; từ tháng 9/2003 đến tháng
7/2004
Mục tiêu chuyên biệt
* Mô tả các đặc trưng lâm sàng của phù đĩa thị
theo nguyên nhân
*Xác định các tương quan trên mắt có phù đĩa
thị:
- Thị lực và mức độ phù đĩa thị qua các phương
pháp lượng giá
- Mức độ phù đĩa thị trên siêu âm B, trên OCT và
chênh lệch Diop qua soi đáy mắt
*Nêu ưu điểm, nhược điểm của siêu âm B và
OCT trong chẩn đoán phù đĩa thị
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhân có phù đĩa thị đến khám và điều
trị tại khoa Thần kinh nhãn khoa – Bệnh viện Mắt
thành phố Hồ Chí Minh, từ tháng 9/2003 đến tháng
7/2004
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Bệnh nhân được phát hiện có phù đĩa thị qua soi
đáy mắt
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
Môi trường quang học không trong suốt
Bệnh nhân không hợp tác
Bệnh nhân không thể định thị được
Không được thăm khám đầy đủ gồm: soi đáy
mắt, siêu âm B và OCT
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả, có phân tích
Kỹ thuật nghiên cứu
Đo thị lực với bảng thị lực Snellen Thăm khám bằng sinh hiển vi Đánh giá đĩa thị phù qua đèn soi đáy mắt trực tiếp bằng Trên mỗi lát cắt, chọn 1 hình ảnh siêu âm cho thấy đĩa thị nhô cao nhất mức độ chênh lệch Diop
Đo kích thước đĩa thị nhô cao nhất trên siêu âm
B ở lát cắt ngang đứng và lát cắt dọc ở vị trí 3h cho mắt phải hoặc vị trí 9h cho mắt trái Kích thước đĩa thị nhô được đo từ nơi đĩa thị nhô vào dịch kính cao nhất đến nơi có echo phản xạ có cường độ cao biểu hiện vị trí của lá sàng(6)
Chụp OCT: đo độ dày võng mạc cao nhất quanh đĩa thị ở 4 vị trí: phía mũi, phía dưới, phía thái dương, và phía trên qua hai lát cắt ngang và dọc của đường
kính đĩa thị Độ dày võng mạc đĩa thị được đo bằng
đoạn thẳng vuông góc từ biểu mô sắc tố của võng mạc ngay sát bờ đĩa thị đến màng giới hạn trong(3) Ghi nhận các số liệu vào phiếu nghiên cứu Xử lý số liệu bằng máy vi tính với phần mềm SPSS 11.5
KẾT QUẢ
Chúng tôi khảo sát được 43 mắt trên 25 bệnh nhân Các nguyên nhân gây phù đĩa thị được ghi nhận gồm có: hội chứng Vogt – Koyanagi – Harada (10 mắt), viêm gai thị (7mắt), bệnh lý thiếu máu đầu thị thần kinh (12 mắt), viêm võng mạc – thần kinh (3 mắt), u giả não (6 mắt), viêm màng bồ đào sau (4 mắt), viêm củng mạc sau (1 mắt)
Thị lực trung bình: 0.35 ± 0.31 (0.1 – 1) Giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của mức độ phù đĩa thị lượng giá qua soi đáy mắt là4.23 ± 1.21 (Diop), trên siêu âm B là 1.18 ± 0.33 (mm), trên OCT là 446.46 ± 102.38 (μm)
Các tương quan:
Hệ số tương quan giữa thị lực và mức độ phù đĩa thị qua soi đáy mắt, siêu âm B, OCT lần lượt là -0.179, -0.188, -0.175 (p>0.05)
Trang 3Hệ số tương quan giữa các phương pháp lượng
giá phù đĩa thị:
Mức độ phù đĩa thị trên siêu âm B và chênh lệch
Diop qua soi đáy mắt: r = 0.84, p<0.0001 Phương
trình hồi quy: y = 0.218x + 0.271 (3≤ x ≤ 6)
Độ dày võng mạc đĩa thị trên OCT và chênh lệch
Diop qua soi đáy mắt: r = 0.897, p<0.0001 Phương
trình hồi quy: y = 87.827x + 69.125 (2≤ x ≤ 6)
Mức độ phù đĩa thị trên siêu âm B và độ dày võng
mạc đĩa thị trên OCT: r = 0.854, p<0.0001 Phương
trình hồi quy: y = 305.062x + 80.14 (0.5≤ x ≤ 1.6)
Soi đáy mắt
Siêu âm B Lá sàng
Biểu mô sắc tố
Các mốc lượng giá mức độ phù đĩa thị
Hình 1: Tương quan giữa mức độ phù đĩa thị trên
siêu âm B và OCT
BÀN LUẬN
Mối tương quan giữa thị lực và mức độ
phù đĩa thị
Tương quan giữa mức độ phù đĩa thị và thị lực là
tương quan nghịch, có nghĩa là mắt có đĩa thị phù
nhiều thì thị lực sẽ thấp; nhưng mức độ tương quan
này rất thấp (R = - 0.188 → - 0.175), không có ý
nghĩa thống kê (P value > 0.05) Điều này có thể giải
thích: thị lực giảm không chỉ do đĩa thị phù gây chèn
ép, giảm nuôi dưỡng dẫn đến tổn hại lớp sợi thần
kinh, mà còn có thể do những tổn thương vùng
hoàng điểm đi kèm Một số trường hợp viêm gai thị
mất myelin nên dẫn truyền các xung thần kinh kém
Hoặc những mắt phù đĩa thị do bệnh lý thần kinh thị
thiếu máu có hiện tượng tắc nghẽn đột ngột các
mạch máu nuôi dưỡng đầu thị thần kinh
Đối với những trường hợp u giả não, bệnh nhân
có phù đĩa thị nhưng thị lực khi đến khám vẫn còn tốt 10/10 Theo một số nghiên cứu trước đây, khả năng mất thị lực ở những bệnh nhân này là có thật và đề nghị cần theo dõi một cách thường xuyên hơn để phát hiện những thay đổi về chức năng cũng như về hình thái của thị thần kinh(1,4)
Sự tương quan giữa các phương pháp lượng giá mức độ phù đĩa thị
Sự chênh lệch Diop qua soi đáy mắt và mức độ phù đĩa thị trên siêu âm B tương quan thuận khá mạnh với R = 0.84 (P value < 0.0001) Chênh lệch Diop qua soi đáy mắt và độ dày võng mạc đĩa thị trung bình trên OCT cũng tương quan thuận với mức độ khá mạnh; R = 0.897 (P value < 0.0001) Mức độ phù đĩa thị trên siêu âm B và độ dày võng mạc đĩa thị trên OCT tương quan thuận, với R = 0.854 (P value
< 0.0001), cho thấy mức độ tương quan khá mạnh Vậy khi soi đáy mắt đánh giá chênh lệch Diop nhiều thì trên siêu âm B và OCT cũng đo được kết quả cao
Mức độ phù đĩa thị trên siêu âm B
1.8 1.6 1.4 1.2 1.0 8 6 4
700
600
500
400
300
200
R = 0.854
P value < 0.0001
Sự khác biệt ở kết quả đo được giữa các phương pháp lượng giá còn do mốc đánh giá khác nhau Qua soi đáy mắt, chênh lệch Diop được tính bằng hiệu số đại số Diop giữa điểm nhô cao nhất và điểm thấp nhất (ở vùng võng mạc bình thường)(2) Trên siêu âm
B mức độ nhô lên của đĩa thị được tính từ lá sàng đến điểm nhô cao nhất Và trên OCT, độ dày võng mạc đĩa thị được đo bằng đoạn thẳng vuông góc với biểu mô sắc tố, có độ dài lớn nhất nối từ lớp biểu mô sắc tố tại bờ đĩa thị đến màng giới hạn trong,
Hình 2: Các mốc lượng giá mức độ phù đĩa thị
Trang 4Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005
Siêu âm B và OCT có những ưu điểm và nhược điểm riêng Nhưng dường như những nhược điểm của phương pháp này thì lại là điểm mạnh của phương pháp kia Chẳng hạn như ở những trường hợp mắt bị đục môi trường trong suốt, siêu âm B có thể khảo sát phần sau nhãn cầu rất tốt, nhưng OCT thì không thể nào thực hiện được Mặc dù vậy, đối với phù đĩa thị, siêu âm B chỉ cho biết đĩa thị phù nhiều hay ít, còn vị trí cụ thể có phù nhiều nhất trên đĩa thị thì phải dựa trên kết quả khảo sát đĩa thị của OCT Hiện nay, chất lượng cuộc sống ngày càng cao, các kỹ thuật chẩn đoán hiện đại có độ chính xác cao và không tiếp xúc (không gây khó chịu, không lây nhiễm) được ưa chuộng nhiều hơn Trong thực tế lâm sàng, một vấn đề khác luôn được đặt ra ngoài độ chính xác, sự dễ dàng khi thao tác, nhanh chóng là giá thành của xét nghiệm Một xét nghiệm giúp chẩn đoán, theo dõi bệnh nhưng có giá thành thấp, ví dụ như siêu âm, thì vẫn được các thầy thuốc ưu tiên chọn lựa
Ưu điểm - nhược điểm của siêu âm B
và OCT trong chẩn đoán phù đĩa thị
Ưu điểm
Siêu âm B
- Thực hiện được khi không thể quan sát được
đáy mắt: môi trường trong suốt bị đục, trẻ em nhỏ
không hợp tác, rung giật nhãn cầu
- Có thể lượng giá mức độ phù đĩa thị khi chênh
lệch Diop qua soi đáy mắt từ 2 Diop trở lên
- Phát hiện các bất thường khác: đục dịch kính,
dịch dưới bao Tenon, phì đại các cơ trực
- Giá thành thấp, thao tác dễ dàng Không cần
nhỏ dãn đồng tử
OCT
- Cho hình ảnh như lát cắt mô học nên có thể
khảo sát tổn thương ở từng lớp của võng mạc
- Cho phép khảo sát ở nhiều vị trí khác nhau trên
đĩa thị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Khảo sát cả vùng hoàng điểm, giúp chẩn đoán
những bệnh lý liên quan đến đĩa thị và hoàng điểm 1 Byrne SF, Green RL.: Ultrsound of the eye and orbit;
second edition, Mosby 2002, chapter 16: 412-438
- Không tiếp xúc nên không gây khó chịu cho
bệnh nhân, không lây nhiễm
Thomas publisher,third printing,1968;chapter 7 Optic nerve:123-201
Optical coherence tomography of ocular disease
Siêu âm B 4 Salgarello T, Tamburrelli C, Falsini B, Giudiceandrea
A, Colotto A Optic nerve diameters and perimetric thresholds in idiopathic intracranial hypertension Br
J Ophthamol 1996;80:509-514
Tiếp xúc vào nhãn cầu gây khó chịu cho bệnh
nhân, có thể lây nhiễm
SLACK 1999;chapter 7:95-104
Không cho biết cụ thể vị trí sưng phù nhiều nhất
Giudiceandrea A, Scullica L Ultrasonography evaluation of optic disc swelling: comparison with CSLO in Idiopathic Intracranial Hypertension Investigative Ophthalmology & Visual science, September 2000; volume 41, No 10:2960-2966
OCT
Không thể thực hiện khi môi trường trong suốt bị
đục, bệnh nhân không hợp tác tốt như rung giật
nhãn cầu, trẻ em, thị lực quá thấp, người già yếu 7 Wall M, White WN II Asymmetric papilledema in idiopathic intracranial hypertension: prospective
interocular comparison of sensory visual function Lnvest Ophthalmol Vis Sci 1998;39:134-142
Cần nhỏ dãn đồng tử để có thể quan sát tốt đĩa
thị
Giá thành cao