1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích các yếu tố liên quan đến tử vong trên bệnh nhi mắc hội chứng thực bào máu nhập Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 2007-2011

11 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 537,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định tỉ lệ tử vong của hội chứng thực bào máu trong giai đoạn tấn công (8 tuần) và các yếu tố có liên quan tới nhóm tử vong và nhóm sống.

Trang 1

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TỬ VONG

TRÊN BỆNH NHI MẮC HỘI CHỨNG THỰC BÀO MÁU

NHẬP BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 TỪ 2007 – 2011

Lâm Thị Mỹ*, Lê Bích Liên**, Nguyễn Minh Tuấn**, Phan Nguyễn Liên Anh**, Lương Thị Xuân Khánh**,

Trần Ngọc Kim Anh**, Phù Lý Minh Hương**, Lương Thùy Vân**, Nguyễn Thị Thanh An*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ tử vong của HCTB trong giai đoạn tấn công (8 tuần) và các yếu tố có liên quan tới

nhóm tử vong và nhóm sống

Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu, phân tích 97 ca HCTB dưới 15 tuổi, nhập bệnh viện Nhi Đồng 1

TPHCM từ 1/2007 đến tháng 3/2011 Tất cả bệnh nhân được điều trị với phác đồ thực bào máu 2004-HLH trong 8 tuần Kết cục điều trị có ba nhóm: nhóm tử vong để chỉ bệnh nhân tử vong trong 8 tuần đầu điều trị, trong đó nhóm tử vong sớm để chỉ bệnh nhân tử vong trong 2 tuần đầu tiên điều trị, nhóm tử vong muộn là nhóm tử vong sau 2 tuần và nhóm sống chỉ bệnh nhân còn sống sót sau 8 tuần điều trị Các dấu hiệu lâm sàng, xét nghiệm khi mới bắt đầu nhập viện và kết cục điều trị được phân tích để tìm yếu tố liên quan tới nhóm tử vong sớm và tử vong chung

Kết quả: Tỉ lệ tử vong trong giai đoạn tấn công (8 tuần) là 25,8% (25/97), trong đó tử vong sớm 2 tuần đầu

là 9,3% (9/97) Các yếu tố có liên quan tới tử vong trong giai đoạn tấn công như: tuổi nhỏ (p= 0,03), dấu hiệu xuất huyết tiêu hóa (p= 0,001), bạch cầu thấp (p=0,04), số lượng tiểu cầu thấp (p= 0,03), cấy máu dương (p= 0,03), và MRI não bất thường (p= 0,006) Các yếu tố có liên quan tới nhóm tử vong sớm so với nhóm tử vong muộn và nhóm sống thì tương tự như trên nhưng không có yếu tố tuổi nhỏ

Kết luận: Bệnh nhân HCTB có tỉ lệ tử vong cao 25,8% Các yếu tố liên quan nhóm tử vong là trẻ nhỏ, có

xuất huyết tiêu hóa, có dấu hiệu thần kinh bất thường, số lượng bạch cầu thấp, số lượng tiểu cầu thấp, và dấu hiệu MRI bất thường

Từ khóa: Hội chứng thực bào máu, nhóm tử vong sớm, nhóm tử vong muộn

ABSTRACT

ANALYSIS OF FACTORS ASSOCIATED WITH DEATH IN PATIENTS WITH HEMOPHAGOCYTIC

LYMPHOHISTIOCYTOSIS AT THE CHILDREN’S HOSPITAL N.1 HCMC

Lam Thi My, Le Bich Lien, Nguyen Minh Tuan, Phan Nguyen Lien Anh, Luong Thi Xuan Khanh,

Tran Ngoc Kim Anh, Phu Ly Minh Hương, Luong Thuy Van, Nguyen Thi Thanh An

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 3 - 2011: 1 - 11

Study objective: To identify the rate of fatality of patients with Hemophagocytic Lymphohistiocytosis

(HLH) and to analyze factors associated with death group and survival group

Methods: A retrospective study was conducted in 97 HLH patients age < 16 years, who were hospitalized

from 2007 Jan to 2011 March at The Children Hospital N1 HCMC All patients were treated with the 2004-HLH guideline for the initial period (8 weeks) The outcome of patients was classified into groups: death group, for patients who died during the initial therapy period (8 weeks), early death group for patients who died during the first 2 weeks of the initial therapy period, late death group for patients died after 2 weeks of the initial period and

* Bộ Môn Nhi-Đại Học Y Dược TPHCM ** Bệnh Viện Nhi Đồng 1 TPHCM

Tác giả liên lạc: BS Lâm Thị Mỹ, ĐT: 0918111668 Email: drlamthimy@yahoo.com

Trang 2

survival group for patients who survived after the initial period Clinical, laboratory data at the first hospitalization and outcome of HLH patients were analyzed to find factors associated death group

Results: A total of 97 patients were enrolled, with the rate of fatality in the initial period was 25.8% (25/97),

the rate of early death group was 9.3% (9/97) Factors associated with death group were: young age (p= 0.03), gastrointestinal bleeding (p= 0.001), central nervous system disorders (p=0.03),severe leucopenia(p= 0.04), thrombocytopenia (p= 0.03), positive blood culture (p=0.03) and MRI disorders (p= 0.006) Factors associated with early death group were the same but had no young age factor

Conclusion: the rate of fatality of HLH was high (25.8%) Factors associated with death group were young

age, gastrointestinal bleeding, central nervous system disorders, severe leucopenia, thrombocytopenia, and MRI disorder

Key words: Hemophagocytic lymphohistiocytosis, early death group, late death group

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội chứng thực bào máu (HCTB=

Hemophagocytic lymphohistiocytosis –HLH) là

một hội chứng có biểu hiện lâm sàng đa dạng,

diễn tiến nguy kịch(9,10) Từ năm 1994 và năm

2004 Hội Histiocytosis thế giới đã lần lượt giới

thiệu phác đồ điều trị dành cho thể gia đình

(familial hemophagocytic lymphohistiocytosis=

FHL) hoặc thể thực bào thứ phát (secondary

hemophagocytic lymphohistiocytosis) ở trong

tình huống nguy kịch, với sự phối hợp

Dexamethasone, Cyclosporine A, Etoposide và

ghép tủy Các phác đồ này (HLH-1994 và sau đó

HLH- 2004) đã được các nhà nghiên cứu trên thế

giới áp dụng và báo cáo Qua y văn cho thấy kết

quả đáp ứng điều trị khá tốt(11,14,20) Tuy nhiên,

hiện nay HCTB vẫn được xem là bệnh có tỉ lệ tử

vong rất cao, và đã có nhiều công trình sau đúc

kết về HCTB, đã đặt vấn đề khảo sát các yếu tố

liên quan tới tử vong như: yếu tố tuổi, cơ địa,

chủng tộc(13) hoặc bệnh nền(19).Từ đó đã có nhiều

nghiên cứu đưa ra các yếu tố tiên lượng bệnh

nhân bị HCTB dựa trên chủng tộc, dân tộc, bệnh

phối hợp, hoặc các xét nghiệm như đo hoạt lực

của Natural killer, nồng độ CD25 hoà tan, kiểm

tra nồng độ ferritin máu, theo dõi lượng IFNγ

và IL-10(13,3,6,1,18)… Tại bệnh viện Nhi Đồng 1,

trong hoàn cảnh còn thiếu về phương tiện chẩn

đoán như miễn dịch phân tử,và điều trị triệt để

như ghép tủy… HCTB ngày càng được phát

hiện nhiều, nhưng tỷ lệ tử vong vẫn còn rất cao

Nghiên cứu này của chúng tôi nhằm tìm ra

những đặc điểm lâm sàng cũng như cận lâm

sàng của bệnh nhi ngay từ lúc bắt đầu điều trị cho tới 8 tuần đầu tiên của giai đoạn tấn công theo phác đồ HCTB Sự phân tích kết quả tử vong của bệnh nhân HCTB so với nhóm không

tử vong qua các yếu tố cơ địa, tuổi, bệnh cảnh lâm sàng và xét nghiệm lúc vào viện để tìm hiểu các yếu tố có liên quan tử vong từ đó giúp cho bác sĩ lâm sàng có thêm kinh nghiệm cảnh báo chẩn đoán sớm và điều trị tích cực trước các

bệnh nhân nghi ngờ HCTB

Mục tiêu nghiên cứu

1 Xác định tỉ lệ tử vong của bệnh nhân bị hội chứng thực bào máu trong giai đoạn điều trị

tấn công

2 Xác định các yếu tố có liên quan tới bệnh nhân HCTB bị tử vong

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chúng tôi tiến hành phân tích hồi cứu hồ sơ của tất cả các bệnh nhi nhập viện Nhi đồng 1 từ tháng 1/2007 đến tháng 3/2011 đủ tiêu chuẩn chẩn đoán HLH: khi có 5/6 tiêu chuẩn sau: sốt kéo dài; gan lách to; giảm 2/3 dòng tế bào máu (hemoglobin < 9 g/dL, tiểu cầu < 100 x 109/ L, neutrophil < 1x 109/ L); tăng triglyceride > 265 mg/dl và/hoặc giảm fibrinogen < 1,5 g/L; ferritine tăng > 500 µg/ L; tủy đồ có hiện tượng thực bào máu Tiêu chuẩn để đưa vào mẫu là các ca được tiến hành điều trị theo phác đồ HLH

2004 với etoposide, dexamethasone, cyclosporin, IVIG, methotrexate + prednisone (nếu có tổn thương hệ thần kinh) và phải đủ thời gian theo dõi ít nhất là 8 tuần Các bệnh nhi được theo dõi

Trang 3

đáp ứng điều trị dựa trên sự thay đổi các dấu

hiệu lâm sàng: sốt, gan to, gan lách to, sang

thương da, dấu hiệu thần kinh, xuất huyết tiêu

hóa; thay đổi trên cận lâm sàng: bạch cầu, bạch

cầu hạt, hemoglobin, tiểu cầu, ferritin,

triglyceride, fibrinogen, men gan, billirubin,

chức năng thận mỗi tuần Ngoài ra còn các yếu

tố liên quan khác như huyết thanh chẩn đoán

EBV, CMV (kết quả được công nhận là dương

tính khi IgM dương tính hoặc PCR có ý nghĩa);

kết quả cấy máu; bất thường trên X quang (viêm

phổi, tràn dịch màng phổi hoặc màng bụng…);

bất thường trên MRI (teo não, tổn thương

não…) Số liệu thu thập từ hồ sơ và bảng theo

dõi sẽ được nhập bằng chương trình Epi Data và

xử lý số liệu bằng Stata Từ các dữ liêu đã nhập,

chúng tôi rút ra các đặc điểm chung của mẫu về

tuổi; giới tính; thời gian sốt đến lúc nhập viện;

thời gian sốt đến lúc chẩn đoán; thời gian bắt

đầu điều trị sau chẩn đoán; thời gian điều trị nội

trú; thời gian sống còn, các dấu hiệu lâm sàng

lúc bắt đầu điều trị: gan to, gan lách to, sang

thương da, dấu hiệu thần kinh, xuất huyết tiêu

hoá; tỷ lệ nhiễm EBV, CMV, cấy máu dương

tính, bất thường trên X quang hay MRI não; tỷ lệ

bệnh nhi được điều trị với IVIG, etoposide,

cyclosporine, methotrexate +prednisone Tại

thời điểm 8 tuần – thời điểm kết thúc điều trị tấn

công, bệnh nhi được phân thành 3 nhóm: nhóm

tử vong; nhóm bỏ tái khám (gồm những ca bỏ

tái khám và những ca được chuyển viện vì bệnh

lý nền); nhóm còn sống (các ca còn sống sau 8

tuần điều trị và đi tái khám đầy đủ) Tiến hành

so sánh các đặc điểm giữa nhóm tử vong và

nhóm còn sống tại thời điểm bắt đầu điều trị

gồm: tuổi, giới tính, thời gian bắt đầu sốt đến

lúc chẩn đoán, các dấu hiệu lâm sàng lúc bắt

đầu điều trị: gan to, gan lách to, sang thương da,

dấu hiệu thần kinh, xuất huyết tiêu hoá; tỷ lệ

nhiễm EBV, CMV, cấy máu dương tính, bất

thường trên X quang hay MRI não; tỷ lệ được

điều trị với IVIG, etoposide, cyclosporine,

methotrexate +prednisone Từ kết quả về thời

gian sống trung bình của nhóm tử vong, lấy

mốc là điểm trung vị, chia nhóm tử vong thành

2 nhóm: tử vong sớm và tử vong muộn Tiếp tục tiến hành so sánh giữa 3 nhóm: tử vong sớm, tử vong muộn và còn sống về các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng tương tự khi so sánh hai nhóm trên để có những kết luận sâu hơn Việc

so sánh biến số về tỷ lệ giữa các nhóm được sử dụng phép kiểm chi bình phươnghay Fisher’s exact test Với các biến số về định lượng như tuổi, thời gian, xét nghiệm sinh hóa được mô tả bằng giá trị trung vị (khoảng) và so sánh giữa hai nhóm bằng phép kiểm Wilcoxan – Mann – Whitney U; giữa 3 nhóm bằng phép kiểm Kruskal-Wallis test Sự khác biệt có ý nghĩa nếu

p < 0,05 Từ đó có thể rút ra được nhựng yếu tố tiên lượng tử vong trên bệnh nhân HLH ngay tại thời điểm bắt đầu điều trị

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chúng tôi tiến hành phân tích hồi cứu trên

97 ca được chẩn đoán hội chứng thực bào máu

và điều trị theo phác đồ HLH 2004 từ tháng 1/2007 đến tháng 3/2011 tại bệnh viện Nhi đồng

1 Tại thời điểm 8 tuần sau điều trị (giai đoạn tấn công), chúng tôi chia bệnh nhi thành hai nhóm

tử vong và nhóm còn sống để tiến hành so sánh tìm các đặc điểm khác biệt Với kết quả về thời gian sống trung bình của nhóm tử vong là 17 ngày, chúng tôi tiến hành phân tích sâu hơn: xếp các ca tử vong trước 2 tuần vào nhóm tử vong sớm và so sánh các đặc điểm lâm sàng cũng như cận lâm sàng so với các nhóm còn lại Với phương pháp phân tích như trên chúng tôi thu được một số kết quả đáng kể

Đặc điểm của mẫu

Bảng 1: Đặc điểm chung và lâm sàng khi vào viện

lần đầu của mẫu nghiên cứu

Đặc điểm mẫu nghiên cứu Cỡ mẫu = 97

Số ca (%) hay Trung vị (khoảng)

Thời gian chẩn đoán tại bệnh viện

(ngày)

4 (0-29)

Thời gian bắt đầu điều trị sau chẩn

đoán (ngày)

2 (0-29)

Trang 4

Đặc điểm mẫu nghiên cứu Cỡ mẫu = 97

Số ca (%) hay Trung vị (khoảng)

Thời gian sốt từ khi bệnh đến lúc nhập

viện (ngày)

9 (1-120)

Thời gian sốt từ khi bệnh đến lúc chẩn

đoán (ngày)

14 (6-121)

Bảng 2: Đặc điểm cận lâm sàng khi vào viện của mẫu

nghiên cứu

Đặc điểm cận lâm sàng Cỡ mẫu = 97

Số ca (%) hay Trung vị (khoảng)

Bảng 3: Đặc điểm bệnh phối hợp

Bệnh phối hợp Cỡ mẫu = 97 Số ca (%)

Bệnh nhiễm trùng

Bảng 4: Kết quả điều trị Hội chứng thực bào trong

giai đoạn tấn công (8 tuần đầu)

Đặc điểm điều trị Cỡ mẫu = 97 Số ca (%)

Từ tháng 1/2007 đến tháng 3/2011 chúng tôi

có 97 ca đủ tiêu chuẩn chẩn đoán và được điều trị theo HLH – 2004 Lứa tuổi trung vị khởi phát bệnh là 2,5 tuổi (0,1 -14,3 tuổi) với tỷ lệ nam/nữ

là 1,3 (55 nam/42nữ) (Bảng 1) Số ngày từ lúc bệnh nhân nhập viện đến lúc được chần đoán trung bình là 4 ngày (0 – 29 ngày) và số ngày bắt đầu tiến hành điều trị sau chẩn đoán trung bình

là 2 ngày (0 – 29 ngày) (Bảng 1) Tất cả bệnh nhi khi bắt đầu điều trị đều có dấu hiệu sốt kéo dài với thời gian sốt trung bình từ lúc khởi bệnh đến lúc được chẩn đoán là 14 ngày (6 – 121 ngày) Các dấu hiệu lâm sàng thường gặp là: gan to chiếm 93,8%; gan lách to chiếm 73,2%, sang thương da 35,1% như sẩn hồng ban, vàng da; xuất huyết tiêu hoá 10,4%; dấu hiệu thần kinh 9,4% như co giật, lơ mơ, (Bảng 1)

Tại thời điểm bắt đầu điều trị, các xét nghiệm thường quy cho thấy trung vị số lượng bạch cầu là 3,1x109/L (0,34 – 37,2 x109/L) trong đó lượng bạch cầu hạt rất thấp 0,8 x109/L (0,04 – 19,6 x109/L); hemoglobin trung vị là 8,4g/dl (3,2 -13g/dl) và lượng tiểu cầu cũng giảm thấp 62 x

109/L (3 – 708 x109/L) (Bảng 2).Phản ứng viêm rất mạnh biểu hiện qua giá trị ferritin máu tăng cao trung bình 2520 ng/ml (41 -78000 ng/ml).Triglyceride cũng tăng với giá trị trung

vị 489 mg% (104-5990 mg%) Lượng fibrinogen

trong máu nằm ở mức bình thường 1,9 g/dl (0,25

-6,01g/dl) Mức độ tổn thương gan biểu hiện qua

men gan tăng cao với lượng AST là 160 U/L

(5-7659 U/L), ALT là 107 I/L (2-2035 U/L) và

billirubin tăng với giá trị trung vị là 1,49 mg%

(0,12 -30,6mg%) Không có trường hợp nào biểu

hiện suy thận ngay tại thời điểm điều trị với chức năng thận biểu thị qua giá trị creatinin trung bình 0,38 mg/dl (0,02 -1,2mg/dl) (Bảng 2)

X quang bất thường với dấu hiệu viêm phổi, tràn dịch màng phổi hay màng bụng chiếm tỷ lệ (13/97; 13,4%) Tỷ lệ bệnh nhi có biểu hiện MRI não bất thường là (7/97; 7,2%) trong đó có 4 ca teo não, 1 ca tổn thương chất trắng, 1 ca tổn thương nhân bèo và 1 ca dãn não thất (Bảng 2) Khảo sát bệnh lý nhiễm trùng phối hợp vào thời điểm chẩn đoán thực bào máu: nhiễm EBV có tỷ

lệ khá cao (25/97; 25,7%) trong đó có 9 ca có EBV

Trang 5

IgM dương tính và 16 ca có EBV PCR dương Tỷ

lệ nhiễm CMV (9/97; 9,3%) trong đó 8 ca CMV

IgM dương tính là 1 ca CMV PCR có ý nghĩa Tỷ

lệ bệnh nhi nhiễm vừa EBV vừa nhiễm CMV là

(4/97; 4,1%) (Bảng 3) Tất cả bệnh nhi trước khi

bắt đầu điều trị đều được tiến hành cấy máu và

kết quả có (14/97; 14,6%) ca dương tính: 1 ca

Staphylococcus aureus, 6 ca Coagulase - negative

Staphyloccus; 3 ca Acinobacter spp; 1 ca

Streptococcus; 1 ca Pseudomonas aeruginosa; 2 ca

nấm Candida albicans,.(Bảng 3)

Khảo sát di truyền có 1/33 ca được khảo sát

gen và phát hiện có đột biến gen SAP và PRF1

Ngoài ra 1 ca có tiền căn gia đình 2 anh em cùng

bị HLH nhưng khi khảo sát gen SAP, Perforin

chưa tìm thấy bất thường

Tất cả 97 ca đều được điều trị theo phác đồ

HLH -2004 với kết quả là IVIG 6,5%, Etoposide

42,4%, Cyclosporin 96,7%, Dexamethasone 100%,

Methotrexate và Prednisone 5,5% (Bảng 4) Tỷ lệ

dùng IVIG còn thấp do thiếu nguồn cung cấp

thuốc Tỷ lệ dùng Etoposide cũng vậy do nhiều

bệnh nhi có chống chỉ định ngay tại thời điểm

bắt đầu điều trị Sau thời gian điều trị nội trú

trung bình 25 ngày (3-160 ngày) với thời gian

sống trung bình 145 ngày (3-1493 ngày), cắt

ngang tại thời điểm 8 tuần, kết quả là trong 97 ca

có 8 ca bỏ theo dõi (8,2%) – trong đó có 4 ca phải

chuyển viện vì bệnh máu ác tính: 2 ca bạch cầu

cấp, 1 ca lymphoma và 1 ca Langerhans Cells Histicytosis (LCH)

Tỉ lệ tử vong của bệnh nhân thực bào máu trong giai đoạn điều trị tấn công:

Bảng 5: Tỷ lệ tử vong

N (%)

Tử vong muộn (sau 2 tuần điều

trị tấn công)

16 (16,5)

Sau 8 tuần điều trị, trong số 97 bệnh nhân ban đầu, có 4 bệnh nhân bỏ điều trị và 4 bệnh nhân chuyển viện để điều trị theo bệnh lý máu ác tính, còn lại 89 bệnh nhân Trong số 89 bệnh nhân này,có 25 bệnh nhân tử vong, chiếm tỉ lệ 25,8% (25/97), trong đó 9 bệnh nhân tử vong sớm trong vòng 2 tuần, chiếm tỉ

lệ 9,3% (9/97) (Bảng 5)

Xác định các yếu tố có liên quan tới tử vong trong giai đoạn điều trị tấn công

Bảng 6: So sánh giữa nhóm tử vong và nhóm sống

Nhóm tử vong (n=25)

Số ca (%) Trung vị (khoảng)

Nhóm sống (n = 64)

Số ca (%) Trung vị (khoảng)

P

Đặc điểm chung

Trang 6

Nhóm tử vong (n=25)

Số ca (%) Trung vị (khoảng)

Nhóm sống (n = 64)

Số ca (%) Trung vị (khoảng)

P

* Mann-Whitney U test ‡ Fisher’s exact test ¶ Chi square test

Bảng 7: So sánh giữa nhóm tử vong sớm, tử vong muộn và còn sống

Tử vong sớm (n:9)

Số ca (%) Trung vị (khoảng)

Tử vong muộn (n:16)

Số ca (%) Trung vị (khoảng)

Còn sống (n:64)

Số ca (%) Trung vị (khoảng)

P

Trang 7

Tử vong sớm (n:9)

Số ca (%) Trung vị (khoảng)

Tử vong muộn (n:16)

Số ca (%) Trung vị (khoảng)

Còn sống (n:64)

Số ca (%) Trung vị (khoảng)

P

*Kruskal-Wallis test ‡ Fisher’s exact test

Sau 8 tuần điều trị, với kết quả 25 bệnh nhân

tử vong và còn 64 sống, chúng tôi so sánh 2

nhóm này qua các đặc điểm lâm sàng, cận lâm

sàng tại thời điểm bắt đầu điều trị Kết quả lứa

tuổi trung bình của nhóm tử vong là 1,7 tuổi (0,2

-12 tuổi) so với nhóm còn sống là 2,7 tuổi (0,1 –

14,3 tuổi); sự khác biệt có ý nghĩa với p = 0,028

Tỷ lệ giới tính ở hai nhóm không có sự khác

biệt, lần lượt là 1,5 (15 nam:10 nữ) ở nhóm tử

vong và 1,3 (36 nam: 28 nữ) ở nhóm còn sống (p

= 0,748), (Bảng 6) Tỷ lệ các đặc điểm lâm sàng

như gan to, gan lách to, sang thương da, dấu

hiệu thần kinh không có sự khác biệt giữa hai

nhóm (p= 1; 0,126; 0,483 và 0,085 theo thứ tự)

Riêng tỷ lệ bệnh nhi có dấu hiệu xuất huyết tiêu

hoá như ói máu, đi tiêu phân đen ở nhóm tử

vong cao hơn rõ rệt có ý nghĩa so với nhóm còn

sống: (6/25; 24%) ở nhóm tử vong và (1/64; 1,6%)

ở nhóm còn lại (p = 0,001).(Bảng 6) Số ngày sốt

trước khi được chẩn đoán ở hai nhóm lần lượt là

14 và 15 ngày (p = 0,434) Các trị số xét nghiệm

cho thấy lượng số lượng bạch cầu trung vị 2,3 x

109/L (0,37 -25,1U/L) và tiểu cầu 47 x 109/L (3 -544

x 109/L) của nhóm tử vong thấp hơn có ý nghĩa

so với nhóm còn sống lần lượt là 3,3 x 109/L (0,34

– 37,2 x 109/L) và 69 x 109/L (6 – 708 x 109/L); p

tương ứng 0,038 và 0,029 Các trị số còn lại về

lượng bạch cầu đa nhân trung tính, lượng

hemoglobin, ferritine, triglyceride, fibrinogen

trong máu và men gan AST, ALT, billirubin toàn

phần, creatinine không khác biệt giữa hai nhóm,

(Bảng 6) Tỷ lệ nhiễm EBV và CMV ở hai nhóm

cũng tương đương nhau (7/25; 28%) và (2/25;

8%) ở nhóm tử vong; (16/64; 25%) và

(7/64;10,9%) ở nhóm còn sống (p= 0,771 và 1)

Không có sự khác biệt về tỷ lệ bất thường trên X

quang phổi giữa hai nhóm (p = 0,171) Ở nhóm

tử vong tỷ lệ cấy máu dương tính (7/25; 28%)

cao hơn hẳn so với nhóm sống (5,64; 7,8%)

(p=0,033) Tỷ lệ tổn thương não trên MRI ở

nhóm tử vong (5/25; 20%) cũng cao hơn có ý

nghĩa thống kê so với nhóm sống (1/64; 1,6%) (p

= 0,006), (Bảng 6) Xét tỷ lệ được điều trị theo

HLH 2004 cho thấy tỷ lệ được dùng IVIG, Etoposide và Methotrexate ở hai nhóm cũng không khác nhau lần lượt là (2/25; 8%); (9/25; 36%); (2/25; 8%) ở nhóm tử vong và (2/64; 3,2%); (27/64; 42,2%); (2/64; 3,2%) ở nhóm còn sống Riêng tỷ lệ được dùng Cyclosporine ở nhóm tử vong (18/25; 72%) thấp hơn hẳn so với nhóm

còn sống (63/64; 98,4%) với p = 0,014, (Bảng 6)

Ngoài ra kết quả cho thấy thời gian sống trung

vị của nhóm tử vong là 17 ngày (3 -52 ngày) và nhóm còn sống là 240 ngày (12 - 1493 ngày), (Bảng 6)

Từ kết quả về thời gian sống trung vị của nhóm tử vong là 17 ngày, chúng tôi lấy mốc tương ứng hai tuần để chia nhóm tử vong thành hai nhóm: nhóm tử vong sớm trước hai tuần và nhóm tử vong muộn sau hai tuần Tiến hành so sánh các đặc điểm tương tự như đã làm ở trên

để phân tích sâu hơn về sự khác biệt giữa ba nhóm: tử vong sớm gồm 9 ca, tử vong muộn gồm 16 ca và nhóm còn sống gồm 64 ca (Bảng 6) Kết quả cho thấy tuổi trung vị ở mỗi nhóm

không còn khác biệt lần lượt là 1,5 tuổi (0,2 – 5,8tuổi); 2 tuổi (0,54 -12 tuổi); 2,7 tuổi (0,1 – 14,3

tuổi) tương ứng với nhóm tử vong sớm, muộn

và nhóm còn sống; (p = 0,08) Tương tự, tỷ lệ giới

tính nam/ nữ ở mỗi nhóm lần lượt là 3,5 (7 /2); 1

(8 /8); 1,3 (36/28) cũng không khác biệt (p =

0,383) (Bảng 7) Tỷ lệ các dấu hiệu lâm sàng gan

to, gan lách to, sang thương da giữa ba nhóm cũng tương đương nhau Riêng tỷ lệ có xuất huyết tiêu hoá và dấu hiệu thần kinh có khác biệt rõ, cao nhất ở nhóm tử vong sớm: (3/ 9;

Trang 8

33,3%) có xuất huyết tiêu hoá và (3/9; 33,3%) có

dấu hiệu thần kinh; ở nhóm tử vong muộn lần

lượt là (3/16; 18,8%) và (1/16; 16,3%); ở nhóm còn

sống lần lượt là (1/64; 1,6%) và (3/64; 4,7%) P

tương ứng hai dấu hiệu trên lần lượt là 0,001 và

0,027; đều có ý nghĩa thống kê, (Bảng 7) Tương

tự như khi chia thành hai nhóm ở trên, chúng

tôi vẫn thấy có sự khác biệt về số lượng bạch

cầu và tiểu cầu trung vị giữa ba nhóm Trung vị

số lượng bạch cầu nhóm tử vong sớm, tử vong

muộn và còn sống lần lượt là 1,3 x 109/L (0,37 –

9,8 x 109/L); 2,4 x 109/L (0,7 -25,1 x 109/L) và 3,3 x

109/L (0,34 – 37,2 x 109/L) với p = 0,05, Số lượng

tiểu cầu trung vị của mỗi nhóm tương ứng lần

lượt là 33 x 109/L (5 – 78 x 109/L); 52 x 109/L (3

-544 x 109/L); 69 x 109/L (6 – 708 x 10 9/L) (p = 0,04)

Ngược lại, trị số trung vị của neutrophil,

hemoglobin, ferritin, triglyceride, fibrinogen,

men gan AST, ALT, billirubin và creatinine ở

mỗi nhóm đều tương đương nhau, (Bảng 7) Tỷ

lệ nhiễm EBV và CMV ở ba nhóm cũng như

nhau; tỷ lệ nhiễm EBV tương ứng với từng

nhóm là 22,2%; 31,2%; 25% (p=0,923) và CMV là

0%; 12,5%; 10,9% (p = 0,732) Tỷ lệ cấy máu

dương tính và dấu hiệu bất thường trên MRI có

sự khác biệt rõ rệt giữa ba nhóm Tỷ lệ cấy máu

dương tính ở nhóm tử vong sớm là 33,3% (3/9);

nhóm tử vong muộn là 25% (4/16) và nhóm còn

sống là 7,8% (5/64), sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê (p = 0,026) Tỷ lệ bất thường trên MRI

não tương ứng với từng nhóm trên là 11,1%

(1/9); 25% (4/16); và 1,6% (1/64, sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê (p = 0,004) Còn lại tỷ lệ bất

thường trên X quang ngực không có sự khác

biệt giữa ba nhóm, (Bảng 7) Về mặt điều trị, sự

khác biệt về tỷ lệ được dùng các thuốc cũng

tương tự nhu khi phân thành hai nhóm tử vong

và nhóm sống Nghĩa là, tỷ lệ dùng IVIG,

Etoposide và Methotrexate không khác nhau

giữa ba nhóm Riêng tỷ lệ dùng Cyclosporine

rất thấp ở nhóm tử vong sớm (5/9; 55,6%);

(13/16; 81,2%) ở nhóm tử vong muộn và cao hơn

hẳn ở nhóm còn sống (63/64; 98,4%); (p =0,001),

(Bảng 7)

BÀN LUẬN

Trong lô nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ tử vong trong giai đoạn điều trị tấn công 8 tuần đầu là 25,8% (25/97), tỷ lệ này khá cao dù cho thời gian chẩn đoán sau nhập viện của bệnh nhân khá sớm (chẩn đoán trong vòng 2 ngày sau nhập viện và bắt đầu điều trị sau nhập viện

4 ngày) So với y văn, kết quả tử vong trong 8 tuần đầu được báo cáo tại Pháp là 27,7% (6/22)(16) tại Taiwan 2004 là 61% (11/18)(11,2), hoặc tại India

là 33,3% (11/33)(15) Điều này cho thấy HCTB vẫn

là một bệnh lý phức tạp, triệu chứng đa dạng gây khó chẩn đoán trong giai đoạn ban đầu, nhất là ở trẻ em, cơ địa miễn dịch kém, dễ nhiễm trùng, chưa có ý thức về vệ sinh và tự bảo vệ Hầu hết các tác giả đều lưu ý cần chẩn đoán sớm HCTB ở trẻ em khi các bệnh nhân nhập viện với dấu hiệu sốt kéo dài và được ghi chẩn đoán ban đầu là nhiễm trùng huyết Tại bệnh viện Nhi đồng 1 TPHCM, bệnh nhân nhập viện quá muộn với thời gian sốt trung vị đến lúc được chẩn đoán là 14 ngày Bên cạnh đó, tình trạng bệnh nhi lúc bắt đầu được điều trị có dấu hiệu lâm sàng nặng, tỷ lệ có xuất huyết tiêu hoá

là 10% và dấu hiệu tổn thương thần kinh như co giật, hôn mê là 9 % (Bảng 1) Các trị số cận lâm sàng cũng cho thấy tình trạng nặng của bệnh nhi với số lượng bạch cầu trung vị rất thấp 3,1 x

109/L; trong đó số lượng trung vị neutrophil giảm rất nặng 8 x 109/L và lượng tiểu cầu chỉ ở mức 62 x 109/L Mức độ phản ứng viêm tăng cao với ferritin là 2520 ng/ml và triglyceride là 489 mg% Mức độ tổn thương gan nặng nề với trung

vị của men gan AST là 160U/L và ALT là 107 U/L; billirubin cũng tăng ở mức 1,49 mg% (Bảng 2)

So sánh đặc điểm hai nhóm tử vong và nhóm sống tại thời điểm 8 tuần, chúng tôi ghi nhận các đặc điểm khác biệt liên quan đến tử vong ở bệnh nhân HCTB Về tuổi mắc bệnh, nhóm tử vong có tuổi trung vị là 1,7 tuổi thấp

hơn so với nhóm còn sống là 2,7 tuổi (p = 0,028),

kết qủa chúng tôi phù hợp với các y văn trên thế giới(10)

, HCTB là bệnh lý phổ biến ở trẻ em Kết

Trang 9

quả này tương tự như các báo cáo ở Taiwan là

tuổi trung vị là 3(2), tại Ấn độ tuổi trung vị là 46

tháng(15), tại Hoa kỳ là 1,8 tuổi(13)

Theo tác giả

Thái lan cũng lưu ý tuổi dưới 3 là một yếu tố

tiên lượng xấu(19)

Trong lô nghiên cứu của chúng tôi, khi phân tích nhóm tử vong sớm và

tử vong muộn cùng với nhóm sống thì chưa

thấy sự khác biệt ý nghĩa về thống kê về tuổi

giữa ba nhóm, có thể do số trường hợp ở mỗi

nhóm tử còn ít (9 bệnh nhân so với 15 bệnh

nhân).Theo Tổ chức y tế thế giới, trẻ sống trong

khu vực các nước đang phát triển tuổi nhỏ vẫn

là yếu tố nguy cơ cao nhiễm trùng vì cơ địa

miễn dịch yếu so với trẻ lớn, tuổi này trẻ dễ

nhiễm các bệnh lý hô hấp, tiêu hóa, bệnh truyền

nhiễm…, như vậy yếu tố nhiễm trùng có thể

đồng phối hợp với tuổi để kích thích HCTB xuất

hiện,

Dấu hiệu xuất huyết tiêu hoá chiếm tỷ lệ

cao ở nhóm tử vong (24%) và rất thấp ở nhóm

còn sống (1,6%) (p = 0,001), (Bảng 6) Đặc biệt

khi phân tích nhóm tử vong sớm tỉ lệ này cao

hơn hẳn so so với nhóm tử vong muộn và

nhóm sống (33,3%, 18,8% và 1,6%, theo thứ

tự) Chúng tôi chưa tiếp cận được y văn trên

thế giới về các ca tử vong do HCTB, đặc biệt

là ở các quốc gia lân cận châu Á để phân tích

tổng hợp.Trong lô nghiên cứu của chúng tôi

các bệnh nhân có biểu hiện xuất huyết tiêu

hóa trầm trọng khi nhập viện thường có diễn

tiến tử vong nhanh Điều này có thể cho thấy

đây là hậu quả của tình trạng rối loạn đông

máu nặng do cơn bảo cytokine (TNF-α,IL1β)

ảnh hưởng lên các yếu tố mô, hoạt hóa yếu tố

tiền đông và chất ức chế plasminogen

activator đưa đến rối loạn đông máu và xuất

tiêu hóa, xuất huyết da niêm, nơi tiêm, bệnh

cảnh này thường gặp ở các bệnh nhân nhập

viện muộn

Dấu hiệu thần kinh ở nhóm tử vong chiếm

16%, cao hơn so với nhóm sống là 4,7%, sự khác

biệt không có ý nghĩa thống kê (p=0,08) Tuy

nhiên khi phân tích dấu hiệu thần kinh giữa

nhóm tử vong sớm, tử vong muộn và nhóm

sống thì sự khác biệt này lại có ý nghĩa thống kê

(p=0,03), kết qủa này phù hợp với các báo cáo trên thế giới, tổn thương thần kinh là một trong những nguy cơ tử vong cao ở HCTB trẻ em, nhất là trẻ nhỏ dưới 2 tuổi(2)

và theo Hội thực bào thế giới(9)

Theo tác giả Tadokoro(17)

thì các tổn thương thần kinh ở bệnh nhân HCTB máu

có thể do hậu qủa của cơn tăng các cytokine như IL-6, IL-8, IL-10 và TNF trên bệnh nhân nhiễm siêu vi kích hoạt gây HCTB hoặc theo tác giả De Armas do sự xâm nhập của các đại thực bào vào

hệ thần kinh trung ương(4)

Do đó trong thực tế Hội Histiocytosis đã cảnh báo cần theo dõi dấu hiệu thần kinh ở trẻ chẩn đoán HCTB và chỉ định chọc dò tủy sống trước khi điều trị HCTB nặng là một nguyên tắc quan trọng(9)

Tương ứng với dấu hiệu thần kinh thì kết quả MRI não bất thường trong lô nghiên cứu của chúng tôi có ý nghĩa khác biệt giữa nhóm tử

vong và nhóm sống (p=0,006), điều quan trọng

là cũng như giữa nhóm tử vong sớm, nhóm tử vong muộn và nhóm sống (11,1%, 25% và 1,6%

và p= 0,004) với tỉ lệ MRI cao ở nhóm tử vong

muộn Điều này cho thấy theo dõi hình ảnh học

về não của bệnh nhân HCTB cũng là một biện pháp cận lâm sàng quan trọng đối với các bệnh nhân có biểu hiện thần kinh xuất hiện ngay từ đầu hoặc theo sau quá trình điều trị, hoặc không đáp ứng điều trị(9) Theo tác giả Goo thì các tổn thương thần kinh được ghi nhận qua hình ảnh học như MRI có ý nghĩa tương đương với bệnh cảnh lâm sàng và như vậy sẽ hỗ trợ trong chẩn đoán, theo dõi đáp ứng điều trị và tiên lượng(5)

Về các trị số xét nghiệm cận lâm sàng, lượng bạch cầu trung bình thấp ở nhóm tử vong so với nhóm sống (2,3 x 109/L so với 3,3 x 109/L) sự

khác biệt này có ý nghĩa (p = 0,038).Tương tự khi

phân tích tiếp số lượng bạch cầu ở nhóm tử vong sớm, nhóm tử vong muộn và nhóm sống

số lượng bạch cầu giảm nhiều nhất vẩn gặp ở nhóm tử vong sớm với sự khác biệt có ý nghĩa

(p= 0,05) Mặc dù theo y văn giảm bạch cầu là 1

trong 8 tiêu chuẩn ban đầu chẩn đoán HCTB, tuy nhiên trong hoàn cảnh bệnh viện chúng tôi chưa triển khai được các xét nghiệm chuyên sâu

về miễn dịch học như khảo sát miễn dịch tế bào

Trang 10

T, B hay naturall killer cells hoặc đo nồng độ

cytokines…, trong khi đó tại bệnh viện Nhi

Đồng, và các bệnh viện địa phương, trang thiết

bị huyết học cơ bản nhất là các máy đếm tế bào

máu đơn giản 18- 24 thông số Do đó chúng tôi

có thể thực hiện dễ dàng, nhanh chóng các số

liệu về hemoglobin, bạch cầu, tiểu cầu Như vậy,

khi bạch cầu < 5x109/L là tiêu chuẩn chẩn đoán

ban đầu của HCTB, nhưng khi bạch cầu càng

thấp thì bệnh nhân sẽ có tiên lượng xấu hơn

Về khảo sát lượng tiểu cầu, nhóm tử vong

có số lượng tiểu cầu giảm thấp hơn so với

nhóm sống (p=0,03), tương tự khi phân tích

nhóm tử vong sớm, tử vong muộn và nhóm

sống (số lượng tiểu cầu lần lượt là 33 x 109/L,

52x109/L và 69 x109/L,với p= 0,04), Như vậy

đếm tiểu cầu < 100,x109/L là tiêu chuẩn chẩn

đoán ban đầu của HCTB, nhưng khi tiểu cầu

càng giảm nặng thì nguy cơ tử vong càng cao

Dựa vào sinh lý bệnh của HCTB thì giảm bạch

cầu, giảm tiểu cầu nặng thường tương ứng

với tình huống thực bào tủy nặng, các đại

thực bào ở tủy tăng hoạt động bắt giữ bạch

cầu và tiểu cầu tại tủy, làm tủy bị giảm sản

Về nhiễm trùng phối hợp thực bào máu

(infection associated Hemophagocytic

syndrome =IAHS), nhóm tử vong có tỉ lệ cấy

máu cao hơn nhóm sống với mức có ý nghĩa (p=

0,03), và khi phân tích tỉ lệ cấy máu dương tính

ở nhóm tử vong sớm, tử vong muộn và nhóm

sống cũng cho thấy sự khác biệt giữa 3 nhóm

(p= 0,03) Khảo sát kết quả cấy máu ghi nhận

hầu hết tác nhân là các vi khuẩn thường trú tại

môi trường bệnh viện như: 6 ca Coagulase-

negative Staphyloccus; 3 ca Acinobacter spp; 1 ca

Streptococcus; 1 ca Pseudomonas aeruginosa; 2 ca

nấm Candida albicans và 1 ca Staphylococcus aureus,

So với bệnh nhân bị nhiễm trùng phối hợp

HCTB, tại một số quốc gia như Ấn độ, thì tác

nhân nhiễm trùng được ghi nhận là

Mycobacterium tuberculosis, Klesiella, Leptospira,

Pneumococcus và Sphinomonas, tuy nhiên tác giả

không bàn về diễn tiến của các ca nhiễm trùng

này(15)

.Tại Thái lan, tác nhân nhiễm trùng phối

hợp được báo cáo là Salmonella, Staphyloccus,

Enterobacter, Dengue virus, Malaria, EBV, Serratia marcesens, Penicillium maneffei(18)…Như vậy đặc điểm nhiễm trùng có thay đổi theo vùng cư trú, tại bệnh viện Nhi Đồng 1 TPHCM, kết qủa cấy

máu với các tác nhân Coagulase- negative

Staphylococcus, Acinetobacter, Pseudomonas phối

hợp thời gian chẩn đoán HCTB quá dài, dấu hiệu lâm sàng nặng khi nhập viện, dấu hiệu giảm bạch cầu, tiểu cầu nặng cho thấy khả năng nhiễm khuẩn bệnh viện rất cao và cũng cho thấy vấn đề khó khăn trong chẩn đoán ban đầu giữa một bệnh nhiễm trùng khởi phát và đi đến HCTB hay một bệnh lý HCTB đã có sẵn gặp điều kiện nhiễm trùng kích phát Kết quả cấy máu dương tính cho biết tiên lượng nặng tử vong cao khi vào viện và cũng báo động về mức

độ kiểm soát nhiễm trùng bệnh viện ở các ca nằm viện lâu ngày tại các tuyến Ngoài nhiễm trùng có cấy máu dương tính, chúng tôi cũng ghi nhận nhiễm EBV và CMV là hai tác nhân virus có tỉ lệ phối hợp cao, tuy nhiên vào thời điểm nghiên cứu, bệnh viện không có khả năng phân tích bằng PCR real time hàng loạt cho bệnh nhân nên khảo sát huyết thanh chỉ phản ảnh hiện tượng có mang kháng thể kèm theo Chứng minh đang nhiễm EBV hoạt động cần định lượng bằng PCR sẽ được nghiên cứu tiếp trong tương lai về chuyên đề nhiễm EBV phối hợp HCTB

Tuy không có điều kiện để khảo sát thường qui yếu tố di truyền của tất cả các bệnh nhân bị HCTB, nhưng kết qủa phân lập trước đây cho thấy tỉ lệ đột biến gen kèm theo HCTB không cao tại bệnh viện 3% (1/33) Kết qủa này cũng không giúp cho sự phân biệt yếu tố tử vong trong HCTB.Theo nghiên cứu HCTB ở các quốc gia đã phát triển thì HCTB

là bệnh hiếm, như tại Nhật cho thấy tỉ lệ mới mắc HCTB trong dân số là 1/800000 người /năm, trong số đó tỉ lệ HCTB thứ phát chiếm

đa số với nhiễm EBV, sau là nhiễm trùng và lymphoma(8) Tại Đài Loan, nghiên cứu HCTB trong 15 năm (1992 đến 2007) có 32 ca xác nhận HCTB thì không tìm thấy các đột biến về

Ngày đăng: 21/01/2020, 15:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w