1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

So sánh kết quả chẩn đoán cysticercus cellulosae của bộ kit của bộ môn ký sinh trùng và bộ kit của biopharma

6 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 264,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện kỹ thuật ELISA trên 139 mẫu huyết thanh để phát hiện kháng thể kháng Cysticercus cellulosae gồm 32 mẫu huyết thanh của những bệnh nhân mắc bệnh Cysticercus cellulosae, 82 mẫu huyết thanh của những người không mắc bệnh Cysticercus cellulosae, 25 mẫu huyết thanh của những người nhiễm ký sinh trùng khác. Kỹ thuật ELISA có độ nhạy 100% và độ đặc hiệu 96,3%. So sánh kết quả chẩn đoán Cysticercus cellulosae giữa bộ kit của Bộ môn Ký sinh trùng dùng kháng nguyên dịch nang với bộ kit của Biopharma có sự phù hợp cao (Kappa= 0,95).

Trang 1

Phan Anh Tuấn*, Trần Thị Kim Dung*, Trần Thị Thanh Nga**

TÓM TẮT

Thực hiện kỹ thuật ELISA trên 139 mẫu huyết thanh để phát hiện kháng thể kháng Cysticercus cellulosae gồm 32 mẫu huyết thanh của những bệnh nhân mắc bệnh Cysticercus cellulosae, 82 mẫu huyết thanh của những người không mắc bệnh Cysticercus cellulosae, 25 mẫu huyết thanh của những người nhiễm ký sinh trùng khác Kỹ thuật ELISA có độ nhạy 100% và độ đặc hiệu 96,3% So sánh kết quả chẩn đoán Cysticercus cellulosae giữa bộ kit của Bộ môn Ký sinh trùng dùng kháng nguyên dịch nang với bộ kit của Biopharma có sự phù hợp cao (Kappa= 0,95)

SUMMARY

COMPARATIVE EVALUATION OF DEPARMENT OF PARASITOLOGY ’ S KIT AND BIOPHARMA ‘ S FOR THE DIAGNOSIS OF HUMAN CYSTICERCOSIS

Phan Anh Tuan, Tran Thi Kim Dung, Trần Thị Thanh Nga

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 9 * Supplement of No 1 * 2005: 100 – 105

The ELISA with antigen produced by Department of Parasitology- University of Medicine and Pharmacy in Ho Chi Minh City was perform on 139 serum samples; 32 from patients having cysticercosis,

82 from persons not having Cysticercus cellulosae, 25 from patients who infected other parasites Considering all 139 specimens, the ELISA had sensitivity of 100% The specificity was 96,3% Compare betweem the result of ELISA and the kit of Biopharma have high coresspond (Kappa=0,95)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh Cysticercus cellulosae là bệnh do nuốt

trứng thải ra bởi sán trưởng thành Cysticercus

cellulosae có thể gặp ở cơ, ở dưới da ở mắt, ở hệ thần

kinh trung ương Bệnh Cysticercus cellulosae ở dưới

da, cơ được chẩn đoán trực tiếp bằng phương pháp

sinh thiết(1) Bệnh Cysticercus cellulosae ở nội tạng

chẩn đoán khó vì không thể sinh thiết được Người ta

có thể chẩn đoán bệnh bằng hình ảnh học như CT

scanner, MRI nhưng chẩn đoán bằng hình ảnh học

đắt tiền, có độ nhạy thấp, đôi khi khó chẩn đoán phân

biệt với tổn thương do các nguyên nhân khác Xu

hướng ngày nay là dùng phương pháp chẩn đoán

huyết thanh

Tại Bộ môn Ký Sinh trùng, chúng tôi đã điều chế

kháng nguyên từ Cysticercus cellulosae để sử dụng

trong kỹ thuật ELISA chẩn đoán bệnh và so sánh kết

quả chẩn đoán với bộ kit của Biopharma

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thực nghiệm labo

Nguyên vật liệu và dụng cụ Kháng nguyên

Được điều chế từ C cellulosae ở heo bị mắc tự nhiên

Huyết thanh

Có 676 mẫu HT gồm:

+ HT nhóm bệnh C cellulosae (HT chứng

dương): Có 6 mẫu HT của 6 bệnh nhân đã được xác

định bệnh C cellulosae

+ HT nhóm chứng (HT chứng âm)

HT nhóm chứng gồm 43 mẫu của những người

* Bộ môn Ký sinh trùng Đại học Y Dược TP HCM

Trang 2

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

khỏe mạnh

+ HT nhóm bệnh ký sinh trùng khác: gồm 113

mẫu

+ HT nhóm nghi ngờ mắc bệnh ký sinh trùng:

gồm 514

Tất cả các mẫu huyết thanh này được cho thêm

Azid de Natri 0,5% và lưu giữ ở nhiệt độ –20oC

Tiến hành nghiên cứu

- Điều chế KN: gồm 2 loại làø KN dịch nang và KN

mô nang

- Thực hiện kỹ thuật ELISA, đọc kết quả trị số OD

bằng máy đọc ELISA ở bước sóng 450nm

- Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán

dương, giá trị tiên đoán âm của kỹ thuật ELISA

- So sánh kết quả xét nghiệm phát hiện kháng

thể kháng C cellulosae của kỹ thuật ELISA và bộ kit

của Biopharma

KẾT QUẢ

Xác định các thành phần trong kỹ

thuật ELISA

Xác định độ pha loãng cộng hợp

Sau thời gian thử nghiệm, chúng tôi chọn 3 mức

độ pha loãng cộng hợp là 1/10000, 1/20000 và

1/40000 Với từng nồng độ KN và hiệu giá KT, chúng

tôi có đường biểu diễn tỉ số OD+/OD- (OD+: trị số OD

nhóm bệnh, OD-: trị số OD nhóm chứng) theo độ pha

loãng cộng hợp như sau:

0 1 2 3 4 5

1/ 10 0 0 0 1/ 2 0 0 0 0 1/ 4 0 0 0 0

1/100 1/400 1/1600 1/6400 Nồng độ KN 26,25mcg/ml

1/100 1/400 1/1600 1/6400

0 1 2 3 4 5

1/ 10 0 0 0 1/ 2 0 0 0 0 1/ 4 0 0 0 0

Nồng độ KN 10,5mcg/ml

0 1 2 3 4

5

Nồng độ KN 5,25mcg/ml 1/100 1/400 1/1600 1/6400

Biểu đồ 1: Tỉ số OD + /OD - theo hiệu giá kháng thể ở các độ pha loãng cộng hợp

Biểu đồ 1: Tỉ số OD

Cho thấy ở độ pha loãng cộng hợp 1/40000 tỉ số này thấp nhất, ở 1/20000 và 1/10000 tỉ số này tương đương (P>0,05)

Cho thấy ở độ pha loãng cộng hợp 1/40000 tỉ số này thấp nhất, ở 1/20000 và 1/10000 tỉ số này tương đương (P>0,05)

Xác định loại KN

Chúng tôi điều chế KN từ C cellulosae thành 2

loại là KN dịch nang và KN mô nang

Chúng tôi điều chế KN từ C cellulosae thành 2

loại là KN dịch nang và KN mô nang

Thực hiện kỹ thuật ELISA với từng loại KN với các trị số OD đo được, chúng tôi có đường biểu diễn tỉ số OD+/OD- khi sử dụng KN dịch nang và KN mô

Thực hiện kỹ thuật ELISA với từng loại KN với các trị số OD đo được, chúng tôi có đường biểu diễn tỉ số OD

+ /OD - theo hiệu giá kháng thể ở các độ pha loãng cộng hợp

0

1

2

3

4

5

1 / 1 0 0 0 0

1 / 2 0 0 0 0

1 / 4 0 0 0 0

1/100 1/400 1/1600 1/6400

Nồng độ KN 52,5mcg/ml

+/OD- khi sử dụng KN dịch nang và KN mô

Trang 3

Biểu đồ 2: Tỉ số OD + /OD - theo hiệu giá KT khi sử

dụng KN dịch nang và KN mô nang

Xác định nồng độ KN sử dụng và hiệu giá KT

Biểu đồ 3: Tỉ số OD + /OD - theo nồng độ KN và hiệu

giá kháng thể

Xác định ngưỡng OD dương tính

Thực hiện thử nghiệm ELISA với nồng độ KN 5,83 mcg/ml và hiệu giá KT 1/800, độ pha loãng cộng hợp 1/20000 trên 43 mẫu HT nhóm chứng, trị số OD như sau:

- Trị số trung bình (X): 0,164

- Độ lệch chuẩn (SD): 0,009

Trị số OD dương tính được tính:

X + 3SD = 0,164 + (3 x 0,009) = 0,191 Vậy một mẫu HT pha loãng ở hiệu giá1/800 có trị số OD lớn hơn 0,191 được coi là dương tính

Bảng 1: So sánh trị số OD của kỹ thuật ELISA khi

dùng KN dịch nang và KN mô nang với HT bệnh ký sinh trùng khác

KTtừ 1/50 - 1/6400

Dịch nang 0,264 - 0,158

Toxocara spp

Mô nang 0,317 - 0,181 Dịch nang 0,248 - 0,150

Entamoeba histolytica

Mô nang 0,301 - 0,174 Dịch nang 0,256 - 0,167

Strongyloides stercoralis Mô nang 0,305 - 0,163

1/100 1/200 1/400 1/800 1/16001/32001/6400

0 5 1 5 2 2.5 3 3.5 4 5

0.

1.

4.

26,25mcg/ml

1/100 1/400 1/1600 1/6400

0

1

2

3

4

Dịch nang Mô nang

Nồng độ 105 mcg/ml

13,12 mcg/ml 8,75 mcg/ml 6,56 mcg/ml 5,83 mcg/ml 4,37 mcg/ml

1/100 1/400 1/1600 1/6400

Nồng độ 52,5 mcg/ml

0

1

2

3

4

5

Dịch nang Mô nang

3,5 mcg/ml

0

1

2

3

4

5

1/100 1/400 1/1600 1/6400

Nồng độ 10,5 mcg/ml

Dịch nang Mô nang

1/100 1/400 1/1600 1/6400

0

2

4

6

Dịch nang Mô nang

Nồng độ 5,25 mcg/ml

Trang 4

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

KTtừ 1/50 - 1/6400

Dịch nang 0,228 - 0,161

Paragonimus spp

Mô nang 0,312 - 0,194 Dịch nang 0,216 - 0,167

Fasciola spp

Mô nang 0,318 - 0,212 Bảng 1 cho thấy KN dịch nang đặc hiệu hơn

Bảng 2: Kết quả ELISA của các mẫu HT nhóm bệnh,

nhóm chứng, nhóm nghi ngờ mắc bệnh ký sinh trùng

và nhóm các bệnh ký sinh trùng khác

Kết qủa ELISA

Dương tính Aâm tính

Nhóm nghi ngờ mắc bệnh ký

sinh trùng

514 25 489

Nhóm bệnh ký sinh trùng khác gồm113 mẫu:

Strongyloides stercoralis 15 1 14

Viêm màng não do

Cryptococcus spp

2 2

Với 6 mẫu HT nhóm bệnh, thử nghiệm Western

Blot đều dương tính với 2 băng protein có trọng lượng

phân tử 14.300 Dalton và 21.500 Dalton

- Với 43 mẫu HT nhóm chứng, chọn 10 mẫu

ngẫu nhiên: tất cả đều âm tính

- Với 514 mẫu HT nghi ngờ mắc bệnh ký sinh

trùng có:

- 25 mẫu ELISA dương tính trong đó có 2 trường

hợp giải phẫu bệnh lý thấy ấu trùng sán và 23 trường

hợp còn lại làm thử nghiệm Western Blot, tất cả đều

dương tính

- 489 mẫu ELISA âm tính, chúng tôi chọn ngẫu

nhiên 40 mẫu để thử nghiệm bằng kỹ thuật Western Blot, tất cả đều âm tính

Vậy từ 514 mẫu HT của các bệnh nhân nghi ngờ mắc bệnh ký sinh trùng, chúng tôi xác định chẩn đoán được 65 trường hợp gồm 25 trường hợp bệnh và

40 trường hợp không bệnh

- Với 113 mẫu HT bệnh do ký sinh trùng khác có:

- 5 mẫu ELISA dương tính, thử nghiệm kỹ thuật Western - Blot, kết quả:

- 4 mẫu Western Blot âm tính: 4 trường hợp ELISA dương tính giả

- 1 mẫu Toxocara sp có kết quả Western Blot

dương tính Vậy đây là trường hợp đa nhiễm

- 108 mẫu ELISA âm tính, chúng tôi chọn ngẫu nhiên 2 mẫu ở mỗi loại bệnh ký sinh trùng; tổng số

20 mẫu của 10 loại bệnh trên, thử nghiệm với kỹ thuật Western - Blot, tất cả đều âm tính

Như vậy từ 113 trường hợp mắc bệnh do ký sinh trùng khác, bằng kỹ thuật Western Blot, chúng tôi xác định chẩn đoán được 25 trường hợp gồm 1 trường hợp bệnh và 24 trường hợp không bệnh

Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm của kỹ thuật ELISA

Để xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm của kỹ thuật ELISA, tổng hợp 139 mẫu đã xác định chẩn đoán

Bảng 3: Kết quả ELISA của 139 mẫu HT được xác

định chẩn đoán

Bệnh

ELISA

32

32 a

a

=

=

=

c

+

Độ đặc hiệu: 0,963 96,3%

107

103 d b

d

=

=

= +

Trang 5

% 9 , 88 889 , 0 36

+ b

Giá trị tiên đoán âm: 1 100%

103

103 d c

d

=

=

= +

So sánh kết quả xét nghiệm phát hiện

kháng thể kháng C cellulosae của kỹ

thuật ELISA và bộ kit của Biopharma

Chúng tôi đã có kết quả ELISA của 42 mẫu HT

gồm 15 mẫu âm tính và 27 mẫu dương tính Các mẫu

này được làm thử nghiệm tại Bệnh viện Chợ Rẫy với

bộ kit chẩn đoán của Biopharma, kết quả như sau:

Bảng 4: Kết quả xét nghiệm của kỹ thuật ELISA và

bộ kít của Biopharma

Kết quả của bộ kit ELISA

Chỉ số Kappa K = (Po – Pe)/ (1- Pe)

Với Po = (a+d) / N = (15+26) / 42 = 0,976

Pe=((r1s1+r2s2)/N)/N=((15x16+26x27)/42)/42=0,534

K = (0,976 – 0,534)/ (1- 0,534)= 0,95

Chỉ số Kappa: K =0,95; cho thấy kết quả xét

nghiệm của kỹ thuật ELISA với KN dịch nang và bộ

kit của Biopharma có sự phù hợp cao

BÀN LUẬN

Về độ nhạy của kỹ thuật ELISA

Dựa trên dữ kiện 139 mẫu HT thử nghiệm đã

được xác định chẩn đoán, kết quả phân tích theo

bảng 2 x 2 (bảng 3) cho biết kỹ thuật ELISA có độ

nhạy là 100% và độ đặc hiệu là 96,3%, giá trị tiên

đoán dương 88,9%, giá trị tiên đoán âm 100%

Kết quả nghiên cứu của các tác giả khác cho biết

độ nhạy của kỹ thuật ELISA trong chẩn đoán bệnh C

cellulosae từ 88,6% - 100%(3,4,813,14,16) Có sự biến

thiên về độ nhạy có thể do:

nguyên điều chế từ Cysticercus cellulosae, các tác giả

khác đã điều chế kháng nguyên từ các loài khác như

Cysticercus longicollis(2,6)

- Các thành phần của nang sán: Từ nang sán

Cysticercus cellulosae có thể điều chế thành 3 loại

kháng nguyên là kháng nguyên toàn nang, dịch nang và kháng nguyên nội ngoại tiết Theo nghiên cứu của Guo H (1997) và Molinari J L (2002) thì độ nhạy của kỹ thuật ELISA khi dùng KN nội -ngoại tiết từ 51,1%

- 92% (9), (11) Theo các nghiên cứu của Costa J M (1986) và Shiguekawa K Y (2000), khi dùng KN dịch nang thì độ nhạy từ 95% - 100%(3,13), còn các tác giả Costa J M (1986), Dekumyoy P (1998), Silva A D (2000), Gekeler F (2002), Wang K H (1993) dùng

KN ø toàn nang thì độ nhạy từ 85,7% - 100%(3,4,8,14,16)

- Hơn nữa, độ nhạy của kỹ thuật ELISA còn tùy thuộc vào bệnh nhân thử nghiệm Diawan sử dụng cùng một kháng nguyên để chẩn đoán thì thấy độ nhạy của kỹ thuật ELISA là 79% từ các huyết thanh của các bệnh nhân ở Mexico và 61% ở các huyết thanh của các bệnh nhân ở Irian Jaya-Indonesia(5) Độ đặc hiệu của kỹ thuật ELISA trong công trình nghiên cứu này là 96,3% So với các nghiên cứu dùng

KN toàn nang thì độ đặc hiệu của kỹ thuật ELISA từ 75,3% - 100%(3,4,8,13) Ko R C (1998), Molinari J L (2002) dùng chất nội - ngoại tiết làm KN thì kỹ thuật ELISA có độ đặc hiệu từ 97% - 100%(10,11) và Costa (1986), Bueno E C (2000) dùng dịch nang làm KN, độ đặc hiệu từ 90% - 100%(2,3)

Độ đặc hiệu của kỹ thuật ELISA trong các nghiên cứu khác nhau Điều đó có thể là do chất lượng KN và tình trạng mắc bệnh ký sinh trùng khác tại nơi đang nghiên cứu có khác nhau

Về phản ứng chéo

Khi dùng kỹ thuật ELISA thử nghiệm trên các huyết thanh của các bệnh nhân bệnh ký sinh trùng khác cho thấy phản ứng có chéo với các bệnh do

Entamoeba histolytics, Toxocara canis, Strongyloides stercoralis với tỉ lệ thấp (bảng 2)

Trang 6

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

Ngoài phản ứng chéo với Entamoeba histolytics, T

canis theo kết quả nghiên cứu của các tác giả khác,

phản ứng còn chéo với Echinococcus spp, Schistosoma

spp., Ascaris lumbricoides, Trichinella spiralis(4,8,13)

So sánh kết quả chẩn đoán Cysticercus

cellulosae của kỹ thuật ELISA và bộ

kit của Biopharma

Kết quả xét nghiệm phát hiện kháng thể kháng

C cellulosae của kỹ thuật ELISA với kháng nguyên

dịch nang so sánh với bộ kit của Biopharma có sự phù

hợp cao (Kappa= 0,950) (bảng 2.4)

KẾT LUẬN

Kỹ thuật ELISA với kháng nguyên dịch nang là

kỹ thuật có độ nhạy, độ đặc hiệu cao, đáng tin cậy,

thực hiện nhanh và tương đối đơn giản, không cần

những trang thiết bị đắt tiền, có thể thực hiện ở

những phòng thí nghiệm nhỏ và đây là thử nghiệm

rẻ tiền có ích góp phần trong chẩn đoán xác định

bệnh Kết quả xét nghiệm phát hiện kháng thể của

kỹ thuật ELISA với kháng nguyên dịch nang so sánh

với bộ kit của Biopharma có sự phù hợp cao

Tuy nhiên vẫn còn nhiều câu hỏi đặt ra mà kỹ

thuật ELISA chưa trả lời được Trường hợp nào với kết

quả ELISA xác định được rằng bệnh nhân nhiễm

nhiều nang hay ít nang, với kết quả ELISA dương

tính có thể xác định đó là bệnh mới mắc hay bệnh

mãn tính? ELISA dương tính thì có thể nào xác định

bệnh ấu trùng sán dải heo trong giai đoạn tiến triển

hay thoái hóa? Nếu phản ứng dương từ 2 loại kháng

nguyên ký sinh trùng thì đó là đa nhiễm hay chỉ là

phản ứng chéo? Đây là những vấn đề mà chúng tôi sẽ

nghiên cứu trong thời gian tới

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Baily GG (1988), “Serological diagnosis of

neurocysticercosis: evaluation of ELISA tests using

cyst fluid and other components of Taenia solium

cysticerci as antigen”, Trans R Soc Trop Med Hyg, 82

(2), pp 295-299

2 Bueno E.C et al (2000), “Specific Taenia crassiceps

and Taenia solium antigenic peptides for

neurocysticercosis immunodiagnosis using serum

samples”, J Clin Microbiol, 38(1), pp 146-151

3 Costa J M (1986), “Immunoenzymatic test (ELISA) in

the diagnosis of neurocysticercosis: study of various

antigenic extracts in the detection of IgG antibodies

in serum and cerebrospinal fluid samples”, Arq Neuropsiquiatr, 44(1), pp 15-31

4 Dekumyoy P et al (1998) “Use of delipidized antigens

of Taenia solium metacestodes in IgG-ELISA for detection of neurocysticercosis”, Southeast Asian J Trop Med Public Health, 29(3), pp 572-578

5 Diwan A., Coker Vann M., Brown P et al (1982),

“Enzyme-linked immunosorbent assay (ELISA) for the

dection of antibody to cysticerci of Taenia solium”, Am

J Trop Med Hyg, 31, pp 364-369

6 Garcia E., Ordonez G., Sotelo J (1995), “Antigens

from Taenia crassiceps used in complement fixation,

enzyme – linked immunosorbent assay, and Western Blot (immunoblot) for diagnosis of neurocysticercosis,

J Clin Microbiol, 33(12), pp 3324-3325

7 Garcia H H et al (1998), “A specific antigen detection ELISA for the diagnosis of human

neurocysticercosis” Trans Royal Soc Trop Med Hyg,

92, pp 411-414

8 Gekeler F et al (2002), “Sensitivity and Specificity of ELISA and Immunoblot for Diagnosing

Neurocysticercosis”, Eur J Clin Microbiol Infect Dis,

21, pp 227-229

9 Guo H., Zhao Z F., Shi D Z (1997), “A study on the

culture medium antigens of Cysticercus cellulosae for

detecting antibodies of cysticercosis by means of

ELISA”, Southeast Asian J Trop Med Public Health,

28 Suppl 1, pp 125-127

10 Ko RC, Ng TF (1998), “Evaluation of excretory/secretory

products of larval Taenia solium as diagnostic antigens for porcine and human cysticercosis”, Journal of Helminthology, 72, pp 147-154

11 Molinari J L et al (2002), “Discrimination between active and inactive neurocysticercosis by metacestode

excretory/secretory antigens of Taenia solium in an anzyme-linked immunosorbent assay”, Am J Trop Med Hyg, 66(6), pp 777-781

12 Shasha et al (1991), “Sero-epidemiological studies of cysticercosis in school children from two rural areas of

Transkei, South Africa”, Annal of Tropical Medicine and Parasitology, 85, pp 349-355

13 Shiguekawa K.Y et al (2000), “ELISA and Western Blotting tests in the detection of IgG antibodies to

Taenia solium metacestodes in serum samples in human neurocysticercosis”, Trop Med Int Health, 5(6),

pp 443-449

14 Silva A D et al (2000), “A quantitative enzyme-linked immunosorbent assay (ELISA) for the immunodiagnosis of neurocysticercosis using a purified

fraction from Taenia solium cysticerci”, Diagn Microbiol Infect Dis., 37(2), pp 87-92

15 Sloan L., Schneider S., Rosenblatt J (1995),

“Evaluation of enzyme – linked immunoassay for

serological diagnosis of cysticercosis”, J Clin Microbiol, 33(120), pp 3124-3128

16 Wang K H., Xu Z Y., Zeng D K (1993),

“Comparative study on antigens of Cysticercus

cellulosae by EITB and ELISA”, Chin J Parasitol Parasit Dis, 11, pp 53-5

Ngày đăng: 21/01/2020, 15:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm